Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 0 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
ĐỀ CƯƠNG ÔN THI CUỐI KÌ II SVIP
Nội dung này do giáo viên tự biên soạn.
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CUỐI KỲ 2 (25-26) K11
Đề số 01:
Đọc văn bản sau:
Đặt vào ngày cuối Đông đầu Xuân, ngày Tết Nguyên Đán còn có một thâm ý sâu xa hơn nữa; theo Từ Nguyên, xuân có nghĩa là “trai gái vừa lòng nhau”, xuân là cựa động, băng giá tan hết, muôn vật đến mùa xuân đều cựa động mà sống lại. Từ quan niệm ấy, người mình tiến đến tín ngưỡng thờ Thần Đất. Họ tin rằng trong không, thời gian mà Thần Đất vắng mặt trên trần thì không ai được động chạm đến đất như cày bừa cuốc xới lên hay giã gạo làm cho vang động đất. Ngày Tết, do đó, có ý nghĩa là đón đợi sự trở về của Thần Đất: người ta chờ lúc cây cối đâm lộc nảy mầm, muôn vật trở lại cuộc sống bình thường, chỉ sợ vì một cớ gì bí mật, không phồn thịnh và sản xuất như xưa nữa. Họ tin rằng nếu không kiêng kị thì Thần Đất không phù hộ loài người và sẽ làm cho cây cối, con người, súc vật, của cải không thể nào phát triển (…)
Có ai ở tỉnh thành ăn Tết ngày mồng một rồi đến mồng hai, mồng ba đi về những vùng đất thơm ngát hoa đồng cỏ nội mới thật thấy cái tết của ta đẹp biết ngần nào, êm ái biết ngần nào. Người nông dân vất vả quanh năm, được mấy ngày ấy nhất định nghỉ không ra đồng. Chè chén đã đành rồi, nhưng tội gì mà chẳng vui chơi để giải quyết sự thèm khát giải trí mà vua quan ngày trước không hề nghĩ tổ chức bao giờ. Vì thế, nghe thấy đầu xuân có hát tuồng cổ “Quan Vân Trường quá ngũ quan trảm lục tướng” hay “Dự Nhượng tam đả long bào”, ở cách xa nơi họ ở dăm mười cây số, họ cũng cố đi xem cho kì được (…). Tại vài làng mát mặt ở Bắc Việt, các đàn anh vào dịp tết vẫn rủ nhau rước ả đào, tuồng cổ, phường chèo về diễn (…).
Ngày Tết, bước ra khỏi Hà Nội một hai cây số ta có thể thấy ở bất cứ làng nào cũng có trồng một vài cây đu để cho trai gái trong làng hay những vùng quanh đấy đến dún dẩy với nhau (…). Cây đu làm bằng tám cọc tre, trồng rất chắc dưới đất vì trồng càng chắc thì dún càng khỏe. Cái ngáng đu vận bằng rơm, giữ hai hàng cột gioãng ra hai bên (…). Đu càng cao, các cô, các cậu càng đưa mạnh. Các cậu cố dún. Các cô ưỡn thêm lên (…). Đu lên bổng, chiếc áo nâu non của cô gái dan díu với chiếc áo the thâm của chàng trai, đôi giải yếm lụa quấn quýt lấy chiếc quần hồ trắng bốp… hai lá cờ đuôi nheo cũng phải rung lên một cách đa tình (…)
Ai đã ở Bắc vui mấy ngày xuân, thế nào mà chẳng có lúc đã nghe thấy người ta hát:
Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy,
Vui thì vui vậy chẳng tày Giã La… (…)
Ngày Tết ở Bắc, rỗi rãi mà đi xem hết hội này đến lễ kia như thế, phải nói thật quả là mình sung sướng như tiên. Tết đi thăm nhau, chúc mừng nhau, uống rượu ăn mứt, ăn kẹo với nhau, đánh cờ đánh kiệu với nhau, vui quá thể, ai mà lại còn không biết; nhưng vui thấm thía, vui ý nghĩa, vui sâu xa thì phải nói thực, đó là nhờ những đám rước, những tục cổ, những trò chơi như thế.
Xin Trời Phật phù hộ cho không bao giờ có những ngày xuân, ngày tết không có hoa và bướm, không bao giờ có những người không được thương yêu; không bao giờ có những cây không nảy lộc, những cặp mắt không sáng ngời và cũng không bao giờ lại có những con người xảo trá, tham tàn, độc ác…
(Trích “Tết, Hỡi cô mặc cái yếm xanh”,
“Thương nhớ mười hai”, Vũ Bằng, Nxb Văn học Hà Nội, 2001)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Chỉ ra các trò chơi dân gian được chơi trong dịp Tết.
