K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

21 tháng 9 2025

Đoạn trích “Đất là Mẹ…” của tù trưởng Xi-át-tơn vang lên như một lời nhắc nhở thiêng liêng: con người và thiên nhiên có mối quan hệ gắn bó máu thịt, mọi sự tổn thương dành cho đất trời cũng chính là làm tổn thương chính mình. Trong bối cảnh hiện nay, khi ô nhiễm không khí, nước, đất, biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, mỗi người cần nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ môi trường tự nhiên.

Trước hết, mỗi cá nhân phải thay đổi tư duy: từ coi thiên nhiên là đối tượng để khai thác sang trân trọng và gìn giữ. Thiên nhiên không vô tận. Nguồn nước, không khí, rừng, biển đều có giới hạn. Ý thức đúng đắn chính là nền tảng của mọi hành động xanh. Hãy bắt đầu từ việc nhỏ: tiết kiệm điện nước, hạn chế rác thải nhựa, phân loại và tái chế rác. Mỗi cử chỉ, thói quen giản dị ấy góp phần giảm áp lực cho môi trường.

Tiếp theo, mỗi người cần tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng như trồng cây, dọn rác, bảo vệ nguồn nước, đồng thời lên tiếng phản đối những hành vi phá hoại thiên nhiên. Sự chung tay của cộng đồng sẽ tạo ra sức mạnh lớn, khơi dậy trách nhiệm xã hội, buộc các doanh nghiệp và cơ quan quản lý hành động mạnh mẽ hơn vì môi trường.

Quan trọng hơn, thế hệ trẻ cần trang bị tri thức và kỹ năng sống xanh, ứng dụng khoa học để tìm ra giải pháp năng lượng sạch, sản xuất bền vững. Mỗi công dân khi trưởng thành phải ý thức rằng mình vừa là người hưởng thụ, vừa là người bảo vệ thiên nhiên, truyền tiếp thông điệp yêu thiên nhiên cho thế hệ mai sau.

Kết luận, từ thông điệp “Đất là Mẹ” của Xi-át-tơn, chúng ta hiểu rằng bảo vệ môi trường không phải việc của riêng ai. Đó là nghĩa vụ, là lẽ sống của mỗi con người. Sống hài hòa với thiên nhiên chính là bảo vệ sự sống của chính mình và tương lai bền vững của hành tinh xanh.

24 tháng 9 2025

Con người chỉ thực sự được gọi là chủ nhân của trái đất khi biết cúi đầu trước cỏ cây, biết lắng nghe nhịp thở của sông ngòi, và biết chia sẻ sự sống cùng muôn loài. Bảo vệ môi trường không phải là một khẩu hiệu xa vời, mà là một hành vi giản dị hàng ngày: bớt đi một túi nilon, nhặt lấy một cành rác, giữ gìn một giọt nước trong. Nhưng đằng sau sự giản dị ấy là một triết lý sâu xa: khi ta gìn giữ môi trường, cũng chính là giữ lấy phận người, giữ lấy mái nhà duy nhất của mình giữa cõi vũ trụ vô biên.

Bảo vệ môi trường cần được nhìn như một nhịp sống – nhịp chậm rãi, hài hòa, nối liền con người với thiên nhiên. Mỗi hành động dù nhỏ bé, nếu cộng hưởng, sẽ tạo nên bản giao hưởng xanh bất tận. Cây cối không thể tự kêu than, sông ngòi không thể tự cầu cứu – nhưng chúng ta nghe được, và phải trả lời. Trả lời bằng trách nhiệm, bằng sự tiết chế lòng tham, bằng việc trả lại cho thiên nhiên quyền được thở trong lành.

Và cuối cùng, đó là một lời nhắc nhở bất biến: ai phá vỡ cân bằng của đất trời, kẻ ấy sẽ bị chính đất trời cuốn phăng. Giữ môi trường, là giữ lấy sự tồn tại của chính chúng ta. Đó không chỉ là bổn phận, mà là bài học sống còn, là khát vọng cao cả, là di chúc thầm lặng mà mỗi thế hệ cần truyền lại cho thế hệ sau – như một ngọn đuốc sáng, không bao giờ được để tắt.

