K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

16 tháng 9 2019

Tham khảo:

Nguyễn Du đã rất tài tình trong việc miêu tả vẻ đẹp của chị em Thúy Vân Thúy Kiều
Chỉ trong bốn câu thơ đầu , Thúy Vân đã được vẻ nên bằng một bút pháp thật tài tình :
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Thúy Vân có một vẻ đẹp thật lộng lẫy , đài các - vẻ đẹp của một cô gái khuê các , "trang trọng khác vời " . Gương mặt tròn trịa như mật trăng đêm rằm với đôi lông mày rậm và dài - vẻ đẹp truyền thống của người con gái trong chế độ phong kiến . Nàng Vân có giọng nói nhẹn nhàng , nụ cười tươi như hoa như ngọc . Vẻ đẹp của nàng làm cho thiên nhiên phải cúi mình " mây thua nước tóc tuyết nhường màu da" . Dường như từ khi sinh ra , tạo hóa đã ưu ái giành cho Vân vẻ đẹp diễm lệ , thanh tao và còn cho nàng một số phận mĩ mãn , êm đềm .
Thúy Vân đã đẹp , Thúy Kiều còn đẹp hơn ,càng " sắc sảo mặn mà" hơn bội phần , " so bề tài sắc lại là phần hơn " . Nàng có đôi mắt trong sáng như làn nước mùa thu, lại có đôi lông mày mảnh mai , thanh thoát như nét núi mùa xuân . Vẻ đẹp của nàng làm cho cả tạo hóa phải ghen tị , hờn giận vì thua kém . Ko chỉ có sắc đẹp " nghiêng nước nghiêng thành" , Thúy Kiều còn có sự thông minh , khéo léo , thông thạo cả cầm , kì , thi , họa . Nàng đã tự tay viết nên một khúc ca " Bạc mệnh" , một khúc ca ai oán , nao lòng , làm cho mọi người nghe thấy đều phải xúc động .
Nguyện Du đã rất tài tình trong việc miêu tả 2 chị em Thúy Vân Thúy Kiều . Bằng một bút pháp ước lệ tài tình , Nguyễn Du đã vẽ nên bức tranh của 2 thiếu nữ đang tuổi xuân thì mộy cách khéo léo . Nguyễn Du miêu ta Thúy Vân trước để làm nền miêu tả Thúy Kiều . Qua đó làm nổi bật vẻ đẹp của Thúy Kiều . Đồng thời cũng dự đoán đc số phận của hai chị em .

16 tháng 9 2019

Vẻ đẹp của Thúy Kiều là vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt thế, Kiều sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn.Vẻ đẹp của Kiều còn là sự kết hợp của cả sắc-tài-tình, tác giả đã dùng thành ngữ "nghiêng nước nghiêng thành" để cực tả giai nhân.

Câu thơ đầu "Kiều càng sắc sảo mặn mà" giới thiệu và khái quát đặc điểm nhân vật. Kiều sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn.

Để gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiểu, tác giả đã sử dụng bút pháp nghệ thuật ước lệ là "làn thu thủy"- làn nước mùa thu ý nói đôi mắt của Kiều đẹp và trong trẻo như nước mùa thu và "nét xuân sơn"- nét núi mùa xuân ý nói chân mày của Kiều đẹp và thanh thoát như nét núi mùa xuân.

Bên cạnh vẻ đẹp hình thức tác giả còn nhấn mạnh vẻ đẹp của tài năng. Tài năng của Kiều đạt tới mức lí tưởng theo quan niệm thẫm mĩ phong kiến gồm đủ cả cầm kì thi họa, đặc biệt tài đàn của nàng đã là năng khiếu, sở trường "nghề riêng", vượt lên trên mọi người "ăn đứt"

Chân dung của Kiều là chân dung mang số phận. Vẻ đẹp của Kiều làm cho tạo hóa phải ghen ghét, đố kị nên số phận nàng sẽ éo le, đau khổ.

