Đăng nhập

Luyện tập

Câu 1
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Văn bản "Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng" thuộc thể loại nào?

Nghị luận văn học.
Thơ trào phúng.
Truyện ngắn.
Nghị luận xã hội.
Câu 2
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Theo văn bản, đối tượng miêu tả chủ yếu của văn bản thơ trào phúng là gì?

Sự bất toàn của con người và cuộc sống.
Những cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp.
Những hiện tượng kì ảo trong thế giới tưởng tượng.
Vẻ đẹp hoàn thiện của con người và cuộc sống.
Câu 3
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Văn bản đề cập đến những giọng điệu cơ bản nào của tiếng cười trong thơ trào phúng?

Hài hước, trữ tình, bi thương.
Hài hước, mỉa mai, đả kích.
Mỉa mai, ngợi ca, cảm thông.
Hài hước, đả kích, tự sự.
Câu 4
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Đặc điểm nổi bật của giọng điệu hài hước là gì?

Phủ nhận gay gắt đối tượng bằng ngôn từ quyết liệt.
Ca ngợi trực tiếp vẻ đẹp của con người.
Chế nhạo lối sống khác biệt của người khác.
Đùa cợt nhẹ nhàng, phá vỡ những khuôn khổ quen thuộc.
Câu 5
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Trong văn bản, tác giả sử dụng bài thơ nào sau đây được sử dụng làm dẫn chứng cho giọng điệu hài hước?

Tự trào I – Phạm Thái.
Hỏi thăm quan tuần mất cướp – Nguyễn Khuyến.
Đất Vị Hoàng – Trần Tế Xương.
Nha lệ thương dân – Kép Trà.
Câu 6
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Giọng điệu mỉa mai – châm biếm thường được tạo ra bằng cách nào?

Bộc lộ trực tiếp nỗi buồn của tác giả trước cuộc sống.
Sử dụng những lời ngợi ca chân thành về một vấn đề.
Miêu tả hiện thực một cách khách quan, không bộc lộ thái độ nhà văn.
Tạo ra những yếu tố vô lí, thiếu logic hoặc đảo lộn trật tự thông thường.
Câu 7
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Bài thơ Nha lệ thương dân của Kép Trà sử dụng nổi bật lối nói nào?

Nói bóng gió để bày tỏ tình cảm.
Nói quá để ngợi ca.
Nói giảm, nói tránh.
Nói ngược (phản ngữ).
Câu 8
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Đặc điểm nổi bật của giọng điệu đả kích là gì?

Miêu tả sự vật bằng giọng điệu trung lập, lưng chừng.
Khen ngợi kín đáo những phẩm chất tốt đẹp.
Đùa cợt, mỉa mai, mang tính giải trí.
Phủ nhận gay gắt đối tượng bằng ngôn từ quyết liệt.
Câu 9
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Bài thơ Đất Vị Hoàng sử dụng kiểu kết cấu nào?

Kết cấu đối thoại.
Đầu cuối tương phản.
Thủ vĩ ngâm.
Kết cấu đảo ngược thời gian.
Câu 10
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Theo tác giả, mục đích tốt đẹp của tiếng cười trào phúng là gì?

Tạo ra những tác phẩm nhằm mục đích giải trí, mua vui cho độc giả
Giúp con người quên đi mọi khó khăn trong cuộc sống.
Đẩy lùi cái xấu, hướng con người đến những giá trị cao đẹp hơn.
Phê phán những điều khác biệt, đi ngược với chuẩn mực trong xã hội.
Câu 11
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Luận đề của văn bản Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng là gì?

Những đặc điểm nghệ thuật của các bài thơ trào phúng nổi tiếng.
Những đặc điểm nổi bật của thơ ca Việt Nam thời trung đại.
Vai trò của tiếng cười trong đời sống tinh thần của con người.
Một số giọng điệu của tiếng cười và giá trị của chúng trong thơ trào phúng.
Câu 12
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Phần mở đầu của văn bản Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng giới thiệu nội dung gì?

Giới thiệu thơ trào phúng và một số giọng điệu của thơ trào phúng.
Đặc điểm của từng giọng điệu tiếng cười trong thơ trào phúng.
Nguồn gốc và quá trình phát triển của thơ trào phúng Việt Nam.
Vai trò và ý nghĩa của tiếng cười trào phúng đối với đời sống con người.
Câu 13
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Nhận xét nào sau đây phù hợp nhất về cách dẫn dắt vấn đề nghị luận trong phần mở đầu của văn bản?

Mở đầu bằng một câu chuyện cụ thể rồi từ đó rút ra nhận định khái quát.
Bắt đầu bằng việc phân tích tác phẩm thơ trào phúng rồi khái quát thành vấn đề nghị luận.
Nêu những quan điểm trái chiều rồi đưa ra ý kiến nhằm bác bỏ từng quan điểm.
Đi từ đặc điểm chung của thơ trào phúng đến việc giới thiệu các giọng điệu tiếng cười.
Câu 14
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Tác giả đưa bài thơ Tự trào I của Phạm Thái vào văn bản nhằm mục đích chủ yếu nào?

Cung cấp bằng chứng cụ thể làm sáng tỏ đặc điểm của giọng điệu hài hước.
Giới thiệu phong cách sá
ng tác của tất cả các nhà thơ trung đại.
Làm rõ cuộc đời và những biến cố lịch sử mà Phạm Thái trải qua.
Chứng minh thơ trào phúng thường sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú.
Câu 15
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Vì sao tác giả lựa chọn tình huống "quan tuần mất cướp" làm bằng chứng khi bàn về giọng điệu mỉa mai – châm biếm?

