Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề số 3 SVIP
Đọc văn bản sau.
KHÔNG MỘT TIẾNG VANG
(Tóm tắt vở kịch: Vở kịch tái hiện bối cảnh cuộc sống khốn cùng của người dân trước Cách mạng tháng Tám, dưới thời Pháp thuộc. Nhà ông lão mù trước kia vốn thuộc bậc trung lưu, đang sống trong yên ấm thì một trận hoả hoạn xảy ra, khiến người vợ bị chết cháy, người chồng bị bỏng nặng, mù hai con mắt, gia đình rơi vào cảnh tán gia bại sản. Ông lão mù và vợ chồng người con trai phải mướn nhà của lão Thông Xạ để ở, kiếm ăn độ nhật qua ngày. Do thiếu tiền thuê nhà nên lão Thông Xạ năm lần bảy lượt đến đòi nợ và doạ sẽ đuổi cả nhà ra đường nếu không trả đủ tiền. Hôm ấy, lão Thông Xạ lại đến. Ông lão mù hẹn khi con dâu và con trai đi làm về sẽ gắng trả. Nhưng cô con dâu đi bán bánh trên tàu thì bị nhân viên soát vé đổ mất hàng, người con trai đi làm thì bị cai ăn chặn tiền lương. Nhà hết gạo, thuốc bệnh cho ông bố mù loà cũng hết, ngày mai giỗ bà mẹ mà chưa biết lấy gì để cúng đơm. Lão Thông Xạ nhất quyết sẽ quay lại và không cho khất nợ thêm nữa. Cả gia đình rơi vào tình cảnh tuyệt vọng. Anh con trai phẫn uất làm càn, đi ăn trộm bị cảnh sát bắt. Ông lão mù tủi cực, nhân lúc cô con dâu đi ra ngoài, đã thắt cổ tự vẫn để không trở thành gánh nặng cho hai con. Cô con dâu trở về thấy cảnh tượng đó, ngã vật xuống đất, thái dương đập vào hòn đá mà ông bố dùng để chặn cửa, chết theo.)
CẢNH I
Ông lão loà, chị cả Thuận, anh cả Thuận.
ÔNG LÃO – Thế chốc nữa lão Thông Xạ nó quay xe lại thì biết nói thế nào với nó đây? Thôi hai con nghe thầy, nên lánh mặt nó đi, cứ để thầy ở nhà một mình, thầy tìm cách khất khứa với nó, hoạ may nó thấy mù loà, ốm yếu, nó có động lòng thương chăng…
CHỊ CẢ – Lão ấy nó còn thương ai. Nếu nó có lòng thương người, nó đã chẳng xử với mình đến thế.
ÔNG LÃO – Chả hơn cả ba bố con ngồi trơ ra đây mà tiền không có trả nó, để điên tiết lên nó thẳng tay quăng đồ đạc ra đường hoặc gọi đội xếp thưa bắt hai chúng mày về bóp thì có phải khổ cả không…
CHỊ CẢ – Nào, thế cậu định ra sao đây?
ANH CẢ – Định à? Chỉ còn một sống một chết, muốn đằng nào thì muốn, chứ sống ngắc ngoải thì không nên sống. Bàn đến kế tránh mặt nó đi thì không xong rồi. Liệu có tránh được mãi không? Dẫu nó không thưa để mình phải vào bóp mà chỉ vứt đồ ra đường, thì tôi cũng không còn bụng dạ nào làm ăn gì nữa… Ruột gan tôi có phải sắt đá đâu? Giời ơi, nghĩ đến vợ đang dắt bố già lang thang đầu đường xó chợ mà vẫn thản nhiên đi làm cho thằng khác ăn, có là con vật không thương yêu ai, dại như chó thì mới thế được. Mà đi làm về thì ăn vào đâu? Không được ăn mà vẫn đi làm à? Đây này, tôi bây giờ chán cả mọi sự rồi, đi làm tôi cũng không thiết nữa. Phải biết thời buổi này mới được. Tôi mà vô gia cư, tất không thoát tù tội. Vợ tôi mà vô gia cư, tất không thoát được lục sì. Ông mà vô gia cư, rồi người ta sẽ nhét ông vào bọn ăn mày ngoại ô. Sống ngắc ngoải thế này mà vẫn còn tưởng sống.