Đoạn thơ được trích trong tác phẩm " Ta đi tới " của tác giả Tố Hữu đã để lại cho em ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp thiên nhiên quê hương nước ta. Qua đoạn thơ, em cảm nhận được tình cảm gắn bó và niềm tự hào vẻ vang về thiên nhiên đất nước . Cùng với việc sử dụng các biện pháp tu từ như liệt kê, đảo ngữ , những câu thơ hiện lên một cách hấp dẫn , giàu tính biểu cảm...
Đọc tiếp

Đoạn thơ được trích trong tác phẩm " Ta đi tới " của tác giả Tố Hữu đã để lại cho em ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp thiên nhiên quê hương nước ta. Qua đoạn thơ, em cảm nhận được tình cảm gắn bó và niềm tự hào vẻ vang về thiên nhiên đất nước . Cùng với việc sử dụng các biện pháp tu từ như liệt kê, đảo ngữ , những câu thơ hiện lên một cách hấp dẫn , giàu tính biểu cảm . Giúp khắc họa lên nên một bức tranh rực rỡ , tươi sáng . Những chi tiết rừng cọ xanh tươi và đồi chè xanh ngát màu lá vẽ lên một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp.Ánh nắng chói chang của mặt trời chiếu xuống dòng sông Lô,làm cho làn nước trong veo tỏa sáng rực rỡ lấp lánh.Tiếng hò ô vang lên từ những người dân vui tươi ca hát,mang theo niềm vui và sự hứng khởi của cuộc sống.Những chuyến phà trên bến nước Bình Ca,giữa những cơn sóng nhè nhẹ,gợi lên một không gian bình yên.Đoạn thơ khiến em tràn đầy niềm tự hào và biết ơn với đất nước của mình,một nơi được vẽ lên từ những khung cảnh tuyệt đẹp và hấp dẫn.

1
6 tháng 2

Em cần hỏi gì nhỉ?

