Đăng nhập ngay để lưu kết quả bài làm
Đăng nhập

Bài ca ngất ngưởng (Phần 1)

Câu 1

VỀ TÁC GIẢ NGUYỄN CÔNG TRỨ

a. Cuộc đời

– Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn.

– Quê quán: Huyện Nghi Xuân, Tỉnh Hà Tĩnh, từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, ham học và có tính cách phóng khoáng, tài hoa.

– Con đường quan lộ: Trải dài 28 năm phục vụ qua các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

– Ông được thăng thưởng nhiều lần vì công trạng lớn, có khi làm đến chức Thượng thư, Tổng đốc nhưng không ít lần thăng giáng, lúc bị kết án trảm giam hậu, rồi lại được tha, lúc bị cách hết chức vụ.

b. Con người

– Giàu năng lực, cốt cách tài tử phong lưu, dám sống, dám khẳng định cá tính.

– Giàu tình yêu nước, thương dân.

c. Sự nghiệp sáng tác

– Chủ yếu sáng tác thơ Nôm, hiện còn biết được trên 150 tác phẩm ở nhiều thể loại như phú, câu đối, hát nói, thơ Đường luật. Ông có đóng góp đặc biệt quan trọng cho sự định hình và phát triển của thể thơ hát nói.

– Phong cách sáng tác thơ sinh động, giàu triết lí nhân sinh, phóng túng, ngạo nghễ với ba mảng đề tài lớn:

+ Chí nam nhi là phải lập công danh hiển hách.

+ Nỗi niềm ngao ngán trước cái nghèo, thế thái nhân tình.

+ Triết lí sống hưởng lạc, an nhiên.

→ Cuộc đời và thơ ca Nguyễn Công Trứ thể hiện rõ tài năng và nhân cách lớn với phong cách sống độc đáo, cốt cách tài tử, tâm hồn thanh cao.

Trong các nhận định sau, nhận định nào đúng, nhận định nào sai khi nói về Nguyễn Công Trứ?

(Nhấp vào ô màu vàng để chọn đúng / sai)
a) Sau khi đỗ Giải Nguyên, ông làm quan triều nhà Nguyễn.
b) Quê quán ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
c) Nguyễn Công Trứ là một quan văn với tài năng lỗi lạc.
d) Tự là Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu là Hy Văn.
Câu 2

VỀ TÁC GIẢ NGUYỄN CÔNG TRỨ

a. Cuộc đời

– Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn.

– Quê quán: Huyện Nghi Xuân, Tỉnh Hà Tĩnh, từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, ham học và có tính cách phóng khoáng, tài hoa.

– Con đường quan lộ: Trải dài 28 năm phục vụ qua các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

– Ông được thăng thưởng nhiều lần vì công trạng lớn, có khi làm đến chức Thượng thư, Tổng đốc nhưng không ít lần thăng giáng, lúc bị kết án trảm giam hậu, rồi lại được tha, lúc bị cách hết chức vụ.

b. Con người

– Giàu năng lực, cốt cách tài tử phong lưu, dám sống, dám khẳng định cá tính.

– Giàu tình yêu nước, thương dân.

c. Sự nghiệp sáng tác

– Chủ yếu sáng tác thơ Nôm, hiện còn biết được trên 150 tác phẩm ở nhiều thể loại như phú, câu đối, hát nói, thơ Đường luật. Ông có đóng góp đặc biệt quan trọng cho sự định hình và phát triển của thể thơ hát nói.

– Phong cách sáng tác thơ sinh động, giàu triết lí nhân sinh, phóng túng, ngạo nghễ với ba mảng đề tài lớn:

+ Chí nam nhi là phải lập công danh hiển hách.

+ Nỗi niềm ngao ngán trước cái nghèo, thế thái nhân tình.

+ Triết lí sống hưởng lạc, an nhiên.

→ Cuộc đời và thơ ca Nguyễn Công Trứ thể hiện rõ tài năng và nhân cách lớn với phong cách sống độc đáo, cốt cách tài tử, tâm hồn thanh cao.

Nhận xét nào sau đây phù hợp với con đường quan lộ của Nguyễn Công Trứ?

Gập ghềnh, bị nghi oan và kết thúc trong vỏn vẹn mười năm.
Gặp nhiều may mắn, được thăng thưởng nhiều lần.
Gặt hái nhiều thành tựu lớn, làm nhiều chức vụ.
Nhiều biến động, lúc được thăng thưởng, lúc thăng giáng.
Câu 3

Đọc văn bản sau.

BÀI CA NGẤT NGƯỞNG

Vũ trụ nội mạc phi phận sự,

Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tây kiếm cung mà nên dạng từ bi.

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không tiên, không vướng tục.

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

(Thơ văn Nguyễn Công Trứ, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1958, tr. 156)

Tác phẩm “Bài ca ngất ngưởng” thuộc thể loại

hát nói.
thơ.
truyện ngắn.
kí.
Câu 4

Đọc văn bản sau.

BÀI CA NGẤT NGƯỞNG

Vũ trụ nội mạc phi phận sự,

Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tây kiếm cung mà nên dạng từ bi.

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không tiên, không vướng tục.

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

(Thơ văn Nguyễn Công Trứ, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1958, tr. 156)

Nối các nội dung tương ứng với từng phần để xác định bố cục văn bản.

Câu 5

Đọc văn bản sau.

BÀI CA NGẤT NGƯỞNG

Vũ trụ nội mạc phi phận sự,

Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tây kiếm cung mà nên dạng từ bi.

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không tiên, không vướng tục.

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

(Thơ văn Nguyễn Công Trứ, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1958, tr. 156)

Cảm hứng chủ đạo của văn bản "Bài ca ngất ngưởng" được kết tinh qua từ

"Ông Hy Văn".
"tay ngất ngưởng".
"bò vàng".
"ngất ngưởng".