Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Phân chia bề mặt trái đất ra làm 24 khu vực có thuận lợi về mặt sinh hoạt và đời sống là các hoạt động của người dân sống trong khu vực sẽ được thống nhất về mặt thời gian
- Có biện pháp canh tác đúng kỹ thuật : Bón phân cân đối(ưu tiên phân hữu cơ, phân chế phẩm sinh học...), thuốc hóa học đúng liều lượng, đúng thời kỳ (ưu tiên các thuốc sinh học)
- Chống xói mòn rửa trôi như trồng cây theo vành đai nếu địa hình dốc, trồng cây chắn theo băng như cây đậu chàm, cây keo dậu.. vừa lây lá thân làm phân xanh vừa có tác dụng chống xói mòn)
- luân canh cây trồng
- Trồng cây cải tạo đất: cây họ đậu
Biện pháp thường dùng là: Trồng cây họ đậu, họ lạc vì có bộ rể làm giầu đạm cho đất; bón phân hữu cơ, làm tơi đất; những nơi đất xấu thì phải thay đất xấu bằng đất tốt, sau đó áp dụng các biện pháp tăng độ phì nghiêu như trên. Muốn thật tốt thì phải tùy tính chất của đất và định trồng gì mà có biện pháp thích hợp.
các loại hồ phân loại theo nguồn gốc hình thành mà em biết là:
+) Hồ Núi Lửa
+)Hồ Móng Ngựa
+) Hồ Nhân Tạo....![]()
![]()
![]()
Đường đồng mức biểu hiện độ cao của địa hình trên bản đồ
Duong dong muc la duong noi cac diem voi nhau tren cung mot do cao
Nước là dung nham tạo ra sau nhiều thời gian khai hóa, phong thực!
Là hiện tượng chuyển động của lớp nước biển trên mặt tạo thành các dòng chảy trong các biển và đại dương.
-kí hiện đại là một loại hình văn học trung gian , nằm giữa báo chí và văn học , gồm nhiều thể loại , chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tùy bút,.....
- thơ hiện đại là hình thức sáng tác văn học phản ảnh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu.
Truyện hiện đại là truyện không phải truyện truyền thuyết
Thơ hiện đại là thơ không phải là thơ ngày xưa
Kí hiện đại là kí bây giờ
Tick mình với nhé mọi người.
sai nhiều thế
hjhj
còn truyện hiện đại nữa bạn ơi
hình như đây là môn địa lý ko phải ngữ văn bạn ạ
nhầm chủ đề rồi
Nam Hà Ứng trả lời truyện hiện đại giúp mình đi
chờ mình tý
truyện hiện đại thể hiện sự cách tân của tầng lớp trí thức thời bây giờ , họ mang luồng gió phương Tây thổi vào Việt Nam đem cho nó sức thái mới , tiếng nói mới phá bỏ niêm luật , cách viết tự do.....
Lần sau thì bạn nên vào Ngữ Văn để hỏi nhé! Đây là bên Địa lý.
Æc ®iÓm truyÖn hiÖn ®¹iỞ Việt Nam, truyện ngắn đã có lịch sử phát triển lâu dài. Tuy nhiên, truyện ngắn mang dấu hiệu hiện đại chỉ thực sự ra đời ở đầu thế kỉ XX, gắn với sự xuất hiện, nở rộ của báo chí và các hoạt động xuất bản... Lâu nay, dấu hiệu hiện đại của truyện ngắn giai đoạn đầu thế kỷ XX chủ yếu được phân tích qua những phương diện: chủ đề tư tưởng, nhân vật, ngôn ngữ… trong khi nghệ thuật trần thuật nói chung, nghệ thuật xây dựng cốt truyện và kết cấu nói riêng – những yếu tố quan trọng tạo nên sự biến đổi theo hướng hiện đại của truyện ngắn đầu thế kỷ XX chưa được quan tâm khảo sát một cách toàn diện.Khi xem xét truyện ngắn đầu thế kỷ XX, có thể nhận thấy đặc điểm lớn của nó là sự đan xen cũ - mới trong nghệ thuật trần thuật mà cốt truyện - kết cấu là những phương diện thể hiện rất rõ điều đó. I. Trước hết, xin đề cập tới phương diện cốt truyện của truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỉ XX.Khảo sát ba loại cốt truyện tiêu biểu của truyện ngắn đầu thế kỷ XX: cốt truyện luận đề, cốt truyện có các sự kiện mang tính kịch cao, cốt truyện tâm lý, chúng tôi thấy cốt truyện của truyện ngắn đầu thế kỉ XX một mặt vẫn mang một số đặc điểm của truyện ngắn trung đại, mặt khác đã bước đầu bộc lộ những dấu hiệu hiện đại, mới mẻ đáng ghi nhận.