CHỊ CẢ – Nông nỗi đã thế này, chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?
[…]
ANH CẢ – [...] Ăn ở hiền hậu mà cứ vận hạn mãi… Đến thế mà còn tin được Giời, Phật nữa à? (thất vọng). […] Giời Phật, có để làm gì, hở? Có phải chỉ để làm bù nhìn mặc cho loài người chúng nó ăn thịt nhau, thằng nào xỏ lá, bất nhân, lắm ngón xoay tiền thì được vợ đẹp, con khôn, lên xe xuống ngựa; còn người hiền lành thật thà thì bị lợi dụng, bị đè nén, bị hắt hủi, kiếm chẳng đủ áo mặc cơm ăn có phải không? Có Giời, có Phật mà đến thế à? Không có Giời, Phật nào cả. Hoặc có Giời, có Phật nhưng Giời, Phật không đủ quyền phép thiêng liêng, không công minh, không đáng cho ai kính thờ! Bây giờ ấy à? Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật, chỉ có đồng tiền là đáng kính thờ vì nó sai khiến được mọi người, ai ai cũng phải kính thờ nó mới sống được. Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền! Giời Phật à? Còn kém đồng tiền!
ÔNG LÃO (không nói được nữa, chỉ kêu) – Ôi giời ơi! Để tôi chết đi cho rảnh! Cho tôi chết đi!
CHỊ CẢ (tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau) – Cậu cứ ở nhà với thầy, tôi đi đằng này một lát.
ANH CẢ – Định xách chậu đi đâu thế?
CHỊ CẢ – Để lại cho bác phó. Hôm nọ sang chơi, bác ta có ý muốn mua lại, bây giờ tôi đem sang lấy vài hào về mua bát cháo với lọ dầu cho thầy. Thầy bảo cồn ruột chắc chỉ vì đói quá.
ANH CẢ – Này, gượm! Người ta bảo đã mà lại. Lúc nãy tôi tạt chơi bên ấy rồi. Hiện bây giờ thằng bé con đang lên sởi, hai vợ chồng chạy thuốc đã méo mặt cả, mua bán gì? Chính tôi cũng còn nợ người ta năm hào mà chưa trả được, lúc nãy vào khất đấy…
CHỊ CẢ (thất vọng đờ đẫn cả người, ra ngồi đắp chiếu cho bố) – ...
ÔNG LÃO (nằm trong chiếu, vẫn quằn quại kêu rên) – Ôi giời đất ơi, ôi giời đất ơi!
ANH CẢ (ứa nước mắt, vùng đứng lên rảo bước ra đến cửa, dừng chân ngẫm nghĩ một lát, quay lại nhìn ông bố, rồi đẩy tung cửa ra đi) – ...
CHỊ CẢ (đang gục mặt, ngẩng lên nhìn rồi hốt hoảng, vùng dậy chạy theo) – Giời ơi! Cậu lại định đi đâu… Cậu! Cậu… Giời ơi, thầy ơi thầy, rõ khổ chưa!
ÔNG LÃO (tung đống chiếu ra, lật đật ngồi lên gọi) – Ới cả! Ới Thuận! (vùng lên chạy ba bước, rồi lả người đi) Con mau chạy theo gọi nó lại cho thầy (ngã gục xuống đất).
CHỊ CẢ (nửa muốn chạy đi gọi chồng, nửa muốn lại nâng bố lên, luống cuống, sau cùng thì quay lại đỡ bố) – Thầy ơi, thầy ngã có đau không? Rõ khổ!
ÔNG LÃO (khặc khừ, lắc đầu, lả đi) – ...