Câu 2. Thông tin khách quan nào được tác giả sử dụng trong đoạn văn: Ngày Tết, bước ra khỏi Hà Nội một hai cây số ta có thể thấy ở bất cứ làng nào cũng có trồng một vài cây đu để cho trai gái trong làng hay những vùng quanh đấy đến dún dẩy với nhau (…). Cây đu làm bằng tám cọc tre, trồng rất chắc dưới đất vì trồng càng chắc thì dún càng khỏe. Cái ngáng đu vận bằng rơm, giữ hai hàng cột gioãng ra hai bên (…). Đu càng cao, các cô, các cậu càng đưa mạnh. Các cậu cố dún. Các cô ưỡn thêm lên (…). Đu lên bổng, chiếc áo nâu non của cô gái dan díu với chiếc áo the thâm của chàng trai, đôi giải yếm lụa quấn quýt lấy chiếc quần hồ trắng bốp… hai lá cờ đuôi nheo cũng phải rung lên một cách đa tình (…)
Câu 3. Nêu hiệu quả của phép tu từ liệt kê được sử dụng trong câu văn sau: Tết đi thăm nhau, chúc mừng nhau, uống rượu ăn mứt, ăn kẹo với nhau, đánh cờ đánh kiệu với nhau, vui quá thể, ai mà lại còn không biết; nhưng vui thấm thía, vui ý nghĩa, vui sâu xa thì phải nói thực, đó là nhờ những đám rước, những tục cổ, những trò chơi như thế.
Câu 4. Nhận xét về mong ước của tác giả khi Tết đến, xuân về qua đoạn văn sau: Xin Trời Phật phù hộ cho không bao giờ có những ngày xuân, ngày tết không có hoa và bướm, không bao giờ có những người không được thương yêu; không bao giờ có những cây không nảy lộc, những cặp mắt không sáng ngời và cũng không bao giờ lại có những con người xảo trá, tham tàn, độc ác…
Câu 5. Hiện nay có quan điểm cho rằng nên bỏ Tết truyền thống. Anh/chị có đồng tình với quan điểm này không? Vì sao?
VIẾT
1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nhận xét về phong cách nghệ thuật của Vũ Bằng qua đoạn trích “Đặt vào ngày cuối Đông đầu Xuân... tham tàn, độc ác”
2. Từ nội dung văn bản ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về ý nghĩa của việc giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống trong đời sống hiện đại.
Đề số 2
Đọc văn bản sau:
THÁNG HAI: TƯƠNG TƯ HOA ĐÀO
Đã lâu lắm, chúng mình không được tin tức của nhau Quỳ[1] nhỉ. Chiến tranh cắt đứt ân tình của hai ta: thôi đành lấy câu vận mệnh để khuây dần thương nhớ vậy.
Nhưng thương nhớ kì lạ lắm. Có những đêm không ngủ, nằm nghe tiếng mưa rơi, tôi cố nhớ lại nét mặt của người thương, mà không hiểu tại sao con mắt, miệng cười và mớ tóc xoã trên bờ vai tròn trĩnh lại lu mờ như thể chìm đắm trong khói song. Mà trái lại có những kỉ niệm rất bé nhỏ, rất tầm thường lại hiện ra rõ rệt, không suy suyển một ly trong trí óc của người nặng nợ lưu ly, nằm buồn trong gác nhỏ ngâm câu thơ nhớ vợ.
Tôi nhớ những buổi tối đi trên con đường Toà án ngan ngát mùi hoa sữa, nhớ những đêm trăng hai đứa dắt nhau trên đường Giảng Võ xem chèo, những đêm mưa ngâu, thức dậy thổi một nồi cơm gạo vàng ăn với thịt con gà mái ấp. Bao trùm tất cả những niềm thương nỗi nhớ ấy, tôi nhớ nhất một đêm cuối tháng giêng, đầu hai năm ấy, hai đứa mới quen nhau, cùng ăn chung một quả vú sữa của một người bạn phương Nam gửi ra cho, rồi đánh tam cúc cho tới nửa đêm về sáng. Bây giờ, ngồi xem én nhạn bay, có lúc tôi cũng bổ một quả vú sữa ra ăn, nhưng ăn thì lại nhớ đến một đêm tháng Hai đã mất “để mùa xuân kia có trở lại cũng bằng thừa”.
Yêu cái đêm tháng Hai ấy không biết chừng nào, nhớ những buổi đánh tam cúc và rút bất[2] không biết thế nào mà nói.
Lúc ấy, tết đã hết từ lâu, mọi người đã trở lại với công việc thường ngày như cũ, nhưng mùa xuân vẫn còn phơi phới trong lòng người khách đa cảm nhìn đâu cũng thấy diễm tình bát ngát. Vừa hôm nào đi lễ ở Đống Đa, hôm nay đã là hội chùa Vua; mười ba là hội Lim; rằm tháng Giêng đi các chùa lễ bái; rồi là chùa Trầm, rồi trẩy hội Phủ Giầy, rồi xem tế thần ở Láng, đi về qua Giảng Võ, rẽ vào xem rước vía ở miếu Hai Cô; vài hôm sau lại đi hội Lộ, trở về xem rước ở đình Thiên Hương, ghé qua đình Ủng xem tết thần và đến đêm thì đi xem hát tuồng Tàu ở đền Bạch Mã…
Ở bất cứ hội hè nào, đàn bà con gái cũng đẹp nõn nà. Hoa rét còn đọng ở ngọn cây, ngọn cỏ. Những con mắt cười với những con mắt, những bàn tay muốn nắm lấy những bàn tay. Lòng người ấm áp muốn gửi sự ấm áp cho những người thương mến. Quái lạ, sao cùng là đất nước mà ở miền Bắc trời lành lạnh nên thơ đến thế, mà ở nhiều miền khác thì lúc ấy trời lại nóng, rôm sảy cắn nhoi nhói muốn làm cho ta cào rách thịt ra. Ăn cái gì cũng không ngon vì mệt quá. Đêm ngủ chẳng đẫy giấc vì càng uống nước đá lại càng háo trong người. Cái máy lạnh mở cho hết cỡ cũng chẳng làm thắm được tấm lòng yêu thương mệt nhọc. Người con gái đa tình xa … chợt nhớ đến một câu hát cũng còn nhớ được lúc mẹ ru, khi còn bé, ở đất Bắc xa xôi:
Buồn vì một nỗi tháng Hai
Đêm ngắn ngày dài, thua thiệt người ta!