11 tháng 6 2018

Nguyễn Ái Quốc là một vị lãnh tụ vĩ đại, một con người tiêu biểu cho lòng yêu nước, như chính cái tên của Người. Tác phẩm “bản án chế độ thực dân Pháp” được Người viết trong thời gian hoạt động cách mạng tại Pháp là một đòn chí mạng giáng vào chủ nghĩa thực dân. Trong đó, phần I, “chiến tranh và người bản xứ” ở chương “thuế máu”, đã vạch rõ bộ mặt thật sự của quan cai trị Pháp với người bản xứ
“Thuế Máu” là chương đầu tiên của tác phẩm. Trong chương này, tác giả chủ yếu là nói lên sự tàn bạo bất nhân của các quan cai trị cầm quyền Pháp. Từ khi đặt ách cai trị lên đất nước ta, thực dân Pháp đã đưa ra hàng trăm thứ thuế ngặt nghèo để bóc lột dân Việt Nam. Nhưng thứ thuế mà độc ác nhất, bất cứ quốc gia bị đô hộ nào cũng lên án đó là “Thuế Máu”, là phải trả thuế bằng máu, hay có nghĩa là bắt buộc dân bản xứ phải đi lính, làm tiên phong trong các trận đánh của nước Mẹ, chịu chết thay cho các cấp chỉ huy, cho người Pháp. Vì thế, dùng từ “Thuế Máu” để đặt tên cho nhan đề của chương I, Nguyễn Ái Quốc đã nêu bật lên sự dã man của thực dân Pháp đối với đồng bào ta.
Trong phần “chiến tranh và người bàn xứ”, tác giả đã khái quát lên được bản chất đểu giả của bọn thực dân Pháp. Trước chiến tranh, chúng chỉ xem người bản xứ chúng ta là những tên An-nam-mít bẩn thỉu, chỉ biết làm cu li, kéo xe tay và giỏi ăn đòn của các quan cầm quyền. Ấy vậy mà khi chiến tranh xảy ra, những người bản xứ lại được yêu quí, được xem như những đứa “con yêu”, “bạn hiền”, những người bình thường bỗng dưng trở thành “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”. Nhưng thực chất thì chúng có yêu qu‎í gì dân ta đâu, chúng chỉ tìm mọi thủ đoạn lừa bịp, xảo quyệt để bắt buộc dân ta đi lính. Và chắc hẳn các bạn đã biết số phận của họ ra sao rồi! Để trả giá cho những “vinh dự” ấy họ phải rời bỏ quê hương của mình, đi làm bia đỡ đạn cho lính của nước mẹ, được vào cung cấm của vua Thổ, “lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngày thống chế”. Không những thế, họ còn được xuống bảo vệ các loại thủy quái sau khi được chứng kiến trò bắn ngư lôi. Chịu những cái chết vô nghĩa, tàn khốc, bi thảm. Đó là cái giá của người bản xứ phải trả cho cuộc sống nô lệ, cho những người tự xưng là “khai phá văn minh” đất nước họ. Nguyễn Ái Quốc đã dùng những con số biết nói rất cụ thể, cho ta thấy có rất nhiều người một đi không trở về: “tổng cộng có bảy mươi vạn người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp, và trong số ấy, tám vạn người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa.”
Khi viết tác phẩm, Người đã những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc, hàng loạt mĩ từ, có tác dụng mỉa mai, châm biếm được sử dụng như: “con yêu”, “bạn hiền”, “chiến tranh vui tươi”, “lập tức”..., nhằm vạch trần bộ mặt xảo trá, lật lọng của bọn thực dân Pháp. Chỉ ra rõ ràng thái độ của bọn cai trị đã thay đổi mau chóng như thế nào khi chiến tranh xảy ra với “Mẫu quốc” và mục đích của chúng chỉ là muốn lợi dụng xương máu của đồng bào ta mà thôi! Không chỉ vậy, Người còn rất linh hoạt trong việc kết hợp các phép đối lập, miêu tả, những giọng văn chua cay, thêm phần bình luận giúp người người đọc thấy rõ sự nham hiểm của chế độ thực dân Pháp đối với người bản xứ.
Đoạn trích trên là lời tố cáo đanh thép nhất đối với chính quyền Pháp thuộc, là đòn tiến công quyết liệt vào chủ nghĩa thực dân. Tác phẩm là một bức tranh ---- cùng, tủi nhục của người dân nô lệ, không chỉ riêng ở nước ta mà còn ở các thuộc địa trên toàn thế giới. Tố cáo chế độ cai trị cũng có nghĩa là vạch ra con đường đấu tranh để giải phóng đất nước, giành quyền độc lập. Nguyễn Ái Quốc đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, chỉ ra cho các dân tộc bị nô lệ trên khắp thế giới một chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do.”
Theo em, tác phẩm trên vẫn có giá trị cho đến ngày nay, bởi vì nhiều nơi trên thế giới vẫn còn xảy ra chiến tranh. Nhân dân nhiều nước vẫn đang đổ máu để giành lại độc lập cho tổ quốc mình chứ nhất định không cúi đầu làm nô lệ, không chịu mất nước! Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh!
hok tốt

Đoạn thơ:“Ta đi tới” được trích từ bài thơ cùng tên của tác giả Tố Hữu đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc.Qua đoạn thơ,em cảm nhận được tình yêu nước cháy bỏng và niềm tự hào về vẻ đẹp của quê hương trong lòng tác giả Tố Hữu. Câu thơ mở đầu:“Đẹp vô cùng,Tổ quốc ta ơi!” như một tiếng reo vui,tha thiết,thể hiện sự súc động của nhà thơ trước cảnh...
Đọc tiếp

Đoạn thơ:“Ta đi tới” được trích từ bài thơ cùng tên của tác giả Tố Hữu đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc.Qua đoạn thơ,em cảm nhận được tình yêu nước cháy bỏng và niềm tự hào về vẻ đẹp của quê hương trong lòng tác giả Tố Hữu. Câu thơ mở đầu:“Đẹp vô cùng,Tổ quốc ta ơi!” như một tiếng reo vui,tha thiết,thể hiện sự súc động của nhà thơ trước cảnh đẹp của quê hương ,đồng thời khơi gọi niềm tự hào biết ơn của mỗi người đối với Tổ quốc.Không chỉ vậy, những hình ảnh:“đồi chè”,“đồng xanh”,“sông Lô”, “bến nước Bình Ca” đã gợi trong thâm tâm người đọc vẻ đẹp thuần tuý, bình yên cùng tình cảm sâu sắc của mỗi người đối với quê hương.Qua đó,đoạn thơ gợi lên sự bình yên vẻ đẹp tha thiết của Tổ quốc,đồng thời cũng là tình yêu quê hương sâu sắc trong lòng mỗi người.