TÍCH NHA !!!!!


(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: QUÊ HƯƠNG (Trích) Quê hương là một tiếng veLời ru của mẹ trưa hè à ơi Dòng sông con nước đầy vơiQuê hương là một góc trời tuổi thơ Quê hương ngày ấy như mơTôi là cậu bé dại khờ đáng yêu Quê hương là tiếng sáo diềuLà cánh cò trắng chiều chiều chân đê Quê hương là phiên chợ quêChợ trưa mong mẹ mang về...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

QUÊ HƯƠNG
(Trích)

Quê hương là một tiếng ve
Lời ru của mẹ trưa hè à ơi
Dòng sông con nước đầy vơi
Quê hương là một góc trời tuổi thơ

Quê hương ngày ấy như mơ
Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu
Quê hương là tiếng sáo diều
Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê

Quê hương là phiên chợ quê
Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa
Quê hương là một tiếng gà
Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng

Quê hương là cánh đồng vàng
Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều
Quê hương là dáng mẹ yêu
Áo nâu nón lá liêu siêu đi về

Quê hương nhắc tới nhớ ghê
Ai đi xa cũng mong về chốn xưa
Quê hương là những cơn mưa
Quê hương là những hàng dừa ven kinh

Quê hương mang nặng nghĩa tình
Quê hương tôi đó đẹp xinh tuyệt vời
Quê hương ta đó là nơi
Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.

(Nguyễn Đình Huân

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "".

Câu 3. Em có nhận xét gì về ước mơ của những người lính được thể hiện trong những dòng thơ dưới đây?

"chừng nào thật hoà bình
ra lộ bốn trải ni-lông nằm một đêm cho thoả thích"

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

2
17 tháng 9 2025

Câu 1.
Văn bản “Quê hương” được viết theo thể thơ tự do. Đây là thể thơ không bị gò bó về số chữ, số câu hay vần điệu, nhịp điệu linh hoạt. Nhờ đó, tác giả có thể thoải mái bộc lộ cảm xúc về quê hương bằng những hình ảnh quen thuộc, gần gũi.

Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết”tình cảm gia đình, tình bạn và những ước mơ hồn nhiên, giản dị của tuổi thơ trong ngày Tết. Tác giả đã khắc họa tình cảm ấm áp, sự quan tâm của các thành viên trong gia đình và bạn bè dành cho nhau, đồng thời gửi gắm những ước mơ nhỏ bé nhưng giàu ý nghĩa của trẻ thơ.

Câu 3.
Ước mơ của những người lính trong đoạn thơ được thể hiện rất mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng tha thiết. Họ không mong ước điều gì to tát mà chỉ ước một ngày thật hòa bình, có thể thoải mái nằm nghỉ trên con đường rộng mà không lo chiến tranh, bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hòa bình cháy bỏng của những người lính, đồng thời bộc lộ tình yêu tha thiết với cuộc sống bình yên, giản dị – điều tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại quý giá vô cùng trong chiến tranh.

Câu 4.
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, mang ý nghĩa quan trọng trong việc khắc họa nhân vật và chủ đề của văn bản. Chiếc áo không chỉ gợi lên ước mơ hồn nhiên, trong sáng của bé gái, mà còn phản ánh khát vọng được yêu thương, được sống trong niềm vui giản dị của trẻ em. Qua chi tiết này, ta thấy được sự ngây thơ, hồn nhiên nhưng cũng rất giàu tình cảm, biết quan tâm và chia sẻ của các nhân vật. Nó góp phần thể hiện tình bạn trong sáng, chân thành, giàu yêu thương – một tình cảm đẹp và đáng trân trọng.

Câu 5.
Qua câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra bài học sâu sắc về tình bạn và sự sẻ chia. Trong cuộc sống, tình bạn thật sự quý giá khi mỗi người biết quan tâm, nhường nhịn và nghĩ cho nhau. Một món quà, một lời động viên hay một sự quan tâm nhỏ bé cũng đủ khiến tình bạn thêm gắn bó và ý nghĩa. Khi ta biết sống vì bạn bè, niềm vui của bạn cũng trở thành niềm vui của chính mình, nỗi buồn của bạn cũng khiến ta trăn trở, cảm thông. Tình bạn đẹp giúp con người sống nhân ái, vị tha hơn, đồng thời trở thành nguồn động lực để vượt qua khó khăn. Nhờ có sự sẻ chia, tình bạn càng trong sáng, bền chặt và trở thành hành trang tinh thần quý giá trong suốt cuộc đời mỗi người.

