Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cở nhỏ. Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

28 tháng 8 2016

+ “Họ đều là những người nông dân nghèo thương con”. Nhưng tình thương con của mỗi người có biểu hiện và kết cục khác nhau: chị Dậu thương con mà không bảo vệ được con, phải bán con lấy tiền nộp sưu cứu chồng; lão Hạc phải tìm đến cái chết để giữ mảnh vườn cho con; còn ông Hai, khi nghe tin làng theo giặc lại lo cho con vì chúng nó cũng là con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?...Rõ ràng, ông đặt tình cảm riêng trong mối quan hệ với làng, với nước; ông hiểu danh dự của mỗi con người – dù còn ít tuổi – cũng gắn với danh dự của làng, gắn với vận mệnh của đất nước.
+ “Họ đều có sức phản kháng, đấu tranh”. Trong hoàn cảnh xã hội trước Cách mạng tháng Tám, chị Dậu phản kháng một cách tự phát, để bảo vệ chồng trước sự dã man vô nhân đạo của những kẻ đại diện cho cái gọi là “nhà nước” bấy giờ. Còn ông Hai, ông có ý thức trách nhiệm với làng, có tinh thần kháng chiến rất rõ ràng: ông trực tiếp tham gia các hoạt động kháng chiến ở làng, ông muốn trở về làng để được cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…khi đi tản cư ông vẫn lo cho các công việc kháng chiến ở làng.
- Đặc biệt, cần phân tích để thấy những chuyển biến “rất mới” trong tình cảm của ông Hai đối với làng. Ở ông Hai, “tình yêu làng mang tính truyền thống đã hòa nhập với tình yêu nước trong tinh thần kháng chiến của toàn dân tộc”.
+ Tình yêu làng thể hiện ở việc hay khoe làng của ông. Phân tích để thấy sự thay đổi ở việc khoe làng ấy: trước Cách mạng, ông khoe sự giàu có, hào nhoáng của làng; sau Cách mạng tháng Tám, ông khoe không khí cách mạng ở làng ông…Ông tin vào ý thức cách mạng của người dân làng ông cũng như thắng lợi tất yếu nếu giặc đến làng nên nghe giặc “rút ở Bắc Ninh, về qua làng chợ Dầu…” thì ông hỏi ngay “ta giết được bao nhiều thằng?”.
+ Tình yêu làng gắn với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin đồn làng theo giặc. Từ khi chợt nghe tin đến lúc về nhà, nhìn lũ con; rồi đến những ngày sau…nỗi tủi hổ ám ảnh ông Hai thật nặng nề, mặc cảm tội lỗi ngày một lớn hơn. Tình yêu làng, yêu nước của ông còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông thấy tuyệt vọng vì ở nơi tản cư có tin không đâu chứa người làng Chợ Dầu. Lòng trung thành với cách mạng, với đất nước thật mạnh mẽ, hiểu rõ những điều quý giá mà cách mạng đã mang lại cho mình cũng như trách nhiệm với cách mạng nên ông Hai đã quyết định dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
+ Tình cảm với kháng chiến, với cụ Hồ của ông Hai được thể hiện cảm động, chân thành khi ông tâm sự với đứa con út. Và, tinh thần kháng chiến, niềm tự hào về làng Chợ Dầu kháng chiến được thể hiện cụ thể khi ông Hai nghe tin cải chính về làng.
- Phân tích để thấy “nguyên nhân của những đổi thay rất mới đó ở nhân vật ông Hai”. Những đổi thay đó là do tác động của hoàn cảnh lịch sử. Sự mở rộng và thống nhất giữa tình yêu quê hương với tình yêu đất nước là nét rất mới trong nhận thức và tình cảm của người nông dân sau Cách mạng tháng Tám mà nhà văn Kim Lân đã thể hiện qua nhân vật ông Hai. Tình cảm ấy có được bởi cách mạng đã mang lại cho người nông dân cuộc sống mới, họ được giác ngộ và cũng có ý thức tự giác vươn lên cho kịp thời đại. Vậy nên, tầm nhìn, suy nghĩ của ông Hai đã được mở rộng, đúng đắn.