Xem nội dung đầy đủ tại:http://123doc.org/document/499372-dac-diem-truyen-hien-dai.htm§Æc ®iÓm truyÖn hiÖn ®¹iỞ Việt Nam, truyện ngắn đã có lịch sử phát triển lâu dài. Tuy nhiên, truyện ngắn mang dấu hiệu hiện đại chỉ thực sự ra đời ở đầu thế kỉ XX, gắn với sự xuất hiện, nở rộ của báo chí và các hoạt động xuất bản... Lâu nay, dấu hiệu hiện đại của truyện ngắn giai đoạn đầu thế kỷ XX chủ yếu được phân tích qua những phương diện: chủ đề tư tưởng, nhân vật, ngôn ngữ… trong khi nghệ thuật trần thuật nói chung, nghệ thuật xây dựng cốt truyện và kết cấu nói riêng – những yếu tố quan trọng tạo nên sự biến đổi theo hướng hiện đại của truyện ngắn đầu thế kỷ XX chưa được quan tâm khảo sát một cách toàn diện.Khi xem xét truyện ngắn đầu thế kỷ XX, có thể nhận thấy đặc điểm lớn của nó là sự đan xen cũ - mới trong nghệ thuật trần thuật mà cốt truyện - kết cấu là những phương diện thể hiện rất rõ điều đó. I. Trước hết, xin đề cập tới phương diện cốt truyện của truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỉ XX.Khảo sát ba loại cốt truyện tiêu biểu của truyện ngắn đầu thế kỷ XX: cốt truyện luận đề, cốt truyện có các sự kiện mang tính kịch cao, cốt truyện tâm lý, chúng tôi thấy cốt truyện của truyện ngắn đầu thế kỉ XX một mặt vẫn mang một số đặc điểm của truyện ngắn trung đại, mặt khác đã bước đầu bộc lộ những dấu hiệu hiện đại, mới mẻ đáng ghi nhận. 1. Cốt truyện luận đề Qua khảo sát truyện ngắn luận đề đầu thế kỷ XX như các truyện: Chân tướng quân, Tráng sĩ Cao Thắng, Tước Thái thiền sư của Phan Bội Châu, Một nhà bác học, Câu chuyện gia tình của Nguyễn Bá Học; Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhơn của Nguyễn Chánh Sắc, Một cánh hoa chìm của Nguyễn Văn Cơ, Bác nghiện của Vũ Miễn Nam, Trên lầm dưới lỗi của Trần Quảng Nghiệp và nhiều truyện khác, chúng tôi thấy những truyện trên do chỉ chú trọng miêu tả sự kiện để hướng tới một khái quát mang tính luận đề, tác giả có xu hướng nói thay nhân vật nên nhân vật bị lu mờ, khô cứng hoặc hầu như không có tính cách.Ví như trong Câu chuyện gia tình của Nguyễn Bá Học, nhân vật bà già được miêu tả với những hành động, lời nói không phù hợp với hoàn cảnh xuất thân của con người bà - một bà mẹ chân quê nhưng lại có thể nói những lời của bậc túc nho. Nhân vật bà già được miêu tả một cách tóm lược và bị biến thành cái loa phát ngôn cho những quan niệm, những thuyết lý đạo đức truyền thống của tác giả. Đây là hiện tượng ảnh hưởng thi pháp truyện ngắn trung đại còn có ở truyện ngắn đầu thế kỷ XX đặc biệt ở các truyện ngắn của thế hệ các tác giả Nho học lúc bấy giờ.Nhưng bên cạnh đó, một số tác phẩm có cốt truyện luận đề đầu thế kỷ XX như truyện Tước Thái thiền sư, Dư sinh lịch hiểm ký… đã bước đầu bộc lộ những dấu hiệu hiện đại, tính cách nhân vật