Đề tham khảo số 06 (Công văn 7991)
Đọc văn bản sau:
SAU CƠN LŨ
(Kim Hài(*))
Trời xanh trong. Mặt trời như đang đổ lửa xuống ruộng đồng, người, vật. [...]
Mồ hôi tươm đầy trán, Dong cởi trần, đánh vật với đống sách vở bề bộn trên sàn nhà. Chỉ còn ba hôm nữa là khai trường. Dong vừa nhận được sách nhà trường cho mượn dùng trong niên học mới. Quyển nào cũng cũ, nhàu nát vì đã qua tay nhiều học sinh. Vì vậy, Dong phải quấy hồ, dán lại những chỗ rách rồi bao cẩn thận.
– Anh Cả, cho Tèo cái nhãn vở nhé?
Dong chưa kịp ngẩng đầu lên, thằng Tèo đã nhanh như chớp, chộp cái nhãn vở, bỏ chạy. [...] Thằng Tèo vẫn bỏ chạy. Nhưng chỉ một thoáng sau. Nó quẳng trả tờ nhãn, giờ đã nhăn nhúm rách mép. Giận quá, Dong quay lại. Thuận tay, tát em một cái thật mạnh. Thằng Tèo lảo đảo ngẩng nhìn anh rồi oà lên khóc.
Mẹ đã vào tới nơi. Thằng Tèo càng khóc to hơn.
– Anh Cả đánh con.
Dong ngừng tay phân bua:
– Nó nghịch quá, làm rách cả nhãn. Mai mốt nhập học rồi, làm đâu kịp.
Mẹ ôn tồn trách Dong:
– Sao con lại đánh em? Có gì thì bảo ban em từ từ. Đừng đánh nhau. Mẹ buồn. Con lớn rồi chứ nhỏ nhít gì?
Dong thấy tưng tức vì Tèo lỗi mà mẹ lại bênh. Dong cau mặt cúi xuống lầm bầm:
– Mẹ cứ bênh đi, hèn chi nó hư không ai ưa nổi!
Mẹ đã kéo thằng Tèo ra giếng. Dong thu dọn sách vở. Trời nóng quá lại bị bực mình nên không muốn làm tiếp. Giờ này mà ra sông tắm thì thích nhất.
(Lược một đoạn: Dong bỏ ra sông Nậm La tắm rồi trở về nhà. Chiều hôm ấy, trời bắt đầu nổi sấm, gió thổi và mây kéo đến. Mưa lớn trút xuống, nước lũ nhanh chóng dâng cao, khiến cả gia đình phải trèo lên mái nhà tránh lũ.)
Bình minh đến càng làm lộ rõ những đau thương và khủng khiếp. Dong nhìn quanh và ý thức được sự việc đáng sợ đến dường nào. Xung quanh nhà, không còn đường xá, vườn tược mà là một bể nước mênh mông vô tận. Nước tràn qua các chỗ trũng tạo thành những dòng xoáy, bứt gốc cây cối, mang luôn cả nhà cửa đồ đạc, thú vật trôi đi trong dòng xoáy đỏ đục. Những căn nhà như những hòn đảo nổi, lềnh bềnh. Tiếng kêu cứu, tiếng la khóc vang lên từng chặp. Mẹ khóc lặng lẽ. Thằng Tèo giương cặp mắt sưng húp hoảng loạn nhìn. Bố phờ phạc loay hoay tìm cách thoát khỏi tai nạn. Dong không còn nghĩ được điều gì. Tim thắt lại từng hồi khi thấy mức nước nhích dần lên từng viên gạch một. Mưa lại bắt đầu tuôn mạnh, cả gió nữa. Mẹ nói lạc giọng:
– Cũng đến chết mất!
Bỗng bố la lên, giọng khàn khàn nhưng vang lớn:
– Cứu chúng tôi với, cứu chúng tôi với!
Bất chợt, Dong cũng la theo với những âm thanh tắt cứng trong cổ họng:
– Cứu với... Cứu với...
*
* *
Cơn lũ đã rút đi để lại một cảnh hoang tàn đổ nát kỳ dị. [...] Nhà Dong chỉ còn cái sườn và bốn bức tường. Cả khu vườn, chuồng heo, chuồng gà không còn dấu vết.
(Lược một đoạn: Sau trận lũ, gia đình Dong mất gần như toàn bộ tài sản. Bố mẹ và Dong phải dọn dẹp đống đổ nát để có chỗ ở. Mọi thứ trong nhà đều bị nước lũ cuốn trôi, kể cả sách vở và đồ dùng học tập của hai anh em.)