20 tháng 11 2025

Câu 1. Thể thơ của văn bản

Thể thơ lục bát.


Câu 2. Đề tài của văn bản

Đề tài: Quê hương và những kỉ niệm tuổi thơ gắn bó, thân thương của tác giả với quê nhà.


Câu 3. Nhận xét về ước mơ của những người lính

→ Ước mơ của người lính rất giản dị nhưng tha thiết. Họ không mơ điều lớn lao, chỉ ước “nằm một đêm cho thoả thích” trên con đường bình yên – một điều rất bình thường với người khác nhưng lại vô cùng quý giá đối với người lính đang sống trong bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hoà bình mạnh mẽtâm hồn mộc mạc, giàu tình yêu cuộc sống của họ.


Câu 4. Ý nghĩa chi tiết “chiếc áo đầm hồng”

→ Chiếc áo đầm hồng là chi tiết nổi bật giúp bộc lộ rõ tính cách hai nhân vật.

  • Với bé Bích, chiếc áo thể hiện sự hồn nhiên, thích làm đẹp và mong muốn được như các bạn khác.
  • Với bé Em, việc nhường chiếc áo cho bạn cho thấy tấm lòng nhân hậu, biết sẻ chia, không ganh tị, sẵn sàng nghĩ cho người khác.
    Chi tiết này góp phần làm nổi bật tình bạn trong sáng, đồng thời tạo điểm nhấn cảm xúc cho câu chuyện.

Câu 5. Bài học rút ra từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích

→ Câu chuyện cho em hiểu rằng tình bạn đẹp được xây dựng từ sự chân thành và biết quan tâm nhau. Khi ta biết chia sẻ, nhường nhịn và nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt hơn. Mỗi người đều có những thiếu thốn riêng, và sự đồng cảm sẽ giúp chúng ta trở nên tốt hơn, biết trân trọng những điều giản dị trong cuộc sống.

Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi!Bốn nghìn năm chưa bao giờ ngơi nghỉThắp lên ngọn đuốc Hòa bình, bao người đã ngãMáu của người nhuộm mặn sóng biển Đông Ngày hôm nay kẻ lạ mặt rập rìnhChúng ngang nhiên chia cắt tôi và Tổ quốcChúng dẫm đạp lên dáng hình đất nướcMột tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau Sóng chẳng bình yên dẫn lối những con tàuSóng quặn đỏ máu...
Đọc tiếp

Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi!

Bốn nghìn năm chưa bao giờ ngơi nghỉ

Thắp lên ngọn đuốc Hòa bình, bao người đã ngã

Máu của người nhuộm mặn sóng biển Đông

 

Ngày hôm nay kẻ lạ mặt rập rình

Chúng ngang nhiên chia cắt tôi và Tổ quốc

Chúng dẫm đạp lên dáng hình đất nước

Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau

 

Sóng chẳng bình yên dẫn lối những con tàu

Sóng quặn đỏ máu những người đã mất

Sóng cuồn cuộn từ Nam chí Bắc

Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng “Việt Nam”

 

Chín mươi triệu người lấy thân mình chở che Tổ quốc linh thiêng

Để giấc ngủ trẻ thơ bình yên trong bão tố

 

Ngọn đuốc Hòa bình trên tay rực lửa

Tôi lắng nghe 

Tổ quốc 

gọi tên mình!