*Chuyện người con gái Nam Xương.Chuyện người con gái Nam Xương là một truyện ngắn nổi bật trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, sáng tác vào thế kỷ XVI. Tác phẩm kể về cuộc đời bi kịch của Vũ Nương, một người phụ nữ nết na, thùy mị.-Tóm tắt cốt truyện:Vũ Nương lấy Trương Sinh, một người chồng tính ghen. Khi Trương Sinh phải đi lính, Vũ Nương ở nhà một mình nuôi con và chăm...
Đọc tiếp

*Chuyện người con gái Nam Xương.
Chuyện người con gái Nam Xương là một truyện ngắn nổi bật trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, sáng tác vào thế kỷ XVI. Tác phẩm kể về cuộc đời bi kịch của Vũ Nương, một người phụ nữ nết na, thùy mị.
-Tóm tắt cốt truyện:
Vũ Nương lấy Trương Sinh, một người chồng tính ghen. Khi Trương Sinh phải đi lính, Vũ Nương ở nhà một mình nuôi con và chăm sóc mẹ chồng già yếu. Để dỗ con, nàng thường chỉ bóng mình trên tường và nói đó là cha bé Đản.
Khi chiến tranh kết thúc, Trương Sinh trở về. Nghe lời con trẻ, chàng nghi oan cho vợ không chung thủy. Mặc dù Vũ Nương hết lời phân trần, Trương Sinh vẫn không tin. Quá đau khổ và oan ức, Vũ Nương gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn.
Sau đó, Trương Sinh mới phát hiện ra sự thật khi con trai chỉ cái bóng của cha mình trên tường và nói "Ông già đêm nào cũng đến". Quá ân hận, chàng lập đàn giải oan cho vợ. Vũ Nương hiện về nhưng không thể quay lại dương thế.
-Ý nghĩa tác phẩm:
+Giá trị hiện thực: Tác phẩm tố cáo sự bất công của xã hội phong kiến, đặc biệt là chế độ gia trưởng và chiến tranh đã gây ra bi kịch cho người phụ nữ.
+Giá trị nhân đạo: Ca ngợi vẻ đẹp phẩm chất của Vũ Nương: một người vợ thủy chung, một người con hiếu thảo, một người mẹ hết lòng vì con. Tác giả đã thể hiện sự cảm thông sâu sắc trước số phận oan nghiệt của nàng.
-Đặc điểm nghệ thuật:
+Cốt truyện kịch tính: Tình tiết "cái bóng" là điểm nhấn bất ngờ, đẩy bi kịch lên cao trào.

=>Kết luận: Qua câu chuyện "người con gái Nam Xương" ta thấy tác phẩm không chỉ tố cáo xã hội phong kiến đã gây ra sự bất công dành cho người phụ nữ, mà tác phẩm còn ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ. Tác phẩm đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc cho dù trải qua nhiều thế hệ nhưng tác phẩm đã không bị quên lãng mà chính tác phẩm cũng đã nắm giữ một vị trí quan trọng trong nền văn học trung đại Việt Nam.

0
BÀI 1.Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý...
Đọc tiếp

BÀI 1.Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban cho danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.

Câu 1. Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn văn trên ?
Câu 2. Mệnh đề Hiền tài là nguyên khí của quốc gia được tác giả triển khai như thế nào trong văn bản?.
Câu 3. Nhà nước ta thời phong kiến đã từng trọng đãi hiền tài như thế nào? Theo tác giả, những điều đó đã là đủ chưa?.
Câu 4. Viết một đoạn văn ngắn khoảng 8-10 câu,nêu suy nghĩ của anh/chị về sứ mệnh của hiền tài đối với đất nước?

BÀI 2.Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi

1.Hoàng Đức Lương người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh H­ưng Yên, sau chuyển đến ở làng Ngọ Kiều, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ tiến sĩ năm năm 1478. Ông để lại: Trích diễm thi tập, đề tựa năm 1479, thơ chữ Hán còn lại 25 bài chép trong Trích diễm thi tập, sau này được Lê Quý Đôn đ­ưa vào Toàn Việt thi lục.