Và khi tất cả đã tạm yên. Dong buồn bã nhìn kệ vở ở góc trong cạnh giường: trống trơn, không sách, không vở, không bút mực. Ngày khai trường đã qua rồi. Vùng bị lũ sẽ có một ngày khai trường khác. [...] Lũ đã cuốn trôi tất cả.
Bên kia sông, ngôi trường nhờ ở trên ngọn đồi cao nên vẫn còn nguyên với mái ngói đỏ. Nay mai, bố sẽ đem về vài cuốn sách, tập viết. Dong sẽ nhường cho em, sẽ bao vở, làm nhãn và dắt em qua cầu sông Nậm, đưa em vào lớp. Còn Dong với cảnh nhà, chắc niên học nầy khó có thể đến trường. Những dự định tiêu tan. Ngày khai trường trở nên xa xôi không riêng cho mình Dong mà rất nhiều bạn bè cùng tuổi.
Đâu đây, hình như có tiếng trống đổ dồn giục giã. [...] Nhưng lũ rồi đã ngưng. Ngôi trường vẫn còn đó. Một ngày nào, Dong sẽ trở lại trường, cũng giống như bây giờ, gia đình Dong trở về nhà. Miễn sao trường không bị cuốn trôi trong cơn lụt dữ. Dong quệt nước mắt. Trên mặt nước đục ngầu của dòng sông Nậm, những trang vở nhoè nhoẹt của ai đang lừ đừ trôi. Dong dùng thanh tre dài vớt lên, nhìn và khóc.
(Nhiều tác giả, Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi, tập 1, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2008)
Chú thích:
(*)Nhà văn Kim Hài tên thật là Đào Thị Thái, sinh ngày 27 tháng 12 năm 1946 tại Hội An (nay thuộc thành phố Đà Nẵng), hiện là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và Hội viên Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh.
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể được sử dụng trong tác phẩm.
Câu 2 (0,5 điểm). Sau trận lũ, vì sao Dong khó có thể đến trường trong năm học ấy?
Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu sau: Dong chưa kịp ngẩng đầu lên, thằng Tèo đã nhanh như chớp, chộp cái nhãn vở, bỏ chạy.
Câu 4 (1,0 điểm). Nhân vật Dong có những thay đổi nào về tâm trạng từ đầu đến cuối truyện? Sự thay đổi ấy góp phần thể hiện điều gì về nhân vật?
Câu 5 (1,0 điểm). Qua câu chuyện trong văn bản, em có suy nghĩ gì về việc giữ gìn ước mơ trong hoàn cảnh khó khăn? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)
Câu 1. Tác phẩm được kể theo ngôi thứ ba.
Câu 2.
Sau trận lũ, Dong khó có thể đến trường trong năm học ấy bởi vì gia đình Dong mất gần như toàn bộ tài sản, hoàn cảnh trở nên rất khó khăn. Không chỉ vậy, sách vở và đồ dùng học tập cũng đã bị nước lũ cuốn trôi.
Câu 3.
− Biện pháp tu từ so sánh: "nhanh như chớp", so sánh tốc độ của Tèo với tốc độ của tia chớp.
− Tác dụng:
+ Về mặt hình thức: Cách so sánh tạo cách diễn đạt sinh động, nhịp câu nhanh, phù hợp với hành động bất ngờ của Tèo.
+ Về mặt nội dung: Nhấn mạnh hành động của Tèo rất nhanh và tinh nghịch; qua đó làm cho tình huống giữa hai anh em trở nên tự nhiên, sinh động.
Câu 4.
Thay đổi về tâm trạng của nhân vật Dong:
− Ban đầu, Dong bận rộn chuẩn bị sách vở, dễ nóng giận khi bị em quấy phá và bị mẹ trách.
− Khi lũ xảy ra, Dong sợ hãi, hoảng loạn và nhận thức rõ sự khủng khiếp của thiên tai.
− Sau trận lũ, Dong buồn bã, đau xót vì mất sách vở và có nguy cơ không được đến trường; tuy vậy, em vẫn giữ niềm hi vọng sẽ trở lại trường.
➜ Sự thay đổi tâm trạng của Dong làm nhân vật được khắc hoạ chân thực, đồng thời cho thấy sự trưởng thành trong nhận thức và tình cảm của nhân vật sau biến cố.
Câu 5.
− Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.