Nguyễn Phan Quế Mai

a) Vận dụng các biện pháp tu từ đã học hãy tìm, gọi tên và phân tích tác dụng

b) Em có cảm nghĩ gì khi nghe 2 tiếng "Việt Nam" trong đoạn thơ trên. Hãy viết 1 văn bản nghị luận khoảng 2 trang để bàn luận về vấn đề đó

2
3 tháng 11 2017

A

19 tháng 12 2025
  1. Điệp ngữ
    – “Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi”, “Chín mươi triệu”, “Sóng”
    Tác dụng: Nhấn mạnh hình ảnh Tổ quốc thiêng liêng, khắc sâu ý thức cộng đồng dân tộc; tạo nhịp điệu dồn dập, cảm xúc mạnh, thể hiện sự đồng lòng của cả dân tộc trước vận mệnh đất nước.
  2. Nhân hóa
    – “Tổ quốc gọi tên mình”, “Sóng quặn đỏ máu”, “Sóng chẳng bình yên dẫn lối”
    Tác dụng: Làm cho Tổ quốc và thiên nhiên trở nên có hồn, gần gũi như con người; qua đó khơi dậy tình cảm sâu nặng, thiêng liêng của con người với đất nước.
  3. Ẩn dụ
    – “Ngọn đuốc Hòa bình”, “máu nhuộm mặn sóng biển Đông”
    Tác dụng: “Ngọn đuốc Hòa bình” tượng trưng cho khát vọng hòa bình, chính nghĩa; “máu nhuộm mặn sóng biển Đông” gợi sự hi sinh, mất mát lớn lao của bao thế hệ để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.
  4. Hoán dụ
    – “Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng ‘Việt Nam’ ”
    Tác dụng: Lấy bộ phận “môi người” để chỉ con người Việt Nam, nhấn mạnh sự đồng lòng, cùng chung tiếng nói, chung tình yêu và trách nhiệm với đất nước.
  5. Phóng đại
    – “Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau”
    Tác dụng: Làm nổi bật nỗi đau lớn lao khi chủ quyền Tổ quốc bị xâm phạm, khẳng định mỗi phần lãnh thổ đều vô giá.

b) Nghị luận: Cảm nghĩ khi nghe hai tiếng “Việt Nam”

Hai tiếng “Việt Nam” vang lên trong đoạn thơ của Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ là tên gọi của một quốc gia, mà còn là tiếng gọi thiêng liêng của lịch sử, của máu xương và khát vọng hòa bình. Khi đọc đến câu thơ “Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng ‘Việt Nam’ ”, tôi cảm nhận rõ ràng một sự rung động sâu xa trong lòng, như thể cả dân tộc đang cùng thở chung một nhịp.

“Việt Nam” trước hết là kết tinh của bốn nghìn năm lịch sử không ngơi nghỉ. Đó là chiều dài của những cuộc đấu tranh bền bỉ để giữ đất, giữ biển, giữ lấy bản sắc và quyền được sống trong tự do. Hai tiếng ấy gợi nhắc đến biết bao thế hệ đã ngã xuống, để hôm nay đất nước được đứng vững giữa trời xanh. Khi nghe “Việt Nam”, ta không thể không nghĩ đến sự hi sinh thầm lặng của cha ông, những con người đã lấy thân mình chở che Tổ quốc, đổi máu xương lấy hòa bình.

“Việt Nam” còn là biểu tượng của sự đoàn kết. Chín mươi triệu con người, dù ở miền núi hay đồng bằng, dù nơi hải đảo xa xôi hay thành phố nhộn nhịp, đều chung một tiếng gọi. Trong những thời khắc khó khăn, hai tiếng “Việt Nam” có sức mạnh gắn kết kỳ lạ, khiến con người xích lại gần nhau hơn, sẵn sàng đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Đó chính là cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam đứng vững trước mọi thử thách.

Không chỉ mang ý nghĩa của quá khứ, “Việt Nam” còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm của hiện tại và tương lai. Nghe Tổ quốc gọi tên mình, mỗi người trẻ hiểu rằng yêu nước không chỉ là cảm xúc, mà còn là hành động cụ thể. Đó là học tập nghiêm túc, sống tử tế, tôn trọng pháp luật, biết bảo vệ chủ quyền và danh dự dân tộc bằng trí tuệ, bằng bản lĩnh, bằng những đóng góp nhỏ bé nhưng bền bỉ mỗi ngày.