2.Tựa là bài văn đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lí, hội hoạ, âm nhạc,… nhằm giới thiệu mục đích, nội dung, quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy. Bài tựa có thể do tác giả tự viết hoặc do một ai đó thích thú tác phẩm mà viết. Cuối bài tựa thường có phần lạc khoản: ghi rõ họ tên, chức t­ước của người viết và ngày tháng, địa điểm làm bài tựa. Bài tựa cũng thể hiện những quan điểm mang tính thời đại và của chủ quan người viết. Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường được kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi mang sắc thái trữ tình.

3.Trong công việc biên soạn cũng như sáng tác, Hoàng Đức Lương bộc lộ một quan niệm thẩm mĩ tiến bộ. Đó là sự chú ý đến tính thẩm mĩ của văn chương và ông đưa ra những lí do mà khiến thơ văn không lưu truyền hết ở đời.Đây là tấm lòng yêu n­ước của ông được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, ý thức trân trọng, giữ gìn di sản văn hoá dân tộc

1/ Nêu nội dung chính của văn bản?

2/ Xác định phương thức biểu đạt của văn bản?

3/ Xác định phép liên kết chính trong đoạn văn (2) và (3) ?

4/ Câu văn Tấm lòng yêu n­ước của ông được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, ý thức trân trọng, giữ gìn di sản văn hoá dân tộc gợi nhớ đến câu văn nào của Nguyễn Trãi trong Đại cáo bình Ngô khi nói về văn hiến của dân tộc ?

2
24 tháng 4 2020

K liên quan, nhưng cô ơi cho em hỏi ở đoạn này sử dụng biện pháp tu từ chủ yếu là gì và hiệu quả sử dụng ạ. E cảm ơn cô nhiều ạ.

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán;
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
Nặng nề những nổi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.

20 tháng 4 2020

Bài 2:

1. Giới thiệu Hoàng Đức Lương và tựa Trích diễm thi tập.

2. Phương thức biểu đạt; thuyết minh

3. Phép lặp, thế.

Vấn đề: Giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều1. Mở đầuTruyện Kiều là kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, tác phẩm đã vượt qua giới hạn thời gian để trở thành đỉnh cao văn học Việt Nam. Với hơn 3.200 câu thơ lục bát, Truyện Kiều không chỉ phản ánh xã hội phong kiến đầy bất công mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo, nhân văn sâu sắc của tác giả.2. Nội dunga. Nội dung...
Đọc tiếp

Vấn đề: Giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều

1. Mở đầu

Truyện Kiều là kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, tác phẩm đã vượt qua giới hạn thời gian để trở thành đỉnh cao văn học Việt Nam. Với hơn 3.200 câu thơ lục bát, Truyện Kiều không chỉ phản ánh xã hội phong kiến đầy bất công mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo, nhân văn sâu sắc của tác giả.

2. Nội dung

a. Nội dung chính
-Kể về cuộc đời 15 năm lưu lạc của nàng Thúy Kiều – một người con gái tài sắc vẹn toàn, nhưng vì chữ hiếu phải bán mình, rồi rơi vào bi kịch tình yêu và cuộc sống
-Tác phẩm thể hiện bi kịch của con người tài sắc trong xã hội phong kiến mục nát.

b. Giá trị hiện thực
-Tố cáo xã hội phong kiến bất công, tàn bạo chà đạp lên quyền sống, đặc biệt là với người phụ nữ.
-Phản ánh cuộc sống, số phận éo le của con người thời Nguyễn Du.

c. Giá trị nhân đạo
-Cảm thương sâu sắc với số phận con người, đặc biệt là phụ nữ.
-Đề cao phẩm chất, tài năng, khát vọng tình yêu, hạnh phúc chính đáng.
-Khẳng định ước mơ công lý, lẽ công bằng trong đời sống.

d. Giá trị nghệ thuật
-Nghệ thuật tả người đặc sắc (điển hình: Thúy Kiều – Thúy Vân).
-Nghệ thuật tự sự xen lẫn trữ tình, ngôn ngữ dân tộc giàu hình ảnh và nhạc điệu.
-Xây dựng nhân vật sống động, điển hình.
-Thể thơ lục bát đạt đến đỉnh cao, có giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ lớn.

