Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề kiểm tra cuối học kì II - Đề số 4 (CV 7991) SVIP
Đọc văn bản sau.
QUẦN THỂ DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ − DI SẢN VĂN HOÁ THẾ GIỚI
(VOV5) − Với những giá trị mang tính toàn cầu của mình, quần thể di tích Cố đô Huế trở thành di sản văn hoá đầu tiên của Việt Nam được UNESCO ghi tên vào danh mục Di sản thế giới năm 1993.
Quần thể di tích Cố đô Huế nằm dọc hai bên bờ sông Hương thuộc thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của tỉnh, là cố đô của Việt Nam dưới triều nhà Nguyễn, từ 1802 đến 1945. Với những giá trị mang tinh toàn cầu của mình, quần thể di tích Cố đô Huế trở thành di sản văn hoá đầu tiên của Việt Nam được UNESCO ghi tên vào danh mục Di sản thế giới năm 1993.

Đại Nội Huế về đêm. Ảnh: khamphahue.com.vn
Năm 1306, sau cuộc hôn phối giữa công chúa Huyền Trân (Nhà Trần) với vua Chàm là Chế Mân, vùng đất Châu Ô, Châu Lý (gồm Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và một phần phía bắc Quảng Nam ngày nay) được lấy tên là Thuận Hoá. Vào nửa cuối thế kỷ 15, thời vua Lê Thánh Tông, địa danh Huế lần đầu xuất hiện. Năm 1636, phủ Chúa Nguyễn đặt ở Kim Long (Huế), tới năm 1687 thì dời về Phú Xuân − thành Nội Huế ngày nay. Vào những năm đầu của thế kỷ 18, Phú Xuân trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của xứ "Đàng Trong". Từ năm 1788 đến 1801, Phú Xuân trở thành kinh đô của triều đại Tây Sơn. Nhà sử học Lê Văn Lan cho biết: Các vị hoàng đế nhà Nguyễn, đặc biệt là hai vị hoàng đế đầu tiên là Gia Long và Minh Mạng đã rất có lý khi muốn Phú Xuân, khi chuyển Phú Xuân thành kinh đô Huế của cả nước Đại Nam. Huế lúc đó có vai trò cực kỳ quan trọng của một trung tâm đầu não về mặt chính trị của cả nước. Một triều đình rất công phu được xây dựng, mà đứng đầu là các vị vua chuyên chế, rồi các bộ máy và các hạng mục kinh thành cũng đã được thiết kế và ổn định.
Từ năm 1802 đến 1945, Huế là kinh đô của nước Việt Nam thống nhất dưới sự trị vì của 13 đời vua nhà Nguyễn. Cũng vào thời gian này, tại đây đã hình thành các công trình kiến trúc lịch sử văn hoá có giá trị. Có thể kể đến ở phía bờ Bắc của con sông Hương là hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền Nguyễn gồm ba toà thành: Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử Cấm thành Huế lồng vào nhau, được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hoà nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế − đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh. [...]
Ngoài ra, những địa danh tô điểm thêm nét đẹp của quần thể di tích Cố đô Huế có thể kể đến là: Sông Hương, Núi Ngự, Chùa Thiên Mụ, Bạch Mã, Lăng Cô, Thuận An,... Tại phiên họp lần thứ 17 của Uỷ ban Di sản thế giới tại Colombia năm 1993, UNESCO khi quyết định công nhận quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hoá của nhân loại, đã khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của quần thể di tích Cố đô Huế. Theo đó, quần thể di tích Cố đô Huế tiêu biểu cho những thành tựu nghệ thuật độc đáo, là những kiệt tác do bàn tay con người tạo dựng, có giá trị to lớn về mặt kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật kiến trúc.
(Thu Hoa − VOV5 20/5/2018, đăng trên VOVWORLD)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản "Quần thể di tích Cố đô Huế − Di sản văn hoá thế giới".
Câu 2. Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới vào năm nào?
Câu 3. Văn bản sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ nào? Nêu tác dụng của việc sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản.
Câu 4. Hãy chỉ ra và phân tích tác dụng của việc sử dụng các mốc thời gian, số liệu lịch sử trong văn bản.
Câu 5. Từ nội dung văn bản, em hãy đề xuất một số việc giới trẻ có thể làm để tham gia vào bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc. (Trình bày khoảng 5 − 7 dòng)
Hướng dẫn giải:
Câu 1 (0,5 điểm).
Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Quần thể di tích Cố đô Huế − Di sản văn hoá thế giới" là thuyết minh.
Câu 2 (0,5 điểm).
Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới vào năm 1993.
Câu 3 (1,0 điểm).
− Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là hình ảnh minh hoạ Đại Nội Huế về đêm.
− Tác dụng của việc sử dụng hình ảnh trong văn bản:
+ Minh hoạ trực quan cho vẻ đẹp tráng lệ, lung linh của di tích, giúp văn bản trở nên sinh động và hấp dẫn người đọc hơn.
+ Tăng tính xác thực cho các thông tin được trình bày trong bài viết.
+ Giúp người đọc dễ dàng hình dung và kết nối giữa thông tin lịch sử với vẻ đẹp thực tế của di sản.
Câu 4 (1,0 điểm).
− Thông tin về mốc thời gian, số liệu:
+ Các mốc thời gian: Năm 1306, thế kỷ 15, năm 1636, năm 1687, đầu thế kỷ 18, giai đoạn 1788 − 1801, giai đoạn 1802 − 1945, năm 1993.
+ Các số liệu: 13 đời vua, ba toà thành, phiên họp lần thứ 17.
− Tác dụng của thông tin về mốc thời gian, số liệu:
+ Cung cấp bằng chứng lịch sử chính xác, cụ thể, giúp tăng độ tin cậy và tính khoa học cho một văn bản thông tin.
+ Giúp người đọc dễ dàng theo dõi quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của Huế qua các thời kỳ lịch sử khác nhau.
+ Khẳng định bề dày lịch sử lâu đời và quy mô to lớn, tầm quan trọng của hệ thống kiến trúc Cố đô.
Câu 5 (1,0 điểm).
Học sinh đề xuất một số việc làm để tham gia bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hoá dân tộc. Gợi ý:
− Cần chủ động tìm hiểu và nâng cao kiến thức về lịch sử dân tộc thông qua việc đọc sách hoặc tham quan thực tế tại các di tích.
− Cần có ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn cảnh quan như: Không viết hay vẽ bậy, không xâm phạm hiện vật và giữ gìn vệ sinh chung khi đến các khu di sản.
− Tận dụng sức mạnh của mạng xã hội để sáng tạo nội dung, hình ảnh nhằm quảng bá vẻ đẹp văn hoá Việt Nam đến bạn bè quốc tế.
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em về đoạn trích dưới đây.
TỰ TÌNH VỚI QUÊ HƯƠNG
(Trích)
Quê hương ơi! Yêu dấu tự ngàn đời
Đẹp từ lúc trong nôi lời mẹ hát
Bến đò xưa dòng Lô giang ào ạt
Con nước đôi bờ thắm vị phù sa.
Tuổi thơ con đẹp tựa một bài ca
Ngọn Tam Đảo reo âm vang hùng vĩ
Tháp Bình Sơn vững vàng bao thế kỉ
Đứng mặc trầm như đá tạc vào thơ.
Con lớn lên theo từng trang sách vở
Thầy dạy cho biết yêu tiếng quê mình
Thơ Xuân Hương ấm mãi vành môi xinh
Con thuộc nằm lòng như mẹ thuộc lời ru.
(Lê Gia Hoài, Mùa say đắm 1, NXB Hội Nhà văn, 2017)
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc quảng bá văn hoá truyền thống trong thời đại công nghệ số hiện nay.
Hướng dẫn giải:
Câu 1 (2,0 điểm).
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm):
Ghi lại cảm nghĩ về đoạn trích "Tự tình với quê hương".
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Xác định được các ý phù hợp, sau đây là một số gợi ý:
− Đoạn thơ thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, sâu nặng: Lời gọi "Quê hương ơi! Yêu dấu tự ngàn đời" vang lên như một tiếng lòng xúc động; quê hương hiện ra gần gũi qua những hình ảnh "Bến đò xưa dòng Lô giang ào ạt", "Con nước đôi bờ thắm vị phù sa", gợi nên vẻ đẹp bình dị mà giàu sức sống.
− Tác giả bày tỏ niềm tự hào về vẻ đẹp thiên nhiên và truyền thống văn hoá quê hương: "Ngọn Tam Đảo reo âm vang hùng vĩ", "Tháp Bình Sơn vững vàng bao thế kỉ" không chỉ là cảnh sắc mà còn là biểu tượng của chiều sâu lịch sử, văn hoá. Đồng thời, tình yêu quê hương còn được nuôi dưỡng qua "từng trang sách vở", qua lời thầy dạy, qua tiếng Việt thân thương.