đã có sự vận động, phát triển rõ nét qua nhiều thử thách. Đây là điều chưa được đặt thành vấn đề trọng tâm ở các tập truyện ngắn trung đại.Một dấu hiệu hiện đại nữa trong cốt truyện luận đề đầu thế kỷ XX là nếu cốt truyện luận đề trong văn học trung đại thường cài đặt nhiều chi tiết ly kỳ, sản phẩm của quá trình thần thánh hoá, truyền thuyết hoá theo quan điểm dân gian, tín ngưỡng dân gian thì cốt truyện luận đề của truyện ngắn đầu thế kỷ XX không đi theo hướng đó. Hướng tới tính
Xem nội dung đầy đủ tại:http://123doc.org/document/499372-dac-diem-truyen-hien-dai.htm§Æc ®iÓm truyÖn hiÖn ®¹iỞ Việt Nam, truyện ngắn đã có lịch sử phát triển lâu dài. Tuy nhiên, truyện ngắn mang dấu hiệu hiện đại chỉ thực sự ra đời ở đầu thế kỉ XX, gắn với sự xuất hiện, nở rộ của báo chí và các hoạt động xuất bản... Lâu nay, dấu hiệu hiện đại của truyện ngắn giai đoạn đầu thế kỷ XX chủ yếu được phân tích qua những phương diện: chủ đề tư tưởng, nhân vật, ngôn ngữ… trong khi nghệ thuật trần thuật nói chung, nghệ thuật xây dựng cốt truyện và kết cấu nói riêng – những yếu tố quan trọng tạo nên sự biến đổi theo hướng hiện đại của truyện ngắn đầu thế kỷ XX chưa được quan tâm khảo sát một cách toàn diện.Khi xem xét truyện ngắn đầu thế kỷ XX, có thể nhận thấy đặc điểm lớn của nó là sự đan xen cũ - mới trong nghệ thuật trần thuật mà cốt truyện - kết cấu là những phương diện thể hiện rất rõ điều đó. I. Trước hết, xin đề cập tới phương diện cốt truyện của truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỉ XX.Khảo sát ba loại cốt truyện tiêu biểu của truyện ngắn đầu thế kỷ XX: cốt truyện luận đề, cốt truyện có các sự kiện mang tính kịch cao, cốt truyện tâm lý, chúng tôi thấy cốt truyện của truyện ngắn đầu thế kỉ XX một mặt vẫn mang một số đặc điểm của truyện ngắn trung đại, mặt khác đã bước đầu bộc lộ những dấu hiệu hiện đại, mới mẻ đáng ghi nhận. 1. Cốt truyện luận đề Qua khảo sát truyện ngắn luận đề đầu thế kỷ XX như các truyện: Chân tướng quân, Tráng sĩ Cao Thắng, Tước Thái thiền sư của Phan Bội Châu, Một nhà bác học, Câu chuyện gia tình của Nguyễn Bá Học; Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhơn của Nguyễn Chánh Sắc, Một cánh hoa chìm của Nguyễn Văn Cơ, Bác nghiện của Vũ Miễn Nam, Trên lầm dưới lỗi của Trần Quảng Nghiệp và nhiều truyện khác, chúng tôi thấy những truyện trên do chỉ chú trọng miêu tả sự kiện để hướng tới một khái quát mang tính luận đề, tác giả có xu hướng nói thay nhân vật nên nhân vật bị lu mờ, khô cứng hoặc hầu như không có tính cách.Ví như trong Câu chuyện gia tình của Nguyễn Bá Học, nhân vật bà già được miêu tả với những hành động, lời nói không phù hợp với hoàn cảnh xuất thân của con người bà - một bà mẹ chân quê nhưng lại có thể nói những lời của bậc túc nho. Nhân vật bà già được