Yêu quá cái đêm tháng Hai ở đất Bắc; thương quá cái đêm tháng Hai ở Bắc, thành ra cái gì cũng thấy qua đi nhanh quá. Ước gì năm tháng dài thêm ra để ngày thì đi xem hội xem hè, đêm thì cùng với những người thân vui xuân với quân bài cao thấp.[…]
(Trích: Tháng Hai: Tương tư hoa đào; Thương nhớ mười hai - Vũ Bằng; https://sachtruyen.net/doc-sach/thuong-nho-muoi-hai.d7e5f.0003)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Nhân vật tôi trong văn bản là ai?
Câu 2. Điều gì hiện lên rõ nét nhất trong tâm trí nhân vật tôi khi nhớ về người thương?
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp liệt kê được sử dụng trong đoạn văn sau: Vừa hôm nào đi lễ ở Đống Đa, hôm nay đã là hội chùa Vua; mười ba là hội Lim; rằm tháng Giêng đi các chùa lễ bái; rồi là chùa Trầm, rồi trẩy hội Phủ Giầy, rồi xem tế thần ở Láng, đi về qua Giảng Võ, rẽ vào xem rước vía ở miếu Hai Cô; vài hôm sau lại đi hội Lộ, trở về xem rước ở đình Thiên Hương, ghé qua đình Ủng xem tết thần và đến đêm thì đi xem hát tuồng Tàu ở đền Bạch Mã…
Câu 4. Nhận xét về tâm trạng của nhân vật tôi trong các câu văn sau: Yêu quá cái đêm tháng Hai ở đất Bắc; thương quá cái đêm tháng Hai ở Bắc, thành ra cái gì cũng thấy qua đi nhanh quá. Ước gì năm tháng dài thêm ra để ngày thì đi xem hội xem hè, đêm thì cùng với những người thân vui xuân với quân bài cao thấp.
Câu 5: Từ nội dung văn bản ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) chia sẻ cảm xúc của anh/chị về vẻ đẹp của quê hương mình vào những ngày xuân.
VIẾT
1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nỗi lòng hoài niệm về quê hương và người thân của nhân vật "tôi" trong đoạn trích trên.
2. Trong thời đại số, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là ChatGPT đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến học tập, làm việc và tư duy của con người. Tuy nhiên, việc sử dụng như thế nào vẫn còn là vấn đề nan giải, đáng lo ngại.
Từ thực trạng trên, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn luận về các giải pháp giúp tuổi trẻ sử dụng ChatGPT một cách hiệu quả trong học tập và công việc.
Đề số 03:
Đọc đoạn trích sau:
Mùa thu ở Bắc Việt xa xưa ơi, ta buồn da diết khi nghĩ đến kiếp chúng sinh hệ lụy trong biển trầm luân nhưng ta không thể không cảm ơn trời phật đã cho người Bắc đau khổ triền miên một mùa thu xanh mơ mộng diễm tình đến thế. Mộng từ ngọn gió, cánh hoa mộng đi, mộng từ tiếng nhạn về én đi mà mộng lại, mộng từ bông sen tàn tạ trong đầm mà mộng lên, mộng từ sắc ố quan hà mà mộng xuống.
Quái lạ là cái mùa kỳ diệu: tự nhiên trời chỉ đổi màu, gió chỉ thay chiều làm rụng một cái lá ngô đồng thế là bao nhiêu cảnh vật đều nhuộm một màu tê tái, làm cho lòng người đa cảm tự nhiên thấy se sắt, tư lường. Thế là trời đất cỏ cây tự nhiên hiện ra dưới một lăng kính mới: trăng sáng đẹp là thế cũng hoá ra buồn, trời bát ngát yêu thương như thế mà cũng hoá ra tê tái, sông nước đẹp mông mênh như thế mà cũng ra đìu hiu lạnh.
Ngay đến cái thân mình, bình thường chẳng làm sao, vậy mà không hiểu cơn cớ nào thấy gió thu về xào xạc ngoài hiên mình cũng tự nhiên thấy thương cho thân thể và bâng khuâng buồn nhớ. Nhớ cái gì, buồn cái gì, không rõ rệt. Chính vào lúc bóng tối chưa tan, người vợ thấy chồng chong một ngọn đèn con lên pha trà uống một mình và khe khẽ ngâm thơ cũng không hiểu tại sao chồng lại bâng khuâng như vậy.