Trong đoạn thơ, hình ảnh “ngọn đuốc Hòa bình” cho thấy khát vọng lớn lao của dân tộc Việt Nam: kiên quyết bảo vệ Tổ quốc nhưng luôn hướng tới hòa bình. Hai tiếng “Việt Nam” vì thế không gắn với hận thù, mà gắn với chính nghĩa, với mong muốn được sống yên bình trên chính mảnh đất của mình.

Đối với tôi, khi nghe hai tiếng “Việt Nam”, đó là niềm tự hào xen lẫn trách nhiệm. Tự hào vì được sinh ra trong một dân tộc kiên cường; trách nhiệm vì phải sống sao cho xứng đáng với những hi sinh đã có. “Việt Nam” không chỉ là tên gọi, mà là lời nhắc nhở mỗi người: Tổ quốc luôn ở trong tim, và Tổ quốc cần được gìn giữ bằng cả trái tim và hành động của chúng ta hôm nay.

chuẩn form này 10 đ bạn né

Viết tiếp 1 đoạn văn tổng phân hợp hoàn chỉnh trong đó có sử dụng lời dẫn trực tiếp và câu bị động VD:    Hôm nay, cũng như mọi ngày tôi đi học trên đường đi tôi gặp một bà lão, bà nói: "Cháu ơi giúp bà qua đường với". Tôi nhìn đồng hồ đã 7 giờ kém 5 phút tôi suy nghĩ một lúc và nói "Vâng cháu sẽ đưa bà qua đường". Sau khi đưa bà lão sang đường bà cám ơn tôi, lúc đó tôi...
Đọc tiếp

Viết tiếp 1 đoạn văn tổng phân hợp hoàn chỉnh trong đó có sử dụng lời dẫn trực tiếp và câu bị động

 

VD:    Hôm nay, cũng như mọi ngày tôi đi học trên đường đi tôi gặp một bà lão, bà nói: "Cháu ơi giúp bà qua đường với". Tôi nhìn đồng hồ đã 7 giờ kém 5 phút tôi suy nghĩ một lúc và nói "Vâng cháu sẽ đưa bà qua đường". Sau khi đưa bà lão sang đường bà cám ơn tôi, lúc đó tôi đã cảm nhận được việc tốt mà tôi đã làm. Thế là tôi chạy thẳng đến lớp khi đến cổng trường đã đóng, tôi xin bác bảo vệ cho vào cửa, lúc ấy bác bảo vệ không chịu cho tôi vào, tôi đã kể lại việc bà lão nói "nhờ cháu giúp bà qua đường" và tôi đã giúp. Bác mới hiểu và cho tôi vào.

=>Lời dẫn trực tiếp: "Cháu ơi... với"!

0
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:“...Ý  chí, nghị lực là bệ phóng đưa con người đến với thành công. Các con phải nghĩ rằng khó khăn cho ta kinh nghiệm, nghịch cảnh cho ta môi trường để rèn luyện bản lĩnh. Và qua khó khăn đó ý chí, nghị lực được hình thành, tôi luyện và trở thành bộ giáp vững chắc để ta hiên ngang giữa cuộc đời. Người có ý chí là người dám đương...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

“...Ý  chí, nghị lực là bệ phóng đưa con người đến với thành công. Các con phải nghĩ rằng khó khăn cho ta kinh nghiệm, nghịch cảnh cho ta môi trường để rèn luyện bản lĩnh. Và qua khó khăn đó ý chí, nghị lực được hình thành, tôi luyện và trở thành bộ giáp vững chắc để ta hiên ngang giữa cuộc đời. Người có ý chí là người dám đương đầu với mọi thử thách, luôn bền gan vững chí trước mọi sóng lớn, gió to. Họ sống mạnh mẽ, cứng cỏi, kiên cường; thất bại không nản, thành công không tự mãn...”

(Trích bức thư của thầy Nguyễn Văn Đằng – Hiệu trưởng trường THPT Lê Quý Đôn, Trực Ninh, Nam Địnhgửi  các học trò, giáo viên và phụ huynh khi ngôi trường vừa có 61 thầy cô và học sinh phải cách ly tập trung, toàn bộ hoạt động của nhà trường phải tạm dừng để triển khai biện pháp phòng dịch.)