miêu tả một cách tóm lược và bị biến thành cái loa phát ngôn cho những quan niệm, những thuyết lý đạo đức truyền thống của tác giả. Đây là hiện tượng ảnh hưởng thi pháp truyện ngắn trung đại còn có ở truyện ngắn đầu thế kỷ XX đặc biệt ở các truyện ngắn của thế hệ các tác giả Nho học lúc bấy giờ.Nhưng bên cạnh đó, một số tác phẩm có cốt truyện luận đề đầu thế kỷ XX như truyện Tước Thái thiền sư, Dư sinh lịch hiểm ký… đã bước đầu bộc lộ những dấu hiệu hiện đại, tính cách nhân vật đã có sự vận động, phát triển rõ nét qua nhiều thử thách. Đây là điều chưa được đặt thành vấn đề trọng tâm ở các tập truyện ngắn trung đại.Một dấu hiệu hiện đại nữa trong cốt truyện luận đề đầu thế kỷ XX là nếu cốt truyện luận đề trong văn học trung đại thường cài đặt nhiều chi tiết ly kỳ, sản phẩm của quá trình thần thánh hoá, truyền thuyết hoá theo quan điểm dân gian, tín ngưỡng dân gian thì cốt truyện luận đề của truyện ngắn đầu thế kỷ XX không đi theo hướng đó. Hướng tới tính
Xem nội dung đầy đủ tại:http://123doc.org/document/499372-dac-diem-truyen-hien-dai.htm
hơ hiện đại mang những giá trị thời đại, nó sẽ trở thành truyền thống theo lôgíc truyền kiếp của tiếp biến văn hóa nên nó chỉ là phát triển biến dạng tinh vi của những giá trị thơ ca truyền thống chứ không hề phủ định những giá trị này. Nghiên cứu thi pháp của thơ hiện đại, chỉ ra những khác biệt của nó về đam mê và hình tướng trong so sánh với thi ca truyền thống cũng là để lần tìm trong cái rối bời cảm xúc và ngôn ngữ của nó một đầu mối mong manh liên kết sự hỗn loạn phù du của nó với cái gốc văn hoá, tâm linh và đời sống đã hiển nhiên trong tư cách nền tảng của giá trị thơ ca.
Trong nỗ lực cách tân của thơ ca hiện đại, con người dường như đang được phá ra làm lại, y như sửa lại một bản thảo với gạch xoá và thêm bớt. Con người bị xoá đi cái đường viền quen thuộc như ngàn xưa, cái đường viền tạo nên ranh giới giữa nó với tự nhiên và xã hội, giữa trần gian và vũ trụ. Để biểu hiện cái sức sống mởi mẻ, mãnh liệt và cái tâm thức giắng xé quằn quại của thời đại, con người hoá thân thành rất nhiều sinh thể khác nhau trong thơ. Nó cũng phân thân thành từng linh kiện, cái lưỡi, ngón tay, đôi mắt, chứng minh thư, mùi xoa, chiếc ghế... tất cả giờ đây chẳng ở yên trong trật tự của cái Tôi, một người tình, một công dân... mà náo loại đổi chỗ, đổi ngôi bứt khỏi nhau, vượt thoát khỏi lực hút của những trật tự cũ, những ý nghĩa cũ để lơ lửng trong thơ như những sinh thể riêng của vũ trụ. Chúng dường như đang sống trong nhịp đập của những thân phận vũ trụ vừa kỳ vĩ lớn lao, vừa thầm lặng bé nhỏ, vừa như đánh mất con người xã hội lại vừa như mở rộng đến vô cùng cuộc sống trần gian, là chứng nhân cho sự mở rộng nhân cách con người trong sự đồng cảm với những sinh vật khác.
