Phần 1

(9 câu)
Câu 1

Trong lịch sử phát triển của khoa học, có hai quan điểm khác nhau về cấu tạo chất là quan điểm chất có cấu tạo liên tục và chất có cấu tạo gián đoạn. Mô hình động học phân tử được xây dựng trên quan điểm nào?

Chất có cấu tạo gián đoạn.
Chất có cấu tạo liên tục.
Câu 2

Năm 1827, khi làm thí nghiệm quan sát các hạt phấn hoa rất nhỏ trong nước bằng kính hiển vi, Brown thấy chúng chuyển động hỗn loạn, không ngừng (Hình 1.1 và Hình 1.2). Chuyển động này được gọi là chuyển động Brown.

Vật lí 12, thí nghiệm Brown

Vật lí 12, thí nghiệm Brown

Câu 1:

Tại sao thí nghiệm của Brown được coi là một trong những thí nghiệm chứng tỏ các phân tử chuyển động hỗn loạn, không ngừng?

Vì hạt phấn hoa là một loại phân tử đặc biệt có khả năng phản chiếu lại toàn bộ quỹ đạo chuyển động của các phân tử nước xung quanh.
Vì kích thước của hạt phấn hoa và phân tử nước là tương đương nhau nên chúng có cùng tính chất chuyển động.
Vì hạt phấn hoa chỉ có thể di chuyển hỗn loạn nếu tác nhân va chạm vào nó (phân tử nước) cũng chuyển động hỗn loạn.
Vì khi quan sát dưới kính hiển vi, ta thấy các phân tử nước kéo hạt phấn hoa đi theo những quỹ đạo xác định.
Câu 2:

Làm thế nào để với thí nghiệm của Brown có thể chứng tỏ được khi nhiệt độ của nước càng cao thì các phân tử nước chuyển động càng nhanh?

Chiếu tia sáng mạnh vào cốc nước để quan sát rõ các phân tử nước hơn, từ đó dùng máy đo vận tốc để xác định trực tiếp tốc độ của chúng khi nước nóng lên.
Sử dụng kính hiển vi có độ phóng đại cực lớn để quan sát trực tiếp sự thay đổi vận tốc của từng phân tử nước khi ta đun nóng khối nước trong bình.
Thay đổi nhiệt độ của nước và quan sát sự thay đổi tốc độ của hạt phấn hoa, nếu hạt chuyển động nhanh hơn chứng tỏ lực va chạm từ phân tử nước mạnh lên do tốc độ chúng tăng.
Giữ nguyên nhiệt độ nước nhưng thay đổi kích thước các hạt phấn hoa để so sánh sự va chạm của các phân tử nước vào các diện tích bề mặt khác nhau.
Câu 3

Dựa vào Hình 1.3, hoàn thành bảng dưới đây để mô tả, so sánh khoảng cách và sự sắp xếp, chuyển động của phân tử ở các thể khác nhau.

Vật lí 12, các thể

Thể

Khoảng cách giữa các phân tử

Trật tự sắp xếp phân tử

Chuyển động phân tử

Khí

Rắn

Lỏng

Nhỏ Rất kém Kém Dao động quanh các vị trí không cố định Dao động quanh các vị trí cố định Rất lớn Thẳng về mọi phía Rất cao Rất nhỏ

(Kéo thả hoặc click vào để điền)

Câu 4

Hãy giải thích các đặc điểm sau đây của thể khí, thể rắn, thể lỏng.