Câu1:  Xác định phương thức biểu đạt chính.của đoạn trích? Vì sao?

Câu 2:Theo tác giả ý chí nghị lực là gì? Trong hoàn cảnh nào ý chí nghị lực càng được hình thành và phát triển?

Câu 3: Từ đoạn trích em thấy biểu hiện của người có ý chí nghị lực là gì?

Câu 4: Trong bối cảnh dịch bệnh kéo dài,em học được gì qua đoạn thư trên? Viết đoạn văn khoảng 7-8 câu trình bày theo cách tổng phân hợp. Trong đó có 1 câu gnhi vấn.

1

Nếu nói bản lĩnh nghiêng về thực hành thì ý chí chính là phần lý thuyết. Muốn thực hành thì phải nắm vững lý thuyết mà áp dụng. Có ý chí, con người mới có đủ quyết tâm để chinh phục những tầm cao mới. Bản thân ý chí vốn không có một định nghĩa cụ thể. Nói đơn giản, đó là quyết tâm cố gắng vượt qua gian khổ thử thách; còn nói phức tạp, ý chí là mồi lửa giúp cho bản lĩnh bùng cháy. Ông bà ta có câu “có chí thì nên” cũng là vì lẽ đó. Chưa nói đến khả năng bạn đến đâu, chỉ riêng việc bạn có cho mình một ý chí sắt đá cùng niềm tin vững vàng thì bạn đã đi trước người khác một bước! Nhưng, cái gì cũng có cái giá của nó, ý chí cũng không phải là một ngoại lệ. Để có được một tinh thần thép khi đứng trước bão tố của cuộc đời, bạn sẽ phải bỏ ra rất nhiều thời gian và công sức để mài sắt luyện kim! Vậy nên, người nói được câu “Tôi có ý chí” thì rất nhiều, nhưng người mà hành động của họ nói lên điều đó thì quả thực không được mấy ai. Những người chỉ mới giáp mặt cơn lốc xoáy hung tợn đã nhụt chí xin hàng, hay những kẻ sẵn sàng quỳ gối trước những thế lực mạnh mẽ, tất cả bọn họ suy cho cùng đều là vì thiếu đi cái ý chí cần thiết. Họ không biết cách tự tạo cho riêng mình một đế chế hùng mạnh. Những người như thế, chung quy lại, cũng chỉ mãi là kẻ thất bại mà thôi. Còn bạn? Bạn sẽ chọn con đường gập ghềnh hướng tới tương lai hay biến mình thành một con ốc chỉ biết thu mình trong vỏ?

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: (Tóm tắt tác phẩm: Tống Trân là con gia đình giàu có những lên ba tuổi thì cha mất, lên tám tuổi thì phải dắt mẹ đi ăn mày. Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ tới nhà cả một trưởng giả, con gái của trưởng giả thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt Cúc Hoa lấy chàng trai nghèo là Tống Trân làm chồng và đuổi ra khỏi nhà. Dù vậy, Cúc Hoa vẫn...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

(Tóm tắt tác phẩm: Tống Trân là con gia đình giàu có những lên ba tuổi thì cha mất, lên tám tuổi thì phải dắt mẹ đi ăn mày. Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ tới nhà cả một trưởng giả, con gái của trưởng giả thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt Cúc Hoa lấy chàng trai nghèo là Tống Trân làm chồng và đuổi ra khỏi nhà. Dù vậy, Cúc Hoa vẫn giữ trọn đạo làm vợ và làm dâu, chăm lo cho chồng ăn học. Học được nửa năm, Tống Trân thi đậu Trạng nguyên, được vua ban áo mão và gả công chúa cho chàng. Tống Trân lấy cớ nhà nghèo mà từ chối. Tống Trân phải trải qua nhiều thử thách hiểm nguy trong thời gian đi sứ nước Tần. Ở quê nhà, Cúc Hoa rơi vào mưu kế của trưởng giả, gả nàng đi cho một người khác. Cùng lúc ấy, Tống Trân trên đường về, biết rõ nguồn cơn và xuất hiện trong ngày rước dâu. Chàng xét xử phân minh rồi đoàn tụ với mẹ và vợ.)