➞ Học sinh nêu cảm nhận: Đoạn trích gợi sự rung động sâu sắc về tình yêu quê hương, một tình cảm vừa gần gũi, vừa thiêng liêng; cảm thấy thêm yêu nơi mình đã sinh ra, có ý thức hơn về trách nhiệm gìn giữ, trân trọng và góp phần làm đẹp quê hương bằng những việc làm thiết thực trong cuộc sống hằng ngày.
Câu 2 (4,0 điểm).
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm):
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm):
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Việc quảng bá văn hoá truyền thống trong thời đại công nghệ số hiện nay.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm):
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu quan điểm của người viết.
– Dẫn dắt: Trong thời đại công nghệ số phát triển mạnh mẽ, con người có nhiều cơ hội tiếp cận và lan toả thông tin.
– Nêu vấn đề: Việc quảng bá văn hoá truyền thống trở nên cần thiết và có nhiều điều kiện thuận lợi hơn bao giờ hết.
– Khẳng định: Quảng bá văn hoá truyền thống trong thời đại số là việc làm quan trọng, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc.
* Thân bài:
– Giải thích:
+ Văn hoá truyền thống là những giá trị tốt đẹp được hình thành và lưu truyền qua nhiều thế hệ (phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục, ẩm thực,…).
+ Quảng bá văn hoá truyền thống trong thời đại công nghệ số là việc sử dụng các phương tiện công nghệ (Internet, mạng xã hội,…) để giới thiệu, lan toả những giá trị văn hoá đó.
– Bàn luận, làm rõ vấn đề:
+ Lí lẽ 1: Công nghệ số giúp quảng bá văn hoá truyền thống rộng rãi, nhanh chóng.
+ Bằng chứng:
++ Thông qua mạng xã hội, video, hình ảnh, các giá trị văn hoá có thể đến với nhiều người trong và ngoài nước.
++ Nhiều bạn trẻ chia sẻ về ẩm thực, trang phục truyền thống, di sản văn hoá,… thu hút sự quan tâm lớn.
➞ Công nghệ số mở rộng phạm vi lan tỏa văn hoá.
+ Lí lẽ 2: Quảng bá văn hoá góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc.
+ Bằng chứng:
++ Khi văn hoá được giới thiệu rộng rãi, con người sẽ hiểu và trân trọng hơn giá trị truyền thống.
++ Nhiều di sản văn hoá được bảo tồn và phát triển nhờ sự quan tâm của cộng đồng.
➞ Quảng bá là một cách thiết thực để bảo tồn văn hoá.
+ Lí lẽ 3: Người trẻ giữ vai trò quan trọng trong việc quảng bá văn hoá truyền thống.
+ Bằng chứng:
++ Thế hệ trẻ là những người am hiểu công nghệ, có khả năng sáng tạo nội dung hấp dẫn.
++ Nhiều bạn trẻ sử dụng mạng xã hội để giới thiệu văn hoá Việt Nam đến bạn bè quốc tế.
➞ Người trẻ là lực lượng tiên phong trong việc lan tỏa giá trị văn hoá.
– Soi chiếu, mở rộng:
+ Phê phán việc quảng bá thiếu chọn lọc, sai lệch hoặc làm biến dạng giá trị văn hoá truyền thống.
+ Nhắc nhở: Cần sử dụng công nghệ một cách có trách nhiệm, vừa hiện đại vừa giữ được bản sắc.
* Kết bài: Khẳng định lại vấn đề và rút ra bài học.
– Khẳng định: Quảng bá văn hoá truyền thống trong thời đại công nghệ số là việc làm cần thiết và ý nghĩa.
– Bài học nhận thức: Mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần ý thức giữ gìn và lan tỏa giá trị văn hoá dân tộc.
– Phương hướng hành động: Tích cực tìm hiểu văn hoá truyền thống, sử dụng công nghệ để quảng bá một cách đúng đắn, sáng tạo.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1,5 điểm):
– Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp (giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận).
– Trình bày rõ quan điểm, lập luận mạch lạc.
– Dẫn chứng tiêu biểu, gần gũi, có sức thuyết phục.
đ. Diễn đạt (0,5 điểm):
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt; diễn đạt rõ ràng, trong sáng.
e. Sáng tạo (0,5 điểm):
Thể hiện suy nghĩ riêng, có cách diễn đạt linh hoạt, phù hợp lứa tuổi.