Chính thực ra nghe thấy gió thu đuổi lá chạy ở rặng cây ngoài vườn, người vợ cũng bâng khuâng nhưng chính mình không biết đó thôi.
(Trích từ chương “Tháng tám, ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu” trong tập Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, nguồn: https://www.gocnhin.net/cgi bin/viewitem.pl?855)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Chỉ rõ thời gian, không gian trong đoạn trích.
Câu 2. Mùa được nói tới trong đoạn trích mang những đặc điểm nổi bật nào?
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp liệt kê trong câu văn: Mộng từ ngọn gió, cánh hoa mộng đi, mộng từ tiếng nhạn về én đi mà mộng lại, mộng từ bông sen tàn tạ trong đầm mà mộng lên, mộng từ sắc ố quan hà mà mộng xuống.
Câu 4. Nhận xét sự độc đáo trong cách cảm thu của nhà văn Vũ Bằng.
Câu 5. Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) chia sẻ cảm xúc của anh/chị về mùa thu.
VIẾT
1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của cái "tôi" trữ tình Vũ Bằng qua đoạn trích trên.
2. Từ cảm nhận về "nỗi buồn bâng khuâng" và sự "se sắt" của lòng người khi đối diện với mùa thu trong đoạn trích, anh/chị hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) bàn về vai trò của những khoảng lặng trong cuộc sống hiện đại.
Đề số 4
Đọc đoạn trích sau:
Cho đến nay, dải đất ven sông Hương từ cầu Bạch Hổ lên chùa Thiên Mụ vẫn ấp ủ trong những vườn tược của nó, dáng dấp văn hoá của một trung tâm đô thị Việt Nam cổ. Chính trên mảnh đất này, thành phố Huế đã ra đời từ năm đó – năm 1636 – và Kim Long trở thành thủ phủ nổi tiếng của Đàng Trong trong suốt năm mươi năm tiếp theo. Cuộc sống phồn vinh, văn vẻ của mảnh đất Thuận Hóa trong thời kỳ này đã được phản ánh một cách khá đầy đủ trong nhiều sách vở để làm, tưởng không không cần nhắc lại làm gì. Điều thú vị đối với tôi khi đọc lại, ấy là khi họ đến đây, nhiều người nước ngoài đều ngạc nhiên nhận xét rằng phụ nữ Kim Long ăn mặc rất đẹp; lý do là nghề dệt gấm thêu hoa đang thịnh hành khắp các phường thợ ven sông Hương. Có lẽ phụ nữ Huế giỏi thêu thùa, biết mặc đẹp, bắt đầu từ cái thời xa xôi ấy. Nên không lạ gì, một người khách du đã đi nhiều nơi trên thế giới hồi ấy là cố đạo A-lec-xăng đơ Rốt, khi viết về “Kehue” (Kẻ Huế) đã nhắc lại nhiều lần rằng đây là một “thành phố lớn”
Trước thời các chúa Nguyễn đến cắm đô ở đây, vùng Trung du ven sông Hương này đã xuất hiện những thôn hoa xanh biếc rậm rạp, dân cư sống bằng nghề vườn đã lâu đời. Sau này, như đã nhấn mạnh trong các hồi ký về thành phố Kim Long thời ấy, thì các công thự cũng như nhà riêng, đều được xây cất giữa những khu vườn xanh tươi, đầy các thứ cây quý hoa lạ sưu tầm từ khắp xứ mang về. Đến lượt Phú Xuân, khi đã trở thành kinh đô của cả một đất nước sôi động những chiến công, dưới thời Quang Trung, Phú Xuân vẫn giữ riêng một phong thái yên tĩnh đầy chất thơ điền dã. Tôi rất cảm mến bà Lê Ngọc Hân, nàng công chúa đất Thăng Long vào đây làm Hoàng hậu, để trở nên một nhà thơ Huế. Vâng, phải là Huế biết mấy mới nhìn thấy được điều này: “Sương mù sắc tím nồng đượm mà hương thơm nức phòng the” (*). Ôi, tình yêu của bà, cuộc đời của bà, bão táp mà thanh tịnh biết bao nhiêu! Nhà thơ[3] và người anh hùng đã xa khuất, không để lại mộ chí, riêng còn trong câu thơ một nét mặt thành phố trong sáng muôn đời.
[...]
Bến đò Trường Thi ngày xưa nay là bãi khoai ngô Hợp tác xã, khu quán chợ nơi Lục Vân Tiên và Cao Bá Quát từng ngồi, bây giờ tĩnh mịch một ngôi chùa cổ, còn Quốc Tử Giám và cả khu hoa viên của Lê Văn Duyệt đã ngủ sâu dưới cây trái trong vườn dân. Nhưng mà nếp nhà cũ vẫn còn; cái liêu ở chái trên có vách gỗ, chắn song nhìn ra vườn, nơi mỗi nhà là chốn đèn sách bao đời. An Hiên… Dưới những mái hiên yên tĩnh kia, đã nẩy mầm kết trái bao nhiêu điều không ai biết, trong lý tưởng nhân đạo của Nguyễn Du, trong cái chính khí nổi giận của Cao Bá Quát, trong mộng kinh bang của Nguyễn Công Trứ và lòng Đạo của Nguyễn Đình Chiểu. Còn những nhân vật trường ốc cũ, qua cuộc đổi đời đã trở thành những người dân làng, biết trồng cây, biết đọc sách và biết sống giữ lề...