TỐNG TRÂN – CÚC HOA

Mẹ chồng thấy dâu thảo hiền

Đôi hàng nước mắt chảy liền như tuôn.

Khó nghèo có mẹ có con,

Ít nhiều gạn sẻ(1) vẹn tròn cho nhau

Lòng con nhường nhịn bấy lâu

Mẹ ăn cơm ấy ngon đâu hỡi nàng

Cúc Hoa nước mắt hai hàng:

"Lạy mẹ cùng chàng chớ quản(2) tôi

Gọi là cơm tấm canh lê(3)

Mẹ ăn đỡ dạ kẻo khi võ vàng(4)

Chàng ăn cho sống mình chàng,

Dốc lòng kinh sử văn chương đạo là.

Kể chi phận thiếp đàn bà,

Khó nghèo chớ quản nỗi nhà thảm thương".

Thương con mẹ giấu cho vàng,

Bảo rằng gìn giữ để nương tựa mình.

Cúc Hoa trong dạ đinh ninh:

"Lạy mẹ còn có chút tình thương con".

Tức thì trở lại phòng môn,

Cầm tay đánh thức nỉ non bảo chồng:

"Chàng ơi xin tỉnh giấc nồng,

Nay vàng mẹ thiếp cho dùng một chương".

Kể đoạn Cúc Hoa bán vàng,

Bán cho trưởng giả giàu sang hơn người.

Hai bên giá cả hẳn hoi,

Bắc cân định giá được ngoài tám mươi.

Cúc Hoa trở lại thư trai(5)

"Khuyên chàng kinh sử dùi mài cho hay.

Thiếp xin rước một ông thầy,

Để chàng học tập đêm ngày thiếp nuôi".

Một ngày ba bữa chẳng rời,

Nuôi thầy, nuôi mẹ lại nuôi cả chồng.

Nàng thời nhiều ít cũng xong

Đói no chẳng quản miễn chồng làm nên.

Khấn trời lạy Phật đòi phen:

"Chứng minh phù hộ ước nguyền chồng tôi.

Khuyên chàng khuya sớm hôm mai,

Cố chăm việc học đua tài cho hay.

Một mai, có gặp rồng mây(6)

Bảng vàng(7) may dược tỏ bày họ tên

Trước là sạch nợ bút nghiên

Sau là thiếp cũng được yên lòng này".

(Theo bản in của NXB Phổ thông Hà Nội năm 1961,
Bùi Thức Phước sưu tầm và biên soạn, NXB Hội nhà văn, 2012)

Chú thích:

(1) Gạn sẻ: Gạn – chắt lọc và sẻ – chia sớt, chia nhỏ.

(2) Quản: E ngại, ngần ngại. Chớ quản: Không cần ngần ngại, quan tâm.

(3) Canh lê: Canh nấu bằng rau lê, những gia đình nghèo khó thường ăn loại rau này.

(4) Võ vàng: Gầy gò, da dẻ xanh xao, không được hồng hào vì thiếu máu.

(5) Thư trai: Phòng đọc sách, phòng học.

(6) Rồng mây: Hội rồng mây, cơ hội để mọi người thi đậu làm nên danh phận cao sang như rồng gặp mây.

(7) Bảng vàng: Danh sách ghi tên những người thi đỗ.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Có những nhân vật nào xuất hiện trong văn bản?

Câu 3. Trong đoạn trích trên, hoàn cảnh sống của Tống Trân và Cúc Hoa hiện lên như thế nào? Hoàn cảnh sống ấy có vai trò gì trong việc thể hiện số phận nhân vật?

Câu 4. Thông qua mối quan hệ với mẹ chồng, Cúc Hoa có phẩm chất nào đáng quý? Những chi tiết nào giúp em nhận thấy điều đó?

Câu 5. Ước mơ "bảng vàng rồng mây" trong lời khấn nguyện của Cúc Hoa thể hiện mong muốn, khát vọng gì của nhân dân? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

5
16 tháng 9 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm.

16 tháng 9 2025

Câu 2. Nhân vật xuất hiện: Cúc Hoa, Tống Trân, mẹ chồng Cúc Hoa.