Tạo ra sự trái ngược giữa trách nhiệm của quan tuần và hoàn cảnh thực tế.
Phản ánh sự bất công và những khó khăn của người dân trong xã hội xưa.
Cho thấy sự dũng cảm và bản lĩnh của một vị quan trước bọn cướp.
Thể hiện sự yếu kém trong việc tổ chức và quản lí của bộ máy quan lại.
Câu 16
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Trong phần bàn về giọng điệu mỉa mai – châm biếm, việc sử dụng cả hai bài thơ Hỏi thăm quan tuần mất cướp và Nha lệ thương dân có tác dụng gì?

Khẳng định hai nhà thơ có cùng quan điểm về tất cả các vấn đề xã hội.
Làm rõ những cách biểu hiện khác nhau của giọng điệu mỉa mai – châm biếm.
Cho thấy thơ trào phúng chỉ hướng đến việc phê phán tầng lớp quan lại.
Chứng minh hai bài thơ có nội dung và nghệ thuật hoàn toàn giống nhau.
Câu 17
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Nhận xét nào sau đây phù hợp nhất về cách tác giả sử dụng bằng chứng trong văn bản?

Được đưa ra nhằm thay thế hoàn toàn những lí lẽ của người viết.
Phù hợp với từng luận điểm và được phân tích để làm rõ vấn đề nghị luận
Chủ yếu được sử dụng để giới thiệu tiểu sử và cuộc đời của các nhà thơ.
Được sắp xếp theo thời gian sáng tác để thể hiện tiến trình lịch sử văn học.
Câu 18
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Nội dung chính của đoạn văn cuối trong văn bản Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng là gì?

Khẳng định sự phong phú của tiếng cười trào phúng và ý nghĩa tốt đẹp của tiếng cười đối với cuộc sống.
Đánh giá những thành tựu của thơ trào phúng và đóng góp của các nhà thơ đối với nền văn học.
Nhấn mạnh sự khác biệt giữa tiếng cười trào phúng trong văn học trung đại và văn học hiện đại.
Khái quát những đặc điểm nghệ thuật nổi bật trong các bài thơ trào phúng được tác giả phân tích.
Câu 19
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Đoạn kết có mối quan hệ như thế nào với những đoạn đã được triển khai trong phần thân bài?

Bổ sung một vấn đề nghị luận mới về vai trò của tiếng cười trong đời sống hiện đại.
Tổng hợp lại nội dung và khẳng định ý nghĩa chung của tiếng cười trào phúng.
Đưa ra những bằng chứng mới nhằm chứng minh tính đa dạng của thơ trào phúng.
Bác bỏ những nhận định đã trình bày về giọng điệu của tiếng cười trào phúng.
Câu 20
1đ

MỘT SỐ GIỌNG ĐIỆU CỦA TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả, thể hiện của nó là sự bất toàn của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích,…

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.

Dăm bảy câu thơ, gầy gối hạc,

Vài ba đứa trẻ, béo răng nghê.

Tranh vờn sơn thủy, màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền khôn, giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.

(Phạm Thái, Tự trào I)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng đối theo lối chế giễu (gầy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be) đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu; và chuyển hóa nỗi buồn thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất, sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,… Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống trớ trêu của "quan tuần" mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.

Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới sẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông!

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai "quan tuần mất cướp" đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và đáng cười của ông quan này. Khai thác "tai nạn" bất thường, vô lí xảy ra với một ông quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự – vừa giàu có kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn; làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp nhận; tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng "chiêm khê mùa thối" liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng "quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,

Thương dân nha lệ dốc lòng lo,

Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,

Mới bắt trâu xong lại bắt bò.

Mấy xã Bạch Sam anh lệ nuốt,

Trăm phu Chuyên Nghiệp chú thừa no.

Còn đê, còn nước, dân còn khổ,

Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò.

(Kép Trà, Nha lệ thương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả như khen ngợi "nha lệ thương dân", "dốc lòng" lo cứu dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ đê, nước lụt; song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3 – 4) và luận (5 – 6) đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám nha lệ đó. Chúng "thương dân" bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể là những hình thức ngôn từ mang tính "mắng chửi" quyết liệt, có phần suồng sã, thô mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng.

Keo cú, người đâu như cứt sắt

Tham lam, chuyện thở rặt hơi đồng

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm "vòng xoay bế tắc" đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau (con khinh bố, vợ chửi chồng); xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ẩn đằng sau tiếng cười đả kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ thông qua ba "câu hỏi" được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). tuy nhiên, với giọng đả kích và ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.

(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Nhận xét nào dưới đây phù hợp nhất về lí lẽ và bằng chứng trong phần thân bài của văn bản?

Lí lẽ tập trung đánh giá các nhà thơ, còn bằng chứng nhằm giới thiệu hoàn cảnh sáng tác tác phẩm.
Lí lẽ dùng để giải thích lịch sử văn học, còn bằng chứng nhằm so sánh các thể thơ khác nhau.
Lí lẽ chủ yếu thể hiện cảm xúc cá nhân, còn bằng chứng nhằm tái hiện lại nội dung các bài thơ.
Lí lẽ làm rõ đặc điểm các giọng điệu, còn bằng chứng được phân tích để chứng minh cho các giọng điệu.