Suốt ba trăm năm mươi năm xây dựng, Huế đã dời chỗ theo một vết dài chừng năm cây số dọc sông Hương, để lại đằng sau nó bản phác thảo đầu tiên của cái mô hình thành phố vườn bây giờ. Lịch sử đổi thay, con người đi qua, nhưng những thành phố còn lại. Để trả lời cho các thế hệ tương lai về những kinh nghiệm sống làm giàu có thêm nhân loại...
(Hoa trái quanh tôi – Hoàng Phủ Ngọc Tường - NXB Trẻ 1995, trang 26, 27, 28)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Nhân vật “nhà thơ” và “người anh hùng” được nhắc tới trong đoạn trích là những ai?
Câu 2. Theo đoạn trích, thành phố Huế còn có những tên gọi khác nào?
Câu 3. Cách nhà văn gợi nhắc đến những văn nhân trong câu văn:“Dưới những mái hiên yên tĩnh kia, đã nẩy mầm kết trái bao nhiêu điều không ai biết, trong lý tưởng nhân đạo của Nguyễn Du, trong cái chính khí nổi giận của Cao Bá Quát, trong mộng kinh bang của Nguyễn Công Trứ và lòng Đạo của Nguyễn Đình Chiểu” có tác dụng gì?
Câu 4. Nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho quê hương đất nước được thể hiện trong đoạn trích.
Câu 5. “Nhưng mà nếp nhà cũ vẫn còn; cái liêu ở chái trên có vách gỗ, chắn song nhìn ra vườn, nơi mỗi nhà là chốn đèn sách bao đời”. Theo em, xứ Huế ngày nay có cần lưu giữ “nếp nhà cũ” không? Vì sao?
VIẾT
1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ), phân tích nét đặc sắc của cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường qua cách ông cảm nhận về "thành phố vườn" trong đoạn trích.
2. Từ câu nói ở cuối đoạn trích: "Lịch sử đổi thay, con người đi qua, nhưng những thành phố còn lại. Để trả lời cho các thế hệ tương lai về những kinh nghiệm sống làm giàu có thêm nhân loại", anh/chị hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) bàn về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
Đề số 5
Đọc đoạn trích sau:
Cho đến nay, dải đất ven sông Hương từ cầu Bạch Hổ lên chùa Thiên Mụ vẫn ấp ủ trong những vườn tược của nó, dáng dấp văn hoá của một trung tâm đô thị Việt Nam cổ. Chính trên mảnh đất này, thành phố Huế đã ra đời từ năm đó – năm 1636 – và Kim Long trở thành thủ phủ nổi tiếng của Đàng Trong trong suốt năm mươi năm tiếp theo. Cuộc sống phồn vinh, văn vẻ của mảnh đất Thuận Hóa trong thời kỳ này đã được phản ánh một cách khá đầy đủ trong nhiều sách vở để làm, tưởng không không cần nhắc lại làm gì. Điều thú vị đối với tôi khi đọc lại, ấy là khi họ đến đây, nhiều người nước ngoài đều ngạc nhiên nhận xét rằng phụ nữ Kim Long ăn mặc rất đẹp; lý do là nghề dệt gấm thêu hoa đang thịnh hành khắp các phường thợ ven sông Hương. Có lẽ phụ nữ Huế giỏi thêu thùa, biết mặc đẹp, bắt đầu từ cái thời xa xôi ấy. Nên không lạ gì, một người khách du đã đi nhiều nơi trên thế giới hồi ấy là cố đạo A-lec-xăng đơ Rốt, khi viết về “Kehue” (Kẻ Huế) đã nhắc lại nhiều lần rằng đây là một “thành phố lớn”
Trước thời các chúa Nguyễn đến cắm đô ở đây, vùng Trung du ven sông Hương này đã xuất hiện những thôn hoa xanh biếc rậm rạp, dân cư sống bằng nghề vườn đã lâu đời. Sau này, như đã nhấn mạnh trong các hồi ký về thành phố Kim Long thời ấy, thì các công thự cũng như nhà riêng, đều được xây cất giữa những khu vườn xanh tươi, đầy các thứ cây quý hoa lạ sưu tầm từ khắp xứ mang về. Đến lượt Phú Xuân, khi đã trở thành kinh đô của cả một đất nước sôi động những chiến công, dưới thời Quang Trung, Phú Xuân vẫn giữ riêng một phong thái yên tĩnh đầy chất thơ điền dã. Tôi rất cảm mến bà Lê Ngọc Hân, nàng công chúa đất Thăng Long vào đây làm Hoàng hậu, để trở nên một nhà thơ Huế. Vâng, phải là Huế biết mấy mới nhìn thấy được điều này: “Sương mù sắc tím nồng đượm mà hương thơm nức phòng the” (*). Ôi, tình yêu của bà, cuộc đời của bà, bão táp mà thanh tịnh biết bao nhiêu! Nhà thơ[4] và người anh hùng đã xa khuất, không để lại mộ chí, riêng còn trong câu thơ một nét mặt thành phố trong sáng muôn đời.