3. Kết luận

Truyện Kiều là đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam, vừa giàu giá trị hiện thực, vừa chứa đựng tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm không chỉ để lại dấu ấn trong lịch sử văn học dân tộc mà còn khẳng định tài năng, tấm lòng và vị trí vĩ đại của Nguyễn Du trong nền văn học thế giới.

0
I. MỞ ĐẦUVăn học dân gian Việt Nam không chỉ gồm những truyện cổ tích, truyền thuyết, mà còn có một thể loại đặc sắc là truyện cười. Truyện cười sử dụng tiếng cười để phản ánh hiện thực xã hội, châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu trong đời sống. Một trong những truyện cười tiêu biểu là “Lợn cưới, áo mới” – một tác phẩm ngắn nhưng sâu sắc, phản ánh rõ nét...
Đọc tiếp

I. MỞ ĐẦU


Văn học dân gian Việt Nam không chỉ gồm những truyện cổ tích, truyền thuyết, mà còn có một thể loại đặc sắc là truyện cười. Truyện cười sử dụng tiếng cười để phản ánh hiện thực xã hội, châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu trong đời sống. Một trong những truyện cười tiêu biểu là “Lợn cưới, áo mới” – một tác phẩm ngắn nhưng sâu sắc, phản ánh rõ nét thói khoe khoang hình thức của một bộ phận người dân xưa.


II. NỘI DUNG CHÍNH

1. Giới thiệu sơ lược về truyện “Lợn cưới, áo mới”


Thể loại: Truyện cười dân gian


Nhân vật: Hai người đàn ông – một người có lợn cưới, một người có áo mới


Tóm tắt nội dung:

Một anh nông dân đang đi tìm con lợn cưới bị mất, liền hỏi một người qua đường:

– Bác có thấy con lợn cưới nhà tôi chạy qua đây không?

Người kia đáp:

– Tôi đứng đây từ sáng tới giờ mà **chưa thấy con lợn nào chạy qua, chỉ thấy một người mặc cái áo mới đi lại mãi thôi.

Cả hai người đều dùng cái cớ để khoe của: một người khoe có lợn cưới, một người khoe có áo mới.


2. Phân tích nội dung và ý nghĩa

a. Tiếng cười trào phúng nhẹ nhàng mà sâu sắc


Câu chuyện không có tình huống gay cấn, cũng không có nhân vật xấu độc, nhưng tạo nên tiếng cười châm biếm thông minh.


Cả hai nhân vật đều cố tình đưa ra thông tin không cần thiết chỉ để khoe của.


Người hỏi lợn: lẽ ra chỉ cần hỏi “Bác có thấy con lợn nào chạy qua không?” nhưng lại nói rõ “lợn cưới nhà tôi”.


Người kia cũng chẳng cần nói gì về áo, nhưng lại tranh thủ nói “chỉ thấy người mặc áo mới đi lại mãi thôi”.


b. Phê phán thói khoe khoang hình thức, giả tạo


Câu chuyện thể hiện một thói xấu phổ biến trong xã hội xưa và nay: thích khoe của, khoe mẽ dù rất vụn vặt.


Người nông dân khoe có lợn cưới – tức là gia đình đang làm đám cưới, có của ăn của để.


Người còn lại khoe mình có áo mới – một thứ xa xỉ với người nông dân xưa.


Bản chất khoe khoang bị lật tẩy một cách khéo léo qua cách nói bóng gió, tạo nên tiếng cười và bài học nhẹ nhàng.


c. Giá trị văn hóa – xã hội


Truyện cho thấy cái nhìn châm biếm nhưng rất tinh tế của nhân dân xưa.


Là một kiểu truyện cười “trào phúng nhẹ” – không quá gay gắt, nhưng để lại ấn tượng sâu.


Đồng thời thể hiện tư duy dân gian thông minh, sắc sảo, biết dùng ngôn ngữ để phản ánh bản chất sự việc.