− Đáp án tham khảo:
+ Trong hoàn cảnh khó khăn, ước mơ giúp con người không bị khuất phục bởi nghịch cảnh, trở thành động lực giúp con người giữ vững niềm tin và hướng về phía trước
+ Mỗi người cần biết trân trọng ước mơ, kiên trì theo đuổi và từng bước biến ước mơ thành hiện thức.
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm xúc của em về bức tranh chợ quê được tái hiện trong bài thơ "Chợ quê" (Nguyễn Đức Mậu).
CHỢ QUÊ
Chợ quê họp ở bờ đê
Nắng thì đội nón, mưa về áo mua
Chợ quê bán những rau dưa
Lá trầu mới hái, chuối vừa chín cây
Chợ quê bán thúng khoai đầy
Bán đôi lợn giống, bán bầy gà con
Ruộng vườn mưa nắng héo hon
Mẹ già áo vá chắt bòn từng xu
Chợ quê có bác xẩm mù
Lần theo dấu gậy hát ru não lòng
(Nguyễn Đức Mậu)
Câu 2.
Trong truyện "Sau cơn lũ" (Kim Hài), nhân vật Dong phải đối diện với những mất mát lớn sau thiên tai. Tuy vậy, cậu vẫn nuôi hi vọng về ngày được trở lại trường. Từ câu chuyện của Dong, ta hiểu rằng khó khăn có thể khiến con người buồn đau nhưng không nên làm mất đi niềm tin vào ngày mai.
Từ gợi mở trên, viết bài văn (khoảng 400 chữ) kể lại một trải nghiệm em đã vượt qua khó khăn trong cuộc sống.
Câu 1.
Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề; bảo đảm yêu cầu về hình thức, nội dung, dung lượng và sử dụng bằng chứng.
− Xác định đúng vấn đề: Cảm xúc về bức tranh chợ quê được tái hiện trong bài thơ "Chợ quê" (Nguyễn Đức Mậu).
− Có thể triển khai đoạn văn theo nhiều cách khác nhau nhưng cần thể hiện được những cảm xúc, suy nghĩ về vẻ đẹp mộc mạc, bình dị của chợ quê, tình yêu quê hương và sự đồng cảm với những con người lao động được gợi lên từ bài thơ.
− Dung lượng đoạn văn: Khoảng 200 chữ.
− Bằng chứng: Kết hợp cảm xúc, suy nghĩ với các hình ảnh, chi tiết trong bài thơ.
b. Yêu cầu cụ thể (1,5 điểm): Triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí, thể hiện được những cảm xúc, suy nghĩ phù hợp về bài thơ.
− Ý 1. Thân thương, thích thú trước vẻ đẹp mộc mạc, gần gũi của chợ quê.
+ Hình ảnh "Chợ quê họp ở bờ đê" gợi một không gian quen thuộc, bình dị của làng quê.
+ Những sản vật dân dã như "rau dưa", "Lá trầu mới hái", "chuối vừa chín cây", "thúng khoai đầy", "đôi lợn giống", "bầy gà con" làm bức tranh chợ quê hiện lên phong phú, đậm đà hương vị cuộc sống.
➞ Bài thơ gợi tình yêu và sự trân trọng đối với vẻ đẹp giản dị, thân thuộc của quê hương.
− Ý 2. Xúc động, thương cảm trước những cảnh đời nhọc nhằn trong phiên chợ.
+ Hình ảnh "Ruộng vườn mưa nắng héo hon/ Mẹ già áo vá chắt bòn từng xu" gợi cuộc sống còn nhiều khó khăn, vất vả của người lao động quê.
+ Hình ảnh "bác xẩm mù/ Lần theo dấu gậy hát ru não lòng" tạo nên một nốt trầm trong bức tranh chợ quê, khơi dậy niềm thương cảm trước một số phận kém may mắn.
➞ Bức tranh chợ quê không chỉ có vẻ đẹp bình dị mà còn chứa đựng những nỗi nhọc nhằn của con người.
− Ý 3. Ấn tượng trước cách thể hiện chân thực, giàu sức gợi của bài thơ.
+ Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát, nhịp điệu mềm mại, gần gũi, mang âm hưởng dân gian, phù hợp với việc tái hiện cảnh sinh hoạt quen thuộc của làng quê.