Con người trong thơ hiện đại trở nên khoáng đạt, đôi khi ngông ngạo. Nó chẳng con giữ cái nhìn thiêng liêng sùng kính vào vũ trụ, vào người yêu, vào lãnh chúa như xưa. Nó lôi tuột vũ trụ huyền ảo về làm đồ vật thường ngày của nó: đám mây làm tã lót, sông Ngân Hà là con sông đục ngầu bởi mỏ vịt mò cua, tia nắng như lạt buộc, vầng trăng như cốc thủng, cây xanh thì tự xé rách lưỡi mình ví ngứa, những con chim thì bay lên như mí mắt người chết sống lại từ từ mở ra... Cả một vũ trụ bị đời thường hoá, đồ đạc hoá, còn đâu cái xa vời, lung linh, hư ảo của ngày xưa. Lý Bạch xưa chỉ dám coi trăng như bạn rượu, lịch sự và khát khao mời mọc. Looca thấy túi tiền xu như "vầng trăng trăm đầu", khắc khoải ám ảnh bởi cái khoảnh khắc "khi vầng trăng hiện". Trăng trong thơ xưa bao giờ chẳng xa, đẹp và thánh thiện, chẳng mấy ai ví nó như một đồ vật tầm thường như thi sĩ hôm nay. Có một sự đảo lộn và đổi chất trong quan niệm và cảm thức về cái thi vị, thiêng liêng. Thi sĩ hiện đại nổi loạn, lật đổ những ngôi vị thiêng liêng thơ mộng, những khát vọng trần thế để chiếm lĩnh vũ trụ, giống như Tôn Ngộ Không nhảy tót lên thiên đình vỗ vai Ngọc Hoàng và ngốn ngấu đào thiêng. Sự nổi loạn này có cội nguồn dân chủ và thực dụng, song nó không phải là dấu hiệu của sự khô đạo. Nó chỉ là sự đảo chính tôn giáo, lật đổ những Chúa Trời cũ, những thần tượng biểu tượng thơ ca cũ để xây dựng một tôn giáo mới, một chủ nghĩa trữ tình mới, ở đó những sinh vật bé nhỏ, những đồ đạc vốn tầm thường được trân trọng, lên ngôi, nhảy múa điên cuồng, thậm chí lung linh, tung tẩy trong áo mới như trong ngày hội. Nếu thơ xưa là ngày hội của quần chúng của thánh thần trong lịch sử và trong vĩnh cửu, thì giờ đây, thơ là ngày hội của các sinh vật nhỏ bé trong đời thực và trong vũ trụ. Chúng vừa được các nhà thơ đưa lên ngôi Chúa tể của thi hứng và được chia một mảnh trăng, một mảnh lịch sử, một mảnh cô đơn, một mảnh tình yêu, một mảnh hư vô ... Chúng gói ghém tất cả hành trang ấy trong cái tay nải thùng thình của ngôn ngữ chất lên vai và lết đi, trườn đi, như một lực lượng mới gánh vác tất cả những sứ mệnh vũ trụ, lịch sử, tôn giáo và thi ca của hàng ngàn năm, trườn đến cái đích vô định mà thậm chí các nhà thơ hiện đại cũng không hình dung được. Các nhà thơ hiện đại không chỉ bàn giao cho chúng sứ mệnh và thân phận của con người, họ còn trao cho chúng tất cả tình yêu và nghi lễ, những bài hát đưa tang, những khẩu hiệu tự do. Và thế giới hiện lên trong thơ hiện đại giống như giọt nước nhìn qua kính hiển vi nhung nhúc những sinh thể bé nhỏ, lấp lánh, điên cuồng, sợ hãi và tội nghiệp. Chúng giống như nạn nhân, bầu bạn và cứu tinh của con người, là nơi pha trộn cái bất lực, cái thi vị thiêng liêng, cái thảm hại đáng thương của đời sống hôm nay và hy vọng của ngày mai.