III. KẾT LUẬN

“Lợn cưới, áo mới” là một truyện cười ngắn gọn, hài hước nhưng sâu sắc, phản ánh rõ nét thói khoe khoang hình thức – một thói xấu tồn tại cả trong quá khứ và hiện tại. Tác phẩm thể hiện tiếng cười trào phúng nhẹ nhàng, tinh tế, đồng thời cho thấy tài quan sát sắc bén và nghệ thuật kể chuyện sinh động của nhân dân lao động xưa. Đây là một minh chứng tiêu biểu cho giá trị giáo dục và phê phán nhẹ nhàng trong văn học dân gian Việt Nam.

0
Vấn đề: Ý nghĩa và giá trị của truyện cổ tích Tấm Cám1. Mở đầuTrong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tấm Cám là tác phẩm nổi bật, quen thuộc với nhiều thế hệ. Câu chuyện phản ánh cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, đồng thời gửi gắm ước mơ công bằng, hạnh phúc của nhân dân lao động.2. Nội dunga. Tóm tắt truyệnTấm mồ côi cha mẹ, sống với dì ghẻ và em cùng cha khác mẹ là...
Đọc tiếp

Vấn đề: Ý nghĩa và giá trị của truyện cổ tích Tấm Cám

1. Mở đầu

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tấm Cám là tác phẩm nổi bật, quen thuộc với nhiều thế hệ. Câu chuyện phản ánh cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, đồng thời gửi gắm ước mơ công bằng, hạnh phúc của nhân dân lao động.

2. Nội dung

a. Tóm tắt truyện
Tấm mồ côi cha mẹ, sống với dì ghẻ và em cùng cha khác mẹ là Cám. Tấm hiền lành, chăm chỉ nhưng bị mẹ con Cám nhiều lần hãm hại. Nhờ sự giúp đỡ của Bụt, Tấm trở thành hoàng hậu. Tuy nhiên, Tấm bị mẹ con Cám sát hại nhiều lần, sau đó hóa thân qua nhiều kiếp (chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị). Cuối cùng, Tấm trở lại làm người, trừng trị kẻ ác và sống hạnh phúc.

b. Nhân vật và ý nghĩa
-Tấm: hiền lành, chăm chỉ, giàu tình thương; đồng thời kiên cường, không cam chịu, biết đứng lên chống lại cái ác
-Cám và dì ghẻ: hiện thân của cái ác, độc ác, tham lam, ghen ghét
-Bụt: tượng trưng cho niềm tin, khát vọng công bằng và sự chở che của nhân dân dành cho người lương thiện.

c. Giá trị của truyện
-Giá trị hiện thực: phản ánh sự đối kháng giữa người lao động lương thiện và kẻ ác trong xã hội
-Giá trị nhân đạo: ca ngợi vẻ đẹp, phẩm chất của con người hiền lành, chăm chỉ; khẳng định ước mơ công lý, ở hiền gặp lành.
-Giá trị nghệ thuật: xây dựng cốt truyện hấp dẫn, giàu kịch tính; nghệ thuật hóa thân sáng tạo; ngôn ngữ dân gian giản dị mà giàu sức gợi.

3. Kết luận

Tấm Cám là truyện cổ tích tiêu biểu, vừa phản ánh quy luật “thiện thắng ác bại”, vừa gửi gắm ước mơ hạnh phúc, công bằng của nhân dân. Qua đó, tác phẩm bồi đắp niềm tin vào những giá trị tốt đẹp, hướng con người đến lối sống nhân ái, kiên cường.

0
TẬP NGHIÊN CỨU VÀ VIẾT BÁO CÁO VỀ MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIANTác phẩm: Truyện cổ tích “Thạch Sanh” 1. Giới thiệu chungThể loại: Truyện cổ tích.Xuất xứ: Kho tàng truyện dân gian Việt Nam, được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.Nhân vật chính:Thạch Sanh – chàng trai nghèo, dũng cảm, thật thà.Nhân vật phản diện:Lý Thông, quân xâm lược. 2. Nội dung chính của tác phẩmTruyện kể về...
Đọc tiếp

TẬP NGHIÊN CỨU VÀ VIẾT BÁO CÁO VỀ MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIAN

Tác phẩm: Truyện cổ tích “Thạch Sanh”


1. Giới thiệu chung

Thể loại: Truyện cổ tích.

Xuất xứ: Kho tàng truyện dân gian Việt Nam, được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.

Nhân vật chính:Thạch Sanh – chàng trai nghèo, dũng cảm, thật thà.