0
2 tháng 3 2022

Bài thơ Quê hương - tác giả Tế Hanh
Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá - tác giả Huy Cận

Bạn thử tham khảo

5 tháng 10 2022

Đọc Tức nước vỡ bờ, ta càng hiểu thêm được sự trân quý trong nét đẹp của một người phụ nữ chân quê hết mực yêu thương chồng con và tiềm tàng sức mạnh phản kháng. Vì thương chồng, chị đã phải cắn răng nhịn nhục bán đi đàn chó và đứa con thơ chỉ để nộp đủ những loại sưu thuế vô lý để cứu được anh Dậu trở về. Nhưng rồi “ con giun xéo lắm cũng quằn”, anh Dậu bị đánh đập tới còn nửa cái mạng mà vừa trở về đến nhà, chưa kịp húp bát cháo, lũ tay sai đã lăm le tới bắt trói anh. Trước sự hống hách, nghênh ngang, độc ác của chúng, lúc này đây, chị Dậu đã không nhịn được nữa, chị đã đứng lên chống lại cường quyền, đánh nhau với chúng để bảo vệ được anh Dậu. Hành động của chị tuy là bộc phát nhưng nó đại diện cho những hình ảnh người nông dân trong chế độ nửa phong kiến nửa thuộc địa xưa khi bị dồn đến đường cùng. Họ là những con người dũng cảm, sẵn sàng đứng lên, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ những gì mà bản thân mình quý trọng nhất.