Con bọ chó trong thơ, giờ đây, đâu phải là con bọ chó tầm thường bẩn thỉu của ngày xưa, mà đã trở nên một sinh vật hùng tráng mang trong nó cái nguyên lý vũ trụ mênh mang mà con người vừa giác ngộ. Nó không còn là ký sinh trùng của một sinh vật quen thuộc trong thế giới quen thuộc của con ngươì mà đã trở thành một đại biểu của một thế giới mới mà con người vừa mới khám phá và đang còn say sưa thám hiểm - thế giới vi mô vô cùng vô tận, thế giới sinh học kỳ bí khôn lường, thế giới vô lượng kiếp trong cái nhìn nhà Phật, thế giới của những tiết tấu vũ trụ thầm kín mà hùng tráng nơi con người đã giác ngộ sự bất lực hữu hạn để khao khát hoà vào trong vũ điệu kỳ ảo của thiên nhiên. Bởi thế, nhà thơ hiện đại chẳng ngại ngần ký thác những tâm sự thời đại kỳ vĩ, những ám ảnh triết học khôn nguôi vào những bầu bạn mới vốn nhỏ bé và gớm ghiếc. Nhà thơ biết rằng, trong cách đo khác thường của giá trị thơ ca, con bọ chó, chú ốc sên có tầm vóc chẳng thua những ông vua, những anh hùng trong thơ ca truyền thống vì trong tư cách những hình tượng và biểu tượng những sinh vật bé nhỏ và yếu ớt kia có thể là điạ chỉ cuối cùng của hy vọng nơi những hồn thiêng của những anh hùng và những vĩ nhân tạm thời nương náu trong cơn thương khó bị xua đuổi khỏi lốt người. Nhà thơ có thể viết những bài thơ hùng tráng ca ngợi cuộc đấu tranh của chúng để kéo dài sự sống trong một kẽ lá khô, ca ngợi cái khát vọng muốn tận hưởng ánh trăng mà lâu nay chỉ dành riêng cho con người tận hưởng. Trong mắt nhà thơ hiện đại các sinh vật tầm thường bé nhỏ cũng đã được nhìn nhận như những vệ tinh mang nhân cách con người. Chúng là những công dân mới của vương quốc thơ ca mang trong mình cả cái phi thường và cái phàm tục, cái vô tận và cái nhỏ bé của nhân loại hôm nay. ở những bài thơ hay, chúng trở thành những ứng cử viên có hạng của sự tìm kiếm nhân vật thời đại vì chúng chính là những mảnh vụn của một vũ trụ thơ vừa bị phá nát vẫn cố mang cái sức mạnh, cái cao cả của vũ trụ trong cái vóc dáng bé nhỏ tội nghiệp... Chúng chỉ còn cố làm vẻ kiên trì đạo lý, làm nơi cư trú của tinh thần vũ trụ trong sự trốn chạy của một thế giới hư nát, thực dụng. ở những bài thơ xoàng, những nhân vật này chỉ là những con giòi nhốn nháo và lơ lửng đục khoét thi thể kiều diễm của Nàng Thơ, chúng thiếu đức hạnh của tôn giáo và vũ trụ. Dù ở cực nào thì những sinh vật nhỏ bé, những đồ đạc tầm thường trong thơ hiện đại cũng bộc lộ rõ xu hướng khước từ cái vĩ mô cổ điển, phổ những gì thi vị thiêng liêng cao cả vào những cái vi mô, cái đời thường. Đó là cách lặn sâu vào thế giới, thám hiểm những đường hầm chật chội bên dưới những nền tảng đời sống ù lì quen thuộc và nhàm chán.