CHỊ CẢ (tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố, dẫn lại chỗ chõng tre, để cho ông lão ngồi được yên rồi lả xuống cạnh đấy bất tỉnh nhân sự) – ...
(Trích Không một tiếng vang, Vũ Trọng Phụng, in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, Tr.358-364)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1. Nhân vật Thông Xạ có mối quan hệ gì với gia đình ông lão mù?
Câu 2. Chỉ ra xung đột cơ bản của văn bản "Không một tiếng vang".
Câu 3. Nhân vật anh cả Thuận có suy nghĩ, quan điểm gì về đồng tiền? Quan điểm đó phản ánh vấn đề gì của xã hội?
Câu 4. Nhân vật chị cả Thuận được khắc hoạ với những phẩm chất nào đáng quý? Chỉ ra những chi tiết giúp em nhận thấy phẩm chất đó.
Câu 5. Qua bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản, em có suy nghĩ gì về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm con người. (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù.
Câu 2. (0,5 điểm)
Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công.
Câu 3. (1,0 điểm)
− Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền:
+ Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật").
+ Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!").
− Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội:
+ Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền.
+ Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng.
Câu 4. (1,0 điểm)
Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận:
− Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương: Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khoẻ và cảm giác của người cha già mù loà.
+ Vội vàng chạy đi bán chậu vì muốn mua bát cháo và lọ dầu vì lo bố chồng đói.
+ Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xót xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau không?", "tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố".
− Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: Khác với sự bất lực, than trời trách đất của người chồng, chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn. Chị không chấp nhận ngồi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng.
+ Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: "... chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?".
+ Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bố cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu vãn gia đình.
Câu 5. (1,0 điểm)
Học sinh đưa ra suy nghĩ của bản thân về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm con người. Gợi ý:
− Bi kịch của gia đình ông lão mù là lời cảnh tỉnh đau xót về sức tàn phá khủng khiếp của gánh nặng "cơm áo gạo tiền".
− Khi bị dồn vào bước đường cùng của sự đói nghèo, con người dễ bị tha hoá, đánh mất niềm tin vào những giá trị tốt đẹp (như anh Cả mất niềm tin vào Giời Phật, pháp luật, sự lương thiện).
− Cái nghèo không chỉ bào mòn thể xác mà còn đe doạ tước đoạt cả nhân phẩm, lòng tự trọng; buộc người ta phải đứng trước những lựa chọn nghiệt ngã: Giữ lấy lương tâm mà chết đói hay làm liều để tồn tại.
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản "Không một tiếng vang".
Câu 2. Bi kịch của gia đình ông lão mù gợi lên vấn đề chăm sóc và hỗ trợ những người yếu thế trong xã hội. Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn luận về sự cần thiết của tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản "Không một tiếng vang".
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Gợi ý:
– Bi kịch nghèo đói cùng cực:
+ Gia đình từ trung lưu rơi xuống đáy xã hội sau trận hoả hoạn.
+ Nợ nần chồng chất, tiền thuê nhà bị thúc ép; không có gạo, không có thuốc, không có cả thứ để cúng người đã khuất.
+ Chi tiết "chiếc chậu thau cũ" không ai mua là biểu tượng cho sự khánh kiệt, không còn gì để bấu víu.
– Bi kịch của sự tha hoá và đánh mất niềm tin:
+ Nhân vật Anh Cả: Từ một người hiền lành rơi vào phẫn uất, hoài nghi tất cả đạo đức, công lí ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật"). Đây là bi kịch tinh thần đau đớn khi con người phải chọn giữa "lương tâm" và "miếng ăn".
+ Hành động "làm càn" (đi ăn trộm) của Anh Cả là bước đường cùng của một người con muốn cứu gia đình nhưng lại đẩy gia đình vào vực thẳm.
– Bi kịch của tình yêu thương lại biến thành nỗi đau:
+ Người cha mù lòa vì quá thương con, không muốn làm gánh nặng nên đã chọn cái chết.
+ Sự hi sinh này không đem lại lối thoát mà dẫn đến hiệu ứng dây chuyền: Con dâu chết theo, con trai vào tù.