Nhân vật phản diện:Lý Thông, quân xâm lược.


2. Nội dung chính của tác phẩm

Truyện kể về chàng Thạch Sanh mồ côi cha mẹ, sống nghèo khổ nhưng giàu lòng nhân nghĩa. Nhờ sức mạnh và tài năng, Thạch Sanh đã diệt chằn tinh, cứu công chúa, chiến thắng quân xâm lược. Tuy bị mẹ con Lý Thông nhiều lần hãm hại, cuối cùng chàng vẫn được minh oan, trở thành phò mã và được nhân dân yêu mến.

3. Giá trị nội dung

* Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người lao động: Thạch Sanh thật thà, dũng cảm, giàu lòng nhân nghĩa.

* Lên án cái xấu, cái ác: Lý Thông gian xảo, tham lam, cuối cùng bị trừng trị.

* Khát vọng công bằng xã hội: Cái thiện cuối cùng chiến thắng cái ác
*Tình yêu hòa bình: Truyện phản ánh tinh thần chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước.

4. Giá trị nghệ thuật

* Xây dựng hình tượng nhân vật mang tính đối lập rõ nét (Thạch Sanh hiền lành ↔ Lý Thông độc ác).

* Yếu tố thần kỳ (cây đàn, niêu cơm, vũ khí thần) vừa hấp dẫn vừa thể hiện ước mơ của nhân dân.

* Cốt truyện giàu kịch tính, mang tính giáo dục cao.

5. Ý nghĩa

“Thạch Sanh” thể hiện niềm tin của nhân dân vào sức mạnh, phẩm chất của người lao động, đồng thời phản ánh quy luật: cái thiện luôn thắng cái ác. Đây là một trong những truyện tiêu biểu của văn học dân gian Việt Nam.

0
4 tháng 11 2021

GỢI Ý ĐÁP ÁN

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm):

Câu 1 (0,5 điểm): Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2 (1,0 điểm): Người mẹ được tác giả miêu tả: đợi con, tóc hóa ngàn lau trắng, lưng nặng thời gian, nghìn ngày trên bến vắng.

Câu 3 (1,5 điểm): Ý nghĩa 2 câu thơ: khắc họa nỗi vất vả, cơ cực trong cuộc đời mẹ bao năm trời bôn ba với gió sương để kiếm kế sinh nhai nuôi sống những người con của mình đồng thời thể hiện tình cảm yêu thương và sự biết ơn, trân trọng trước công lao ấy của những người con.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1 (2,0 điểm):

a. Mở bài

Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: tinh thần tự học.

b. Thân bài

* Giải thích

Tự học là khả năng tự tìm tòi, lĩnh hội kiến thức một cách chủ động mà không dựa dẫm vào ai.

* Phân tích

- Tự học giúp chúng ta chủ động trong việc tìm kiếm, tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích và có thể tự rút ra được những bài học cho riêng mình mà không bị phụ thuộc vào bất cứ ai.

- Tự học giúp ta ghi nhớ kiến thức lâu hơn.

- Tự học giúp chúng ta rèn luyện tính kiên trì.

- Tự học giúp mỗi chúng ta trở nên năng động hơn trong chính cuộc sống của mình.

* Chứng minh

Học sinh lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu để minh họa cho luận điểm của mình.

* Phản biện

Có những người lười biếng, không chịu tìm tòi, học hỏi để mở mang tầm hiểu biết. Những người này đáng bị phê phán.

c. Kết bài

Liên hệ bản thân và rút ra bài học.

Câu 2 (5,0 điểm):

a. Mở bài

Giới thiệu câu chuyện bằng lời kể của cá bống.

b. Thân bài

* Hoàn cảnh gặp gỡ Tấm Cám và chứng kiến câu chuyện

- Tôi sống ở một con sông nhỏ, ngày ngày thong thả vui chơi.

- Một hôm tôi vừa tỉnh giấc đã thấy mình nằm trong một thứ gì đó khá chật chội, tối om.

- Lát sau tôi được quay trở về với dòng nước mát nhưng ở một nơi khác có hình tròn và chật chội hơn dòng sông. Tôi sống ở đó nhiều ngày liên tiếp.