[...]
Bến đò Trường Thi ngày xưa nay là bãi khoai ngô Hợp tác xã, khu quán chợ nơi Lục Vân Tiên và Cao Bá Quát từng ngồi, bây giờ tĩnh mịch một ngôi chùa cổ, còn Quốc Tử Giám và cả khu hoa viên của Lê Văn Duyệt đã ngủ sâu dưới cây trái trong vườn dân. Nhưng mà nếp nhà cũ vẫn còn; cái liêu ở chái trên có vách gỗ, chắn song nhìn ra vườn, nơi mỗi nhà là chốn đèn sách bao đời. An Hiên… Dưới những mái hiên yên tĩnh kia, đã nẩy mầm kết trái bao nhiêu điều không ai biết, trong lý tưởng nhân đạo của Nguyễn Du, trong cái chính khí nổi giận của Cao Bá Quát, trong mộng kinh bang của Nguyễn Công Trứ và lòng Đạo của Nguyễn Đình Chiểu. Còn những nhân vật trường ốc cũ, qua cuộc đổi đời đã trở thành những người dân làng, biết trồng cây, biết đọc sách và biết sống giữ lề...
Suốt ba trăm năm mươi năm xây dựng, Huế đã dời chỗ theo một vết dài chừng năm cây số dọc sông Hương, để lại đằng sau nó bản phác thảo đầu tiên của cái mô hình thành phố vườn bây giờ. Lịch sử đổi thay, con người đi qua, nhưng những thành phố còn lại. Để trả lời cho các thế hệ tương lai về những kinh nghiệm sống làm giàu có thêm nhân loại...
(Hoa trái quanh tôi – Hoàng Phủ Ngọc Tường - NXB Trẻ 1995, trang 26, 27, 28)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Nhân vật “nhà thơ” và “người anh hùng” được nhắc tới trong đoạn trích là những ai?
Câu 2. Theo đoạn trích, thành phố Huế còn có những tên gọi khác nào?
Câu 3. Cách nhà văn gợi nhắc đến những văn nhân trong câu văn:“Dưới những mái hiên yên tĩnh kia, đã nẩy mầm kết trái bao nhiêu điều không ai biết, trong lý tưởng nhân đạo của Nguyễn Du, trong cái chính khí nổi giận của Cao Bá Quát, trong mộng kinh bang của Nguyễn Công Trứ và lòng Đạo của Nguyễn Đình Chiểu” có tác dụng gì?
Câu 4. Nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho quê hương đất nước được thể hiện trong đoạn trích.
Câu 5. “Nhưng mà nếp nhà cũ vẫn còn; cái liêu ở chái trên có vách gỗ, chắn song nhìn ra vườn, nơi mỗi nhà là chốn đèn sách bao đời”. Theo em, xứ Huế ngày nay có cần lưu giữ “nếp nhà cũ” không? Vì sao?
VIẾT:
1. Phân tích nghệ thuật so sánh sự khác biệt giữa phố Trần Hưng Đạo ở Hà Nội và Sài Gòn trong văn bản trên.
2. Từ hình ảnh Hà Nội và Sài Gòn trong văn bản của Băng Sơn, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về giá trị của sự khác biệt trong việc tạo nên bản sắc văn hóa vùng miền.
Đề số 6:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
(1) Trong một thế giới ồn ào và vội vã, nơi con người lúc nào cũng cắm mặt vào màn hình điện thoại, sự thấu cảm và khả năng lắng nghe dường như đang trở thành một thứ xa xỉ. Chúng ta lướt qua nhau trên mạng xã hội, để lại những biểu tượng cảm xúc vô hồn nhưng lại quên mất cách nhìn sâu vào mắt người đối diện.
(2) Tôi nhớ đến một buổi chiều cuối đông tại trạm chờ xe buýt trên phố Nguyễn Đình Chiểu. Không gian đặc quánh cái lạnh. Có một cậu bé đánh giày co ro góc trạm, đưa ánh mắt thèm thuồng nhìn chiếc bánh mì nóng hổi trên tay một người đàn ông thành đạt. Người đàn ông không nói gì, chỉ lặng lẽ bẻ đôi chiếc bánh, đưa cho cậu bé một nửa cùng một nụ cười ấm áp. Sự kiện nhỏ bé ấy diễn ra trong chưa đầy một phút, không có ống kính máy quay, không có những lời xưng tụng trên Facebook, nhưng nó lại có sức mạnh sưởi ấm cả một buổi chiều đông lạnh giá. Người đàn ông ấy đã "nghe" được tiếng nói từ sự im lặng của cậu bé.