Câu 1:

a) Vật ở thể khí không có hình dạng và thể tích riêng, luôn vhieesm toàn bộ thể tích bình chứa và có thể nén được dễ dàng vì

các phân tử khí có khối lượng rất nhỏ nên chúng dễ dàng bị các dòng đối lưu không khí cuốn đi, làm mất đi hình dạng và thể tích ban đầu.
các phân tử khí có kích thước lớn và khối lượng riêng cao hơn nhiều lần so với thể lỏng, làm cho chúng chiếm nhiều không gian trong bình chứa.
khoảng cách giữa các phân tử khí rất lớn, lực liên kết rất yếu nên chúng tự do chuyển động về mọi phía và dễ dàng bị ép lại gần nhau.
khối lượng riêng của chất khí nhỏ nên các phân tử có xu hướng sắp xếp xa nhau để lấp đầy bình chứa nhằm duy trì áp suất ổn định.
Câu 2:

b) Vật ở thể rắn có thể tích và hình dạng riêng, rất khó nén vì

các phân tử ở gần nhau nên lực liên kết rất yếu, tạo điều kiện cho chúng dễ dàng trượt lên nhau để giữ nguyên hình dạng.
các phân tử ở xa nhau nên lực liên kết đủ mạnh để ngăn cản mọi sự chuyển động, làm cho vật thể trở nên cứng, giữ nguyên hình dạng.
các phân tử chất rắn ở gần nhau, có lực liên kết đủ mạnh để giữ chúng chỉ dao động quanh các vị trí cố định xác định.
các phân tử chất rắn đứng yên tuyệt đối tại các vị trí cố định, không thực hiện bất kì hình thức chuyển động nhiệt nào.
Câu 3:

c) Vật ở thể lỏng có thể tích riêng nhưng không có hình dạng riêng vì

các phân tử lỏng có lực liên kết mạnh bằng thể rắn, nhưng khoảng cách giữa chúng quá lớn làm cho hình dạng bị biến đổi liên tục.
lực liên kết giữa các phân tử lỏng lớn hơn thể khí nhưng nhỏ hơn thể rắn, làm chúng dao động quanh các vị trí di động được.
lực liên kết giữa các phân tử lỏng yếu như thể khí, khiến chúng dễ dàng thoát khỏi bình chứa và chuyển động thẳng về mọi phía.
các phân tử lỏng đứng yên tại các vị trí cố định nhưng có thể xoay tròn tại chỗ, giúp khối chất lỏng thay đổi hình dạng theo bình chứa.
Câu 5

Tại sao khi bay hơi nhiệt độ của chất lỏng giảm?

Vì nhiệt độ chỉ tập trung ở các phân tử bề mặt, nên khi các phân tử này bay hơi hết thì khối chất lỏng không còn nguồn cung cấp nhiệt.
Vì khi bay hơi, các phân tử thoát ra ngoài chất lỏng đều là các phân tử có năng lượng lớn, làm cho động năng trung bình của các phân tử còn lại giảm.
Vì các phân tử có năng lượng thấp nhất dễ dàng thắng lực liên kết để thoát ra trước, để lại các phân tử có năng lượng cao làm khối chất lỏng nguội đi.
Vì khi bay hơi, các phân tử chất lỏng va chạm vào nhau và triệt tiêu năng lượng của nhau để tạo điều kiện cho quá trình chuyển thể.
Câu 6

Dưới đây là đồ thị về sự thay đổi nhiệt độ của nước theo thời gian khi được đun sôi.

Vật lí 12, đồ thị

Phát biểu nào sau đây là đúng khi mô tả sự thay đổi nhiệt độ của nước khi được đun từ 2020 oC tới khi sôi?

A
Tại thời điểm t1t_1, nước bắt đầu sôi và nhiệt độ tiếp tục tăng vượt qua ngưỡng 100100 oC cho đến khi toàn bộ nước trong bình bay hơi hết ở t2t_2.
B
Từ thời điểm t1t_1 đến t2t_2, nước bắt đầu sôi nên nhiệt độ sẽ giảm nhẹ xuống dưới 100100 oC do sự bay hơi mang theo một phần nhiệt lượng.
C
Trong suốt quá trình từ lúc bắt đầu đun cho đến thời điểm t2t_2, nhiệt độ của nước luôn tăng tỉ lệ thuận với thời gian đun.
D
Từ lúc bắt đầu đun đến thời điểm t1t_1, nhiệt độ nước tăng dần từ 2020 oC đến 100100 oC; từ t1t_1 đến t2t_2, nước sôi và nhiệt độ được duy trì không đổi.
Câu 7

Khi nước đang sôi, năng lượng mà nước nhận được từ nguồn nhiệt có được chuyển hóa thành động năng của các phân tử nước không?

