Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Qua văn bản “Buổi học cuối cùng” hình ảnh người thầy giáo yêu nước Ha-men hiện lên thật nghiêm khắc mà mẫu mực – người thầy đã dành trọn bốn mươi năm tâm huyết cho nghề nhà giáo cao quí, bốn mươi năm tâm huyết để truyền dạy tiếng mẹ đẻ cho các thế hệ trẻ vùng An-dát biên giới xa xôi. Để rồi một ngày, thầy nhận được lệnh từ Béc-lin: “từ nay chỉ dạy tiếng Đức ở các trường vùng An-dát, Lo-ren…” thế là các kỉ niệm đau đớn như ùa về với thầy đem theo sự hối hận tận cùng…Thầy nhớ như in những ngày thầy bắt học trò tưới vườn thay vì học hành, rồi những ngày thầy đã không ngại ngùng cho học trò nghỉ học khi mún đi câu cá hương. Nhưng tình yêu nước tha thiết đã trỗi dậy trong thầy vào buổi học tiếng Pháp cuối cùng: thầy mặc chiếc áo Gơ-đanh-gốt vốn chỉ dùng trong những hôm quan trọng, giọng nói thầy tha thiết hơn bao giờ hết và chưa bao giờ thầy kiên nhẫn giảng giải đến vậy. Người thầy tội nghiệp như muốn truyền hết tri thức của mình và một lúc nhét hết nó vào đầu tụi học trò thơ ngây. Đồng hồ đã điểm mười hai giờ, thầy đứng trên bục, người thầy tái nhợt, bất lực ra hiệu cho tụi học trò: “kết thúc rồi…đi đi thôi!”. Tuy nhiên, trong điểm tột cùng của sự đau xót, thầy Ha-men đã có một hành động thật anh dũng, cao cả thể hiện tấm lòng yêu nước, yêu thiết tha tiếng mẹ đẻ đó là cầm phấn dằn hết sức, thầy cố viết thật to:
“NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM”
Hình ảnh Bác Hồ trong bài thơ "Đêm nay Bác không ngủ" của Minh Huệ đã để lại trong lòng em những xúc động vô cùng sâu sắc. Trải qua một đêm dài trên đường chiến dịch, Bác không hề chợp mắt mà lặng lẽ ngồi bên bếp lửa hồng để sưởi ấm cho các anh chiến sĩ. Dáng ngồi "trầm ngâm", mái tóc bạc phơ cùng gương mặt chòm râu im lặng thể hiện sự lo lắng, trăn trở khôn nguôi của một vị Lãnh tụ dành cho đất nước. Bác nhẹ nhàng "đi gém chăn" cho từng người với bước chân "nhẹ nhàng" vì sợ làm các anh thức giấc, đó là sự chăm sóc tận tụy như một người cha già kính yêu. Tình yêu thương ấy không dừng lại ở những người lính trong túp lều bạt nhỏ mà rộng lớn hơn là nỗi thương "đoàn dân công" phải ngủ ngoài rừng gầm ghì gió lạnh. Lời Bác bộc bạch với anh đội viên giản dị mà chứa chan triết lý, rằng Bác không thể yên lòng khi nhân dân còn chịu khổ cực. Nhìn Bác, anh chiến sĩ như thấy bóng dáng Bác cao lớn, ấm áp vượt lên cả không gian và thời gian. Qua cái nhìn đầy yêu thương và tôn kính của người lính trẻ, Bác Hiện lên thật gần gũi, vừa vĩ đại lại vừa mỏng mảnh chân tình. Đêm không ngủ ấy chỉ là một trong vô vàn đêm Bác hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đọc bài thơ, em thêm tự hào, biết ơn và kính trọng tình yêu thương bao la của Bác dành cho non sông, đất nước.
