Đăng nhập ngay để lưu kết quả bài làm
Đăng nhập

Bài ca ngất ngưởng (Phần 2)

Câu 1

Đọc văn bản sau.

BÀI CA NGẤT NGƯỞNG

Vũ trụ nội mạc phi phận sự,

Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tây kiếm cung mà nên dạng từ bi.

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không tiên, không vướng tục.

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

(Thơ văn Nguyễn Công Trứ, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1958, tr. 156)

Nguyễn Công Trứ đã dùng luận cứ, lí lẽ nào để lập luận khẳng định sự ngất ngưởng trong sự nghiệp làm quan của mình?

Bày tỏ một số quan niệm sống ngang tàng, không màng tới danh lợi.
Nhấn mạnh quá trình học hành, thi cử và các giải thưởng đã đạt được.
Khoe tài học, tài chính trị, quân sự và liệt kê một số chức quan.
Liệt kê một số hành động bản lĩnh như cưỡi bò vàng đeo nhạc ngựa.
Câu 2

Đọc văn bản sau.

BÀI CA NGẤT NGƯỞNG

Vũ trụ nội mạc phi phận sự,

Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tây kiếm cung mà nên dạng từ bi.

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không tiên, không vướng tục.

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

(Thơ văn Nguyễn Công Trứ, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1958, tr. 156)

Tác giả thể hiện lối sống ngất ngưởng qua các hành động nào? (Chọn 3 đáp án)

Vừa lánh tạm để sáng tác nghệ thuật vừa phục vụ công việc triều chính.
Ở ẩn hoàn toàn, không giao du và tiếp xúc với xã hội.
Cưỡi bò vàng có đeo nhạc ngựa một cách ngất ngưởng.
Thay đổi từ người anh hùng sang dáng vẻ của người tu hành từ bi.
Đi thăm thú, vãng cảnh, lên chùa mang theo các cô hầu gái.
Câu 3

Đọc văn bản sau.

BÀI CA NGẤT NGƯỞNG

Vũ trụ nội mạc phi phận sự,

Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tây kiếm cung mà nên dạng từ bi.

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không tiên, không vướng tục.

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

(Thơ văn Nguyễn Công Trứ, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1958, tr. 156)

Trong các nhận định sau, nhận định nào đúng, nhận định nào sai khi nói về các quan niệm ngất ngưởng của ông Hy Văn?

(Nhấp vào ô màu vàng để chọn đúng / sai)
a) Việc được hay mất, khen hay chê là lẽ tất yếu trong cuộc sống mà con người không nên quá chú tâm.
b) Coi trọng danh lợi, danh dự cá nhân, để ý tới sự đánh giá của người đời.
c) Sống có trách nhiệm gắn liền tài đức của bản thân với thái độ sống coi trọng nghĩa vua tôi.
d) Sống hưởng lạc, vui vẻ với thú vui ca trù, không tín ngưỡng, sống thoả thích theo ý của mình.
e) Giữ lối sống khuôn phép, tin tưởng tuyệt đối vào Phật và tiên, tránh xa mọi thú vui trần thế.
Câu 4

Đọc văn bản sau.

BÀI CA NGẤT NGƯỞNG

Vũ trụ nội mạc phi phận sự,

Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tây kiếm cung mà nên dạng từ bi.

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không tiên, không vướng tục.

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

(Thơ văn Nguyễn Công Trứ, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1958, tr. 156)

Điền từ thích hợp vào chỗ trống.

Chủ đề chính của văn bản "Bài ca ngất ngưởng" (Nguyễn Công Trứ) thể hiện phong cách sống đẹp, có , biểu hiện cụ thể ở chỗ sống hết lòng vì vua, vì nước; bất chấp khen chê, được mất; đặc biệt ý thức về giá trị , địa vị của bản thân. Bản chất của phong cách sống đẹp là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trách nhiệm xã hội và cá nhân. Đây chính là biểu hiện của một nhân cách lớn, có bản lĩnh lựa chọn và hành động.

Câu 5

Đọc văn bản sau.

BÀI CA NGẤT NGƯỞNG

Vũ trụ nội mạc phi phận sự,

Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tây kiếm cung mà nên dạng từ bi.

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không tiên, không vướng tục.

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

(Thơ văn Nguyễn Công Trứ, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1958, tr. 156)

Ngôn từ hát nói được Nguyễn Công Trứ sử dụng trong văn bản có những đặc điểm nào? (Chọn 2 đáp án)

Vay mượn nhiều từ Hán Việt tạo nên giọng thơ trang nghiêm, cổ kính.
Chủ yếu dùng từ ngữ đời thường, tránh hoàn toàn yếu tố trang trọng và điển tích.
Mang giọng điệu vừa bác học, cao quý vừa gần gũi, thân thuộc.
Đan xen kết hợp từ Hán Việt, điển tích – điển cố với từ ngữ đời thường, dân dã.