+ Yếu tố tự sự được thể hiện qua việc lần lượt kể về nơi họp chợ, những thứ được bán và những con người xuất hiện trong phiên chợ; yếu tố miêu tả được thể hiện qua những hình ảnh cụ thể về sản vật, cảnh vật và con người như "rau dưa", "bầy gà con", "mẹ già áo vá", "bác xẩm mù". Sự kết hợp ấy giúp bức tranh chợ quê trở nên chân thực, sinh động và giàu cảm xúc.
➜ Bài thơ đem đến cảm xúc thân thương, trìu mến trước vẻ đẹp mộc mạc của chợ quê; đồng thời khơi dậy tình yêu quê hương và sự cảm thông, trân trọng đối với những con người bình dị trong cuộc sống.
Câu 2.
Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng đối tượng và yêu cầu của đề; bảo đảm yêu cầu về ngôn ngữ, đúng phương thức biểu đạt.
− Xác định đúng yêu cầu: Kể lại một trải nghiệm bản thân đã vượt qua khó khăn trong cuộc sống.
− Bảo đảm yêu cầu về dung lượng bài văn: Khoảng 400 chữ.
− Bài viết có bố cục rõ ràng; sử dụng phương thức tự sự là chính, kết hợp phù hợp với miêu tả, biểu cảm; lựa chọn những chi tiết tiêu biểu để làm nổi bật khó khăn đã trải qua, quá trình vượt qua khó khăn và bài học rút ra từ trải nghiệm.
b. Yêu cầu cụ thể (3,5 điểm): Cần triển khai bài viết theo bố cục hợp lí, sử dụng phù hợp các kĩ năng kể chuyện. Có thể triển khai theo hướng sau:
b1. Viết được mở bài và kết bài:
− Mở bài: Giới thiệu khái quát về một trải nghiệm đáng nhớ khi bản thân phải đối diện với khó khăn trong cuộc sống; có thể nêu hoàn cảnh xảy ra sự việc và ấn tượng ban đầu về trải nghiệm.
− Kết bài: Nêu cảm xúc, suy nghĩ sau trải nghiệm; khẳng định ý nghĩa của việc kiên trì, nỗ lực và giữ niềm tin khi gặp khó khăn.
b2. Kể lại trải nghiệm đã vượt qua khó khăn trong cuộc sống:
b2.1. Giới thiệu hoàn cảnh xảy ra trải nghiệm:
− Ý 1) Nêu thời gian, địa điểm và hoàn cảnh dẫn đến khó khăn; có thể kể về một lần gặp trở ngại trong học tập, tham gia hoạt động tập thể hoặc thực hiện một công việc được giao.
− Ý 2) Giới thiệu khó khăn bản thân phải đối diện và những ảnh hưởng ban đầu đến công việc, suy nghĩ, cảm xúc; thể hiện sự lo lắng, buồn bã, thất vọng hoặc thiếu tự tin trước thử thách.
b2.2. Kể lại quá trình đối diện và vượt qua khó khăn:
− Ý 1) Kể những sự việc xảy ra khi bản thân đối diện với khó khăn; làm rõ những trở ngại gặp phải và cách bản thân suy nghĩ, tìm hướng giải quyết.
− Ý 2) Kể những việc đã làm để vượt qua khó khăn: bình tĩnh tìm cách khắc phục, kiên trì luyện tập, chủ động nhờ thầy cô, cha mẹ hoặc bạn bè giúp đỡ; kết hợp miêu tả hành động, lời nói và cảm xúc để câu chuyện sinh động, chân thực.
b2.3. Kể lại kết quả sau khi vượt qua khó khăn:
− Ý 1) Nêu kết quả đạt được sau quá trình cố gắng; làm rõ sự thay đổi trong hoàn cảnh hoặc khả năng giải quyết vấn đề của bản thân.
− Ý 2) Thể hiện cảm xúc khi vượt qua thử thách: vui mừng, nhẹ nhõm, tự tin hoặc xúc động; có thể kể thêm phản ứng của những người xung quanh để làm nổi bật ý nghĩa của kết quả đạt được.
b2.4. Nêu suy nghĩ, bài học từ trải nghiệm:
− Ý 1) Trải nghiệm giúp bản thân hiểu rằng khó khăn là điều có thể xảy ra trong cuộc sống; cần bình tĩnh đối diện, không dễ dàng bỏ cuộc và luôn tin tưởng vào khả năng của mình.
− Ý 2) Nhận ra giá trị của sự kiên trì, nỗ lực và sự giúp đỡ từ những người xung quanh; từ đó có thêm kinh nghiệm, nghị lực để vượt qua những thử thách trong tương lai.