Hình ảnh chú bé Lượm trong bài thơ cùng tên của nhà thơ Tố Hữu đã khắc họa một biểu tượng đầy tự hào về thế hệ trẻ Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ấn tượng đầu tiên về Lượm là một chú bé liên lạc nhỏ nhắn, nhanh nhẹn với cái xắc xéo xinh xinh và chiếc ca lô đội lệch rất ngộ nghĩnh. Dáng đi "thoăn thoắt", đầu "nghênh nghênh" cùng tiếng huýt sáo như con chim chòe nhảy trên đường vàng thể hiện sự hồn nhiên, yêu đời và tinh thần lạc quan đáng quý. Dù tuổi đời còn rất nhỏ, Lượm đã đảm nhận công việc liên lạc đầy gian khổ, nguy hiểm nhưng chú không hề sợ hãi mà coi đó là niềm vui, niềm tự hào. Hình ảnh Lượm dũng cảm vượt qua mưa bom đạn xối để vận chuyển thư "Thượng khẩn" đã làm nổi bật khí tiết anh hùng và lòng yêu nước nồng nàn. Sự ra đi đột ngột của Lượm trên đồng lúa thơm ngát hương quê hương khiến em không khỏi bàng hoàng và nghẹn ngào xúc động. Lượm gục xuống, tay nắm chặt bông lúa như đang thiếp đi trong vòng tay ôm ấp của đất mẹ hiền. Dù chú bé đã hy sinh, nhưng những câu thơ lặp lại ở cuối bài như khẳng định Lượm vẫn sống mãi trong lòng người đọc với nụ cười tươi tắn ấy. Nhân vật Lượm không chỉ gợi cho em niềm thương xót mà còn thôi thúc trong em lòng biết ơn sâu sắc đối với những anh hùng nhỏ tuổi đã ngã xuống vì độc lập tự do.
Đối với văn bản " Buổi học cuối cùng" nhân vật để lại nhiều ấn tượng nhất đó là thấy giáo Ha-men. Thấy giáo trong buổi học cuối cùng hiện lên trong ánh mắt của học sinh với bộ lễ phục chỉ dùng vào những ngày đặc biệt khi có thanh tra hoặc phát thưởng: áo rơ-đanh-gốt màu xanh lục diềm lá sen gấp nếp mịn và đội mũ tròn bằng lụa đen thêu. Thầy Ha-men hôm nay rất dịu dàng, không giận dữ quát mắng; kiên nhẫn giảng bài, chuẩn bị bài học rất chu đáo. Thầy coi tiếng Pháp là vũ khí, là chìa khóa của chốn lao tù. Ca ngợi tiếng Pháp, tự phê bình mình và mọi người có lúc đã sao nhãng việc học tập và dạy tiếng Pháp. Thầy Ha- men xúc động mạnh, người tái nhợt, nghẹn ngào, không nói được hết câu, nhưng thầy đã dồn hết sức mạnh để viết lên bảng dòng chữ thật to: "Nước Pháp muôn năm". Thấy được người thầy luôn yêu tiếng mẹ đẻ, dành hết tâm huyết cho những học sinh của mình. Người thầy chính là người truyền những năng lượng tích cực và tư tưởng cho những bạn đọc.