Có, vì các phân tử nước cần có động năng cực lớn mới có thể thoát khỏi mặt thoáng và chuyển động hỗn loạn trong không gian.
Không, vì nhiệt độ nước không đổi nên năng lượng này không chuyển thành động năng mà chuyển thành thế năng của các phân tử để phá vỡ liên kết.
Có, vì nhiệt năng luôn được chuyển hóa trực tiếp thành động năng để làm tăng nhiệt độ của nước trong suốt quá trình sôi.
Không, vì toàn bộ năng lượng nhận được từ nguồn nhiệt đã bị thất thoát ra môi trường bên ngoài nên không thể chuyển hóa vào bên trong phân tử.
Câu 8

Tại sao chất rắn kết tinh khi được đun nóng có thể chuyển thành chất lỏng?

Vì nhiệt độ tăng làm các phân tử chuyển động mạnh lên, dẫn đến lực liên kết giữa chúng yếu đi và mạng tinh thể bị phá vỡ.
Vì khi đun nóng, các phân tử chất rắn sẽ tự động hút thêm các phân tử khí từ môi trường để làm loãng cấu trúc tinh thể.
Vì nhiệt độ tăng làm cho kích thước các phân tử nhỏ lại, giúp chúng dễ dàng trượt ra khỏi các vị trí trong mạng tinh thể.
Vì nhiệt lượng cung cấp làm các phân tử dãn nở khoảng cách cực lớn, khiến lực tương tác giữa chúng giảm và chuyển sang thể lỏng.
Câu 9

Câu 1:

Hình 1.7 là đồ thị sự thay đổi nhiệt độ của chất rắn kết tinh khi được làm nóng chảy. Phát biểu nào dưới đây là đúng khi mô tả quá trình nóng chảy của chất rắn kết tinh?

Vật lí 12, đồ thị

Nhiệt độ tăng dần đến điểm nóng chảy tct_c, sau đó bắt đầu giảm dần trong suốt thời gian nóng chảy do năng lượng nhiệt đã bị tiêu tốn hoàn toàn cho việc chuyển thể.
Nhiệt độ tăng dần từ lúc bắt đầu đun cho đến khi đạt điểm nóng chảy tct_c, sau đó nhiệt độ của chất rắn luôn được giữ cố định ở 100100 oC.
Nhiệt độ của chất rắn kết tinh luôn tăng liên tục trong suốt quá trình đun nóng cho đến khi chuyển sang thể lỏng.
Nhiệt độ tăng dần từ lúc bắt đầu đun cho đến khi đạt điểm nóng chảy tct_c, sau đó giữ nguyên không đổi trong suốt quá trình nóng chảy và tiếp tục tăng khi đã chuyển hết thành chất lỏng.
Câu 2:

Tại sao khi đang nóng chảy, nhiệt độ của chất rắn kết tinh không tăng dù vẫn nhận được nhiệt năng?

Vì toàn bộ nhiệt năng nhận được đã chuyển hóa thành động năng của các phân tử, làm chúng chuyển động hỗn loạn hơn nhưng không làm tăng nhiệt độ.
Vì nhiệt năng nhận được đã bị thất thoát hoàn toàn ra môi trường xung quanh do sự tiếp xúc trực tiếp giữa bề mặt chất rắn và không khí.
Vì các phân tử chất rắn tự động giải phóng một lượng nhiệt lạnh tương đương với nhiệt năng nhận được để duy trì trạng thái cân bằng nhiệt.
Vì năng lượng lúc này không dùng để tăng động năng phân tử mà được dùng để phá vỡ mạng tinh thể của chất rắn.