26 tháng 10 2016
Trong cơn nguy kịch, chị Dậu đã lay gọi và tìm mọi cách cứu chữa cho chồng. Hàng xóm đã kéo đến, người an ủi, người cho vay gạo nấu cháo...Cháo chín, chị múc ra bát, lấy quạt quạt cho nguội để chồng "ăn lấy vài húp" vì chồng chị đã "nhịn xuông từ sáng hôm qua tới giờ còn gì". Trong tiếng trống, tiếng tù và, chị Dậu khẩn khoản tha thiết mời chồng "Thầy em cố gắng dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột". Lời người đàn bà nhà quê mới chồng ăn cháo lúc hoạn nạn chứa đựng biết bao tình yêu thương, an ủi, vỗ về. Cái cử chỉ chị bế cài Tửu ngồi xuống cạnh chồng "cố ý chờ xem chồng ăn có ngon miệng không" đã biểu lộ sự săn sóc và yêu thương của người vợ đối với người chồng đang đau ốm, tính mạng đang bị bọn cường hào đe doạ. Tình cảm ấy là hơi thở dịu dàng thức tỉnh sự sống cho anh Dậu. Dường như mỗi cử chỉ, hành động của anh Dậu đều có ánh mắt thấp thỏm, lo lắng của chị Dậu dõi theo. Yêu chồng, chị dám đánh lại bọn tay sai để bảo vệ chồng. Đó là biểu hiện đẹp đẽ nhất của tình yêu thương chồng trong chị. Chị quả là một người mẹ, người vợ giàu tình yêu thương.
Và có lẽ chính sự giàu tình yêu thương ấy của chị của chị mà trong chị luôn tiềm ẩn sức sống mạnh mẽ để khi bọn cai lện sầm sập tiến vào bắt trói anh Dậu chị đã dũng cảm đứng lên bảo vệ chồng.
26 tháng 10 2016
Khi bọn tay sai, người nhà lí trưởng "sầm sập" tiến vào với tay thước, roi song, dây thừng thét trói kẻ thiếu sưu, chị Dậu đã nhẫn nhục chịu đựng, cố van xin tha thiết bằng giọng run run cầu khẩn "Hai ông làm phúc bói với ông lí cho cháu khất". Cách xử sự và xưng hô của chị thể hiện thái độ chịu đựng. Chị có thái độ như vậy là vì chị biết thân phận bé mọn của mình, biết cái tình thế ngặt nghèo của gia đình mình. Trong hoàn cảnh này, chị chỉ mong chúng tha cho anh Dậu, không đánh trói, hành hạ anh. Nhưng tên cai lệ không những không động lòng thương mà lại còn chửi mắng chị thậm tệ. Tên cai lệ chạy sầm sập đến trói anh Dậu, tính mạng người chồng đang bị đe doạ, chị Dậu "xám mặt" vội vàng đỡ lấy tay hắn nhưng vẫn cố van xin thảm thiết "Cháu van ông! Nhà cháu mới tỉnh được một lúc, ônh tha cho". Nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, chị Dậu càng nhẫn nhịn, tên cai lệ càng lấn tới. Hắn mỗi lúc lại lồng lên như một ***** điên "bịch luôn vào nhưng chị mấy bịch" rồi "tát vào mặt chị một cái đánh bốp" và nhảy vào trói anh Dậu... Tức là hắn hành động một cách dã man thì mọi sự nhẫn nhục đều có giới hạn. Chị Dậu đã kiên quyết cự lại. Sự cự lại của chị Dậu cũng có một quá trình gồm hai bước. Thoạt đầu, chị cự lại bằng lí lẽ "chồng tôi đâu ốm, các ông không được phép hành hạ". Lời nói đanh thép của chị như một lời cảnh cáo. Thực ra chị không chỉ viện đến pháp luật mà chỉ nói cái lí đương nhiên, cái đạo lí tối thiểu của con người. Lúc này chị đã thay đổi cách xưng hô ngang hàng, nhìn vào mặt đối thủ với thái độ quyết liệt ấy, một chị Dậu dịu dàng đã trở nên mạnh mẽ đáo để. Đến khi tên cai lệ dã thú ấy vẫn không thèm trả lời còn tát vào mặt chị một cái đánh bốp rồi cứ nhảy vào cạnh anh Dậu thì chị đã vội đứng dậy với niềm căm giận ngùn ngụt :chị nghiến hai hàm răng "mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem". Một cách xưng hô hết sức đanh đá của người phụ nữ bình dân thể hiện một tư thế "đứng trên dối thủ, sẵn sàng đè bẹp đối phương". Rồi chị "túm cổ tên cai lệ, ấn dúi ra cửa... lẳng người nhà lí trưởng ngã nhào ra thềm". Chị vẫn chưa nguôi giận. Với chị, nhà tù thực dân cũng chẳng có thể làm cho chị run sợ nên trước sự can ngăn của chồng chị vẫn chưa nguôi giận "Thà ngồi tù. Để chúng nó làm tình, làm tội mãi thế, tôi không chịu được".
Con giun xéo mãi cũng quằn, chị Dậu cũng vậy, bị áp bức dã man, tính mạng bị đe doạ, chị đã vùng lên đánh trả một cách dũng cảm. Nhà văn Nguyên Tuân đã có một nhận xét rất thú vị "Trên cái tối trời, tối đất của cái xã hội ngày xưa, hiện lên một chân dung lạc quan của chị Dậu...bản chất cuả chị Dậu rất khoẻ, cứ thấy lăn xả vào bóng tối mà phá ra...". Ngô Tất Tố rất hả hê khi tả cảnh chị Dậu cho tên cai lệ và người nhà lí trưởng một bài học thích đáng. Ông đã chỉ ra một quy luật trong xã hội "Có áp bức, có đấu tranh"
 
 
Đoạn trích "Tức nước vỡ bờ rất sống và giàu tính hiện thực. Đoạn văn như một màn bi hài kịch, xung đột diễn ra căng thẳng đầy kịch tính. Chị Dậu được miêu tả rất chân thực, sống động và có sức truyền cảm. Tính cách của chị hiện lên nhất quán với diễn biến tâm lí thật sinh động. Chị Dậu mộc mạc, hiền dịu đầy vị tha, giàu tình yêu thương, sống khiêm nhường biết nhẫn nhục chịu đựng nhưng không hoàn toàn yếu đuối, chỉ biết sợ hãi mà trái lại, chị vẫn có một sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, một tinh thần phản kháng tiềm tàng.
Như vậy, từ hình ảnh " Cái cò lặn lội bờ sông/gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non" và hình ảnh người phụ nữ trong thơ xưa đến hình ảnh chị Dậu trong "Tắt đèn", ta thấy chân dung người phụ nữ Việt Nam trong văn học đã có một bước phát triển mới về cả tâm hồn lẫn chí khí.