+ Tình yêu thương trong nghịch cảnh lại trở thành nhát dao kết liễu toàn bộ gia đình.
=> Khẳng định: Bi kịch gia đình trong tác phẩm không chỉ là nỗi đau cá nhân mà còn là tiếng tố cáo mạnh mẽ xã hội bất công, đồng thời khơi gợi lòng trắc ẩn và khát vọng về một cuộc sống nhân đạo hơn.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ).
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Bàn luận về sự cần thiết của tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng.
c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:
HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
* Mở bài: Dẫn dắt từ văn bản "Không một tiếng vang" và giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài:
– Giải thích:
+ Người yếu thế: Là những cá nhân hoặc nhóm người gặp khó khăn về thể chất, tinh thần hoặc hoàn cảnh kinh tế (người già neo đơn, người khuyết tật, trẻ em mồ côi, người nghèo,...) khiến họ không có khả năng tự bảo vệ hoặc mưu sinh.
+ Tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng: Là tình yêu thương giữa người với người và ý thức tự nguyện của các cá nhân, tổ chức trong việc chung tay xây dựng mạng lưới an sinh, giúp đỡ những người khó khăn.
– Ý nghĩa, tầm quan trọng của tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng đối với người yếu thế:
+ Ngăn chặn những bi kịch cùng đường: Trong văn bản, nếu lão Thông Xạ có một chút nhân ái, nếu cộng đồng lúc đó có quỹ hỗ trợ người nghèo, gia đình ông lão mù đã không phải chọn cái chết. Sự hỗ trợ kịp thời giúp họ giữ được hi vọng và sự sống.
+ Giữ gìn phẩm giá con người: Khi bị dồn vào ngõ cụt, con người dễ bị tha hoá (như Anh Cả phải đi ăn trộm). Sự hỗ trợ từ cộng đồng giúp họ không phải đánh đổi lương tâm lấy miếng cơm manh áo, từ đó giữ vững đạo đức xã hội.
+ Thước đo sự văn minh của xã hội: Sự tiến bộ của một quốc gia không chỉ nằm ở các toà nhà chọc trời mà nằm ở cách xã hội đó đối xử với những người yếu thế nhất. Tình người là sợi dây gắn kết, tạo nên một cộng đồng bền vững và nhân văn.
– Biểu hiện của tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng:
+ Giúp đỡ người gặp nạn: bệnh tật, nghèo đói, thiên tai.
+ Tham gia các hoạt động thiện nguyện, hiến máu, ủng hộ quỹ xã hội.
+ Không thờ ơ với bất công, lên tiếng bảo vệ người yếu thế.
+ Xây dựng môi trường sống văn minh: Tôn trọng luật pháp, hỗ trợ người khó khăn trong khu dân cư.
– Bàn luận, mở rộng:
+ Phê phán sự vô cảm: Lối sống "sống chết mặc bay", ích kỉ chỉ biết mình (như nhân vật lão Thông Xạ) chính là liều thuốc độc giết chết xã hội.
+ Lưu ý về cách cho đi: Hỗ trợ người yếu thế cần sự chân thành và tôn trọng, tránh thái độ ban ơn hay làm từ thiện để đánh bóng tên tuổi. "Của cho không bằng cách cho".
+ Khuyến khích sự tự lực: Hỗ trợ không có nghĩa là bao cấp hoàn toàn mà là trao cho họ "cần câu" để họ có thể tự đứng trên đôi chân của mình nếu có thể.
* Kết bài:
– Khẳng định lại vấn đề: Tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng không chỉ là một lựa chọn đạo đức mà là nhiệm vụ tất yếu để duy trì sự sống còn của tình người.
– Liên hệ bản thân/Thông điệp: Đừng để những bi kịch "không một tiếng vang" lặp lại quanh ta. Mỗi người hãy là một đốm lửa nhỏ để sưởi ấm cho những cuộc đời đang trong băng giá của sự khốn cùng.