- Có cô gái tên là Tấm hằng ngày đến cho tôi ăn, làm bạn với tôi; tôi chứng kiến cuộc sống của cô gái bất hạnh này.

* Diễn biến câu chuyện

- Một hôm, nghe tiếng gọi cho tôi ăn, tôi ngoi mặt nước để ăn. Bỗng một hôm khi nghe thấy tiếng gọi tôi ngoi lên thì lại bị vớt lên.

- Hai người phụ nữ vẻ dữ dằn bắt tôi ăn thịt, xương bị vùi vào đống tro bếp. Tấm cho gà trống nắm thóc rồi nhờ tìm giúp xương tôi, lấy chôn vào bốn chân giường.

- Ít lâu sau, nhà vua mở hội tìm vợ. Tấm bị mẹ con Cám bắt làm việc nhà không cho đi. Cô được Bụt giúp nên có bộ trang phục đẹp đẽ để đi dự hội. Không may làm rơi chiếc giày nhưng chính chiếc giày đó đã giúp nàng trở thành vợ của vua.

- Thế nhưng, trong lần về nhà giỗ cha, Tấm bị dì ghẻ lừa leo lên cây cau rồi bị ngã chết do dì đứng dưới chặt gốc cây. Sau đó bà ta lại đem Cám vào cung thay thế Tấm.

- Tấm không chết mà hóa thành con chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi rồi hóa thành cây thị. Kì lạ là cây chỉ có một quả, được một bà lão qua đường đem về để nơi góc giường.

- Một hôm, nhà vua đi qua quán nước của bà thấy miếng trầu têm cánh phượng, gặng hỏi cuối cùng tìm được Tấm và đưa nàng về cung. Mẹ con Cám về sau cũng bị trừng phạt. Tấm sống hạnh phúc bên nhà vua.

c. Kết bài

Khái quát lại ý nghĩa câu chuyện.

 

 

9 tháng 12 2016

a, Phương thức : tự sự

b, tiền đúng là thứ khiến con người ta mù oán về nó, nó khiến con người mất hết lí trí. Nhiều người vì tiền mà còn hi sinh cả hạnh phúc. Đúng tiền có thể mua được vũ khí nhưng bình yên, hạnh phúc làm sao mà đem ra trao đổi bằng tiền được. Làm sao mà lấy tiền ra đem trao đổi, vì hòa bình là do con người tạo ra chứ không phải tiền.

c, không phải lúc nào tiền cũng có thể đem ra mua bán không phải lúc nào cũng cần dùng. Vì tiền chỉ là một tờ giấy, nó chỉ có giá trị với đồ vật nhưng lại không bao giờ có giá trị với tinh thần.

d, Từ khi đồng tiên có khả năng khiến cuộc sống bạn tốt hơn, bạn càng kiếm được nhiều tiền thì số tiền đó càng được phát triển nhiều hơn và nhanh hơn. Bên cạnh đó, bạn kiếm được càng nhiều tiền thì bạn càng có nhiều tự do: tự do để ở nhà chơi với bọn trẻ, tự do để được nghỉ ngơi và du lịch khắp thế giới hoặc tự do nghỉ việc nếu thật sự không thích. Nếu bạn có bất kỳ một nguồn thu nhập nào, bạn đã có thể bắt đầu vun đắp cho sự giàu có của mình ngay từ hôm nay. Có thể, mỗi lần bạn chỉ để dành được vài trăm ngàn đồng, nhưng mỗi sự đầu tư này là một viên gạch tạo nên nền tảng của sự tự do về tài chính của bạn.Kiếm được nhiều tiền không giúp bạn giải quyết được hết những vấn đề. Đồng tiền là một chiếc kính phóng đại, nó sẽ giúp bạn nhìn rõ hơn và thúc đẩy mọi việc. Nếu bạn không có khả năng kiếm được đủ tiền để trang trải thì cuộc sống của bạn sẽ thật tồi tệ. Nhưng vấn đề quan trọng không phải là số lượng tiền bạn kiếm được mà chính ở chỗ bạn đã được dạy cách tiêu tiền như thế nào.

9 tháng 12 2016

cam on ban nha