(3) Lắng nghe không chỉ là việc tiếp nhận âm thanh bằng đôi tai, mà là dùng cả trái tim để thấu hiểu những rạn vỡ ẩn sâu bên trong người khác. Khi ta thực sự lắng nghe một sự kiện, một câu chuyện hay một nỗi đau, ta đang trao cho người đó một món quà quý giá nhất: sự hiện diện đích thực của chính mình. Chỉ khi biết lắng nghe, con người mới có thể phá vỡ bức tường của sự vô cảm, để lòng trắc ẩn thực sự lên ngôi. (Trích bài luận "Nghệ thuật lắng nghe trong thế giới ồn ào", Tạp chí Sống và Nghĩ)
Câu 1 Xác định vấn đề nghị luận (đề tài chính) được bàn luận trong đoạn trích trên.
Câu 2 Theo đoạn văn thứ (1), vì sao tác giả cho rằng sự thấu cảm và khả năng lắng nghe đang trở thành "một thứ xa xỉ"?
Câu 3 Chỉ ra sự kiện/câu chuyện, không gian và thời gian được tác giả kể lại trong đoạn văn thứ (2). Việc đưa sự kiện đó vào văn bản có tác dụng gì đối với việc làm sáng tỏ vấn đề nghị luận?
Câu 4 Anh/chị hiểu như thế nào về câu nói: "Người đàn ông ấy đã 'nghe' được tiếng nói từ sự im lặng của cậu bé"?
Câu 5: Thông điệp "Sự hiện diện đích thực của chính mình" trong đoạn văn (3) có ý nghĩa như thế nào trong việc xây dựng các mối quan hệ giữa người với người hiện nay?
VIẾT
1. Từ văn bản trên, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích mối quan hệ giữa sự im lặng và khả năng thấu cảm của con người.
2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về chủ đề: Sống chậm lại để yêu thương nhiều hơn.
Đề số 7
Đọc đoạn trích sau:
VỀ BÀI THƠ ÔNG ĐỒ CỦA VŨ ĐÌNH LIÊN
[...]
Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ. Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay. Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những chuyện dâu bể, hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địa, nhịp điệu khơi gợi một nỗi buồn nhẹ mà thấm. Màn mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn, vắng. Như vậy, cũng chỉ tám dòng, bốn mươi chữ đủ nói hết những bước chân của một thời tàn. Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn này với đoạn trên; mực với mực, giấy với giấy, người với người càng cho ta thấy cái thảng thốt, xót xa của sự biến thiên.
Có một khoảng thời gian trôi qua, khoảng trắng của đoạn thơ, trước khi vào bốn dòng kết:
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Hãy trở lại với dòng thơ đầu bài “Mỗi năm hoa đào nở" để thấy quy luật cũ không còn đúng nữa. Ông đồ đã kiên nhẫn “vẫn ngồi đấy", nhưng năm nay không còn kiên nhẫn được nữa: “Không thấy ông đồ xưa". Ông đã cố bám lấy xã hội hiện đại, những người hiện đại chúng ta đã thấy sự cố sức của ông, đã thấy ông chới với, nhưng chúng ta đã không làm gì, để đến bây giờ quay nhìn lại, mới biết ông bị buông rơi tự bao giờ. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người mà là bóng dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức của chính tâm hồn chúng ta. Đến bây giờ, chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi. Chúng ta hỏi nhau hay tự hỏi mình? Hỏi hay khấn khứa tưởng niệm, hay ân hận sám hối? Hai dòng thơ hàm súc nhất của bài, chúng ta đọc được ở đấy số phận của ông đồ và nhất là đọc được thái độ, tình cảm của cả một lớp người đối với những gì thuộc về dân tộc. Về ngữ pháp, dòng thơ này rất lạ, nhưng không thấy cộm: “Những người muôn năm cũ". “Muôn năm" thật ra chỉ vài ba năm, nhưng nói “muôn năm" mới đúng, thời ông đồ đã xa lắc rồi, đã lẫn vào những bút, những nghiên rất xa trong lịch sử, chữ “muôn năm cũ" của dòng trên dội xuống chữ “bây giờ" của dòng dưới càng bâng khuâng, luyến nhớ. Dòng thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như một tiếng thở dài cảm thương, nuối tiếc khôn nguôi.
(Theo VŨ QUẦN PHƯƠNG, Tác phẩm văn học 1930 – 1975, tập 1,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Xác định mục đích chính của người viết ở đoạn trích trên.
Câu 2. Chép lại một câu văn có bằng chứng được người viết dẫn ra từ bài thơ.
Câu 3. Nhận xét về cách phân tích bằng chứng trong đoạn trích trên.
Câu 4. Người viết thể hiện rõ tình cảm, cảm xúc gì của mình về hình ảnh ông đồ trong bài thơ của Vũ Đình Liên?
Câu 5. Anh/Chị hãy trả lời câu hỏi: Cần làm gì để giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống? (Viết trong khoảng 5 – 7 dòng)
VIẾT
1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nhận xét về nghệ thuật lập luận của Vũ Quần Phương trong đoạn trích trên.
2. Từ hình ảnh ông đồ bị lãng quên trong bài thơ của Vũ Đình Liên, anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) bàn về thái độ của thế hệ trẻ ngày nay đối với những giá trị cũ trong thế giới mới.