BPTT:tự tìm
Qua văn bản “Buổi học cuối cùng” hình ảnh người thầy giáo yêu nước Ha-men hiện lên thật nghiêm khắc mà mẫu mực – người thầy đã dành trọn bốn mươi năm tâm huyết cho nghề nhà giáo cao quí, bốn mươi năm tâm huyết để truyền dạy tiếng mẹ đẻ cho các thế hệ trẻ vùng An-dát biên giới xa xôi. Để rồi một ngày, thầy nhận được lệnh từ Béc-lin: “từ nay chỉ dạy tiếng Đức ở các trường vùng An-dát, Lo-ren…” thế là các kỉ niệm đau đớn như ùa về với thầy đem theo sự hối hận tận cùng…Thầy nhớ như in những ngày thầy bắt học trò tưới vườn thay vì học hành, rồi những ngày thầy đã không ngại ngùng cho học trò nghỉ học khi mún đi câu cá hương. Nhưng tình yêu nước tha thiết đã trỗi dậy trong thầy vào buổi học tiếng Pháp cuối cùng: thầy mặc chiếc áo Gơ-đanh-gốt vốn chỉ dùng trong những hôm quan trọng, giọng nói thầy tha thiết hơn bao giờ hết và chưa bao giờ thầy kiên nhẫn giảng giải đến vậy. Người thầy tội nghiệp như muốn truyền hết tri thức của mình và một lúc nhét hết nó vào đầu tụi học trò thơ ngây. Đồng hồ đã điểm mười hai giờ, thầy đứng trên bục, người thầy tái nhợt, bất lực ra hiệu cho tụi học trò: “kết thúc rồi…đi đi thôi!”. Tuy nhiên, trong điểm tột cùng của sự đau xót, thầy Ha-men đã có một hành động thật anh dũng, cao cả thể hiện tấm lòng yêu nước, yêu thiết tha tiếng mẹ đẻ đó là cầm phấn dằn hết sức, thầy cố viết thật to:
“NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM”
Qua văn bản “Buổi học cuối cùng” hình ảnh người thầy giáo yêu nước Ha-men hiện lên thật nghiêm khắc mà mẫu mực – người thầy đã dành trọn bốn mươi năm tâm huyết cho nghề nhà giáo cao quí, bốn mươi năm tâm huyết để truyền dạy tiếng mẹ đẻ cho các thế hệ trẻ vùng An-dát biên giới xa xôi. Để rồi một ngày, thầy nhận được lệnh từ Béc-lin: “từ nay chỉ dạy tiếng Đức ở các trường vùng An-dát, Lo-ren…” thế là các kỉ niệm đau đớn như ùa về với thầy đem theo sự hối hận tận cùng…Thầy nhớ như in những ngày thầy bắt học trò tưới vườn thay vì học hành, rồi những ngày thầy đã không ngại ngùng cho học trò nghỉ học khi mún đi câu cá hương. Nhưng tình yêu nước tha thiết đã trỗi dậy trong thầy vào buổi học tiếng Pháp cuối cùng: thầy mặc chiếc áo Gơ-đanh-gốt vốn chỉ dùng trong những hôm quan trọng, giọng nói thầy tha thiết hơn bao giờ hết và chưa bao giờ thầy kiên nhẫn giảng giải đến vậy. Người thầy tội nghiệp như muốn truyền hết tri thức của mình và một lúc nhét hết nó vào đầu tụi học trò thơ ngây. rồi thầy khuyên mọi ngời phải biết yêu quý tiếng Pháp, thầy ca ngợi sự giàu đẹp của tiếng Pháp. qua đó biểu lộ tình cảm yêu nớc và tự hào tiếng nói của dân tộc mình. thầy nói tiếng nói dân tộc là tài sản tinh thần vô giá, đợc vun đắp qua hàng nghìn năm. Phải biết yêu quý, nắm vững, giữ gìn tiếng nói của dân tộc mình, nhất là khi đất nớc rơi vào vòng nô lệ. Nó không chỉ là tài sản quý báy của dân tộc mà còn là phơng tiện quan trọng để đấu tranh giành lại độc lập tự do.Đồng hồ đã điểm mười hai giờ, thầy đứng trên bục, người thầy tái nhợt, bất lực ra hiệu cho tụi học trò: “kết thúc rồi…đi đi thôi!”. Sự xúc động, đau đớn trong lòng thầy lên đến cực điểm. thầy Ha-men đã cầm phấn dằn hết sức, thầy cố viết thật to:“NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM”.đó là tất cả Lòng yêu nớc yêu và sự quý trọng tiếng nói của dân tộc của thầy và thầy đã truyền tình yêu cho tất cả các học trò và dân làng.