Nhà thơ hiện đại đập nát vũ trụ thơ cũ và đập nát cả con người anh ta, cả gia đình, xã hội, cái tôi. Gia đình chẳng còn quyến rũ như tổ ấm, nó hiện lên trong thơ hiện đại như nơi cư trú của cô đơn, goá bụa, nơi gặp gỡ của những kẻ đi hoang, những kẻ ngoại tình, những chiếc mạng nhện, những con gián rung râu. Xã hội trở thành cái chợ nháo nhào những sách thánh, những xa lông, những xi líp, phao bơi, ly chén và ngỗng quay - nhốn nháo, ô hợp và dung tục. Còn con người, cái tôi, cả linh hồn và thân thể đều đang bị đập ra, mỗi bộ phận quấy lộn như một con thú muốn đòi riêng quyền sống, quyền tự trị. Cái lưỡi từng kiêu hãnh là kẻ phát ngôn những lời cao siêu tinh tế, giờ đây cũng không chịu nằm yên trong miệng mà cố trườn ra như rắn. Thân thể đòi quyền là một xác chết ngay khi nhà thơ còn sống. Móng tay tầm thường đòi trở thành chiếc lông chim ngũ sắc... Nhưng những đổ vỡ đó, những nhốn nháo ô hợp đó lại phát lộ một nỗi đau sâu sắc của nhà thơ thông qua những ấn tượng ghê sợ về sự dung tục của xã hội đương đại nơi con người có nguy cơ xuống cấp thảm hại về văn hoá. Tất cả những ấn tượng, cảm giác, những quấy lộn có màu sắc bệnh hoạn, nổi loạn đó là dấu hiệu hoang mang khắc khoải của một thời đại thi ca trong cảnh ngộ mất đi lực hút của những ý nghĩa nền tảng làm nên cấu trúc tổng thể của con người xưa và vũ trụ xưa. Chính là ý nghĩa sống, ý nghĩa xã hội, những giá trị lịch sử, những biểu tượng văn hoá cũ đã mất đi lực hút để cố kết tất cả những sinh thể và đồ vật của thế giới bên trong và bên ngoài thi sĩ, nên thi sĩ hiện đại quằn quại rên siết trong sự cứa xát của hàng triệu mảnh vụn vỡ của thế giới, nhạy cảm đớn đau, chạy trốn, khóc gào, điên dại và vơ váo nhưng vẫn không thôi mơ mộng khát khao cái đẹp và hướng thiện. Tất cả những sự loạn luân của con người với đồ vật, sinh vật và chủ nghĩa chỉ là cơn hoan lạc thi ca của những kẻ cùng cảnh ngộ đi hoang, vật vã đam mê, đớn đau trong bản năng vũ trụ, bản năng chữ, bản năng người. Cuộc loạn luân thơ ấy, thi pháp quần hôn mông muội ấy có thể không đẻ ra ý nghĩa cuộc đời, mà chỉ sản sinh ra cảm giác và ấn tượng. Nhưng điều đó không hề là dấu hiệu mất đi của chủ nghĩa nhân văn. Trái lại, đó là một chiều kích mới của chủ nghĩa nhân văn, không chỉ vì những ấn tượng và cảm giác đó vẫn thường khơi gợi những miền ký ức văn hoá thiêng liêng, những cảm hứng sáng tạo lành mạnh, mà chính vì đó là sự rên xiết của con người, cỏ cây và đồ vật trong một thế giới đã hư nát bởi sự đầu độc của văn minh vật chất, của những vụ cưỡng hiếp văn hoá, của những ảo tưởng tham lam, ti tiện, thù địch ngày ngày với ý tưởng nhân văn hằng sống trong thơ và tâm khảm các nhà thơ. Hơn thế nữa, trong thi pháp quần hồn mộng muội ấy đã lấp ló một đức hạnh của cảm thức hoà đồng quán xuyến trong cái nhìn vũ trụ và xã hội của con người phương Đông xưa. Cái đức hạnh sâu sắc khôn ngoan của con người cô...
:là một thể của ký thiên về tự sự, thường ghi chép các sự kiện, hay kể lại một câu chuyện khi nó mới xảy ra. Ký sự có cốt truyện hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh, cũng là loại thể có yếu tố trữ tình và chính luận, nhưng khuynh hướng của tác giả được toát ra từ tình thế và hành động. Yếu tố phi cốt truyện của những loại ký này không nhiều. Ghi chép khá hoàn chỉnh một sự kiện, một phong trào, một giai đoạn. Tác phẩm ký sự cũng cấu tạo theo phương thức kết cấu thông thường của một tác phẩm nghệ thuật: mở đầu và phát triển sự kiện, sự biến phát triển đến cao độ - hoặc căng thẳng nhất - và kết thúc. Ký sự là bức tranh toàn cảnh trong đó sự việc và con người đan chéo, những gương mặt của nhân vật không thật rõ nét.
nói rất chuy lý
đúng k pn
WHAT?!