Đề số 8:
Đọc đoạn trích sau:
Với các thi nhân, mùa thu lưu dấu ấn của mình trong những vần thơ đượm một vẻ riêng trong trẻo. Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi,… đều có những câu thơ, bài thơ tuyệt đẹp. Đến lượt mình, Hữu Thỉnh lại làm cho mùa thu có thêm hương sắc mới.
Mùa thu đến với anh khá đột ngột và bất ngờ, không hẹn trước. Bắt đầu không phải là những nét đặc trưng của trời mây hay sắc vàng hoa cúc như trong thơ cổ điển. Bắt đầu là hương ổi thơm náo nức. Một chữ “phả” kia đủ gợi hương thơm như sánh lại. Nó sánh bởi vì hương đậm một phần, sánh còn bởi tại hơi gió se. Hương thơm luồn vào trong gió được tinh lọc, được cô đặc thêm. Gió mùa thu hào phóng đem chia hương mùa thu – bấy giờ là hương ổi chín – tới khắp nơi trong vũ trụ. Tại một vùng quê nhỏ, trong một giây phút nào đó, người viết chợt bắt gặp hương thu và bỗng sững sờ.
Đã cảm được “hương ổi”, đã nhận ra “gió se”, hơn thế nữa mắt lại còn nhìn thấy sương đang “chùng chình qua ngõ”. Những dấu hiệu đặc trưng của mùa thu đều hiện diện. Thế mà sao tác giả lại viết: “Hình như thu đã về”? Còn điều chỉ nữa mà ngờ? Thu đã về thật đấy rồi, sao còn nghi hoặc? Như đã nói ở trên, cái chính là sự bất ngờ, đột ngột. Do bất ngờ nên cả khứu giác (hương ổi), cả xúc giác (hơi gió se), cả thị giác (sương chùng chình) đều mách bảo thu về mà vẫn chưa thể tin, vẫn chưa dám chắc. Cái bảng lảng mơ hồ chính trong cảm giác “hình như” ấy đã tôn thêm vẻ sương khói lãng đãng lúc thu sang. Đó là một nguyên nhân. Nhưng sâu xa hơn, ở đây còn bộc lộ nét sang thu trong hồn người mà sau chúng ta sẽ nói tới.
Hình như thu đã về
Đó là một ấn tượng tổng hợp từ những cảm giác riêng về hương, về gió, về sương. Từ hương nhận ra gió. Từ gió nhận ra sương. Nhưng khi phát hiện “sương chùng chình qua ngõ” thì trong sương cũng có hương, trong sương cũng có gió, và trong sương dường như có cả tình. “Chùng chình” hay chính là sự lưu luyến, bâng khuâng, ngập ngừng, bịn rịn? Cái ngõ mà sương đẫm hương, sương theo gió đang ngập ngừng đi qua vừa là cái ngõ thực, vừa là cái ngõ thời gian thông giữa hai mùa. Phút giao mùa của thiên nhiên ấy, nhìn thấy rồi, cảm thấy rồi mà sững sờ tưởng khó tin. Do đó, “hình như thu đã về” còn như là một câu thầm hỏi lại mình để có một sự khẳng định. [...]
(Vũ Nho, Trích Thiên nhiên và hồn người lúc sang thu,
in trong Đi giữa miền thơ, NXB Văn học, 1999)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
Câu 2. Trong đoạn văn mở đầu:“ Với các thi nhân, mùa thu lưu dấu ấn của mình trong những vần thơ đượm một vẻ riêng trong trẻo...hương sắc mới”, câu văn nào chứa bằng chứng?
Câu 3. Đoạn văn: “Mùa thu đến với anh khá đột ngột và bất ngờ, không hẹn trước. [...]. Tại một vùng quê nhỏ, trong một giây phút nào đó, người viết chợt bắt gặp hương thu và bỗng sững sờ.” được tổ chức theo kiểu đoạn văn nào?
Câu 4. Việc tác giả lặp lại ba câu hỏi tu từ liên tiếp trong những câu văn sau có tác dụng gì?
Thế mà sao tác giả lại viết: “Hình như thu đã về”? Còn điều chi nữa mà ngờ? Thu đã về thật đấy rồi, sao còn nghi hoặc?
Câu 5. Qua những cảm nhận tinh tế của người viết trong đoạn trích, anh/chị hãy trình bày cảm nhận của mình về mùa thu quê hương mình. (Viết trong 5 – 7 dòng).
VIẾT:
1. Từ đoạn trích trên, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) nhận xét về cách cảm nhận thiên nhiên tinh tế của nhà văn Vũ Nho khi bình giảng bài thơ "Sang thu".
2. Từ hình ảnh "sương chùng chình" và khoảnh khắc giao mùa trong đoạn trích, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về ý nghĩa của việc trân trọng những vẻ đẹp bình dị, nhỏ bé trong cuộc sống.
[1] Bà Nguyễn Thị Qùy – vợ của nhà văn
[2] Trò chơi dân gian
[3](*) Lê Ngọc Hân – “Biểu mừng thọ vua Quang Trung 40 tuổi”
[4](*) Lê Ngọc Hân – “Biểu mừng thọ vua Quang Trung 40 tuổi”
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây