Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).
Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:
→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.
Câu 3.
- Sự thay đổi điểm nhìn:
Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích. - Tác dụng:
Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.
Câu 4
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:
- Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
- Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
→ Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện. - Câu 5.
Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
• Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).
Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.
Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".
• Gợi ý:
• Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.
• Tác dụng:
• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.
• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).
• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.
Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?
• Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):
• Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).
• Bộc lộ tính cách nhân vật:
• Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).
• Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.
Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)
• Bài học:
• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.
• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.
• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.
• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.
Câu 1. (2,0 điểm)
Đoạn văn khoảng 200 chữ:
Đọc Những dặm đường xuân của Băng Sơn, em cảm nhận được một bức tranh mùa xuân thật đẹp và giàu sức gợi. Trên những nẻo đường, sắc xuân lan tỏa từ cành đào phai, cành mai vàng đến những gánh hoa, gánh quất rực rỡ nối nhau về phố thị. Mùa xuân hiện ra không chỉ trong thiên nhiên mà còn trong gương mặt con người, trong tiếng rao hàng, trong nhịp sống rộn ràng của phố phường. Ẩn sau đó là tình yêu tha thiết của nhà văn dành cho quê hương, đất nước, cho mùa xuân truyền thống của dân tộc. Bằng những chi tiết giản dị, gần gũi, tác giả đã khắc họa được vẻ đẹp thanh khiết, trong lành và tràn đầy sức sống của mùa xuân Việt Nam. Đọc văn bản, em thấy lòng mình thêm rạo rực, bâng khuâng; cũng cảm nhận rõ hơn hương vị Tết cổ truyền – một nét đẹp văn hóa ngàn đời mà ai đi xa cũng nhớ. Qua đó, em nhận ra cần biết trân trọng những giá trị giản dị, quen thuộc quanh mình, bởi chính chúng làm nên cội nguồn hạnh phúc và nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người.
Câu 2. (4,0 điểm)
Bài văn khoảng 600 chữ:
Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên dấu ấn không thể hòa lẫn trong cộng đồng nhân loại. Với Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc đã kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử, thể hiện trong tiếng nói, phong tục, lễ hội, trang phục, ẩm thực, kiến trúc và trong cả tâm hồn, tính cách con người. Giữ gìn những nét đẹp ấy là trách nhiệm chung của toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay.
Trước hết, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là giữ lấy cội nguồn, giữ lấy căn tính để không bị hòa tan trong dòng chảy hội nhập. Trong thời đại toàn cầu hóa, văn hóa ngoại lai du nhập mạnh mẽ, dễ khiến một bộ phận giới trẻ chạy theo xu hướng hiện đại mà quên mất gốc rễ truyền thống. Nếu không biết trân trọng, gìn giữ, chúng ta có thể đánh mất bản sắc, mất đi điểm tựa tinh thần quan trọng nhất.
Thế hệ trẻ cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và phát huy những giá trị ấy. Trách nhiệm ấy thể hiện trước hết ở sự trân trọng, tự hào về những di sản mà cha ông để lại: từ tiếng Việt trong sáng đến những câu ca dao, dân ca; từ tà áo dài thướt tha đến những phong tục ngày Tết. Đồng thời, thế hệ trẻ cũng cần chủ động học hỏi, tìm hiểu để am hiểu sâu sắc hơn về lịch sử, văn hóa dân tộc. Khi đã có tri thức, chúng ta mới có thể truyền bá, giới thiệu và lan tỏa những nét đẹp ấy đến bạn bè quốc tế.
Không chỉ dừng ở ý thức, trách nhiệm còn cần thể hiện bằng hành động thiết thực. Đó có thể là việc tham gia bảo vệ di tích lịch sử, giữ gìn phong tục tốt đẹp, ứng xử văn minh nơi công cộng, hoặc đơn giản là biết nói lời hay, giữ gìn tiếng mẹ đẻ trong sáng. Trong thời đại công nghệ số, trách nhiệm ấy còn là việc sử dụng mạng xã hội để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới một cách đúng đắn, sáng tạo.
Tất nhiên, giữ gìn bản sắc không có nghĩa là khước từ cái mới. Thế hệ trẻ cần biết dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc, chứ không để nó phai nhạt.
Tóm lại, gìn giữ những nét đẹp bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm thiêng liêng của thế hệ trẻ. Thực hiện tốt trách nhiệm ấy, chúng ta không chỉ bảo vệ cội nguồn dân tộc mà còn góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam giàu bản sắc trong mắt bạn bè thế giới. Và quan trọng hơn, chính chúng ta – những người trẻ – sẽ tìm thấy niềm tự hào, sự tự tin khi bước vào đời bằng đôi cánh của truyền thống và hiện đại.
Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2.
Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ rất da diết, thường trực, tăng cấp, nhớ nhiều hơn mong, nhấn mạnh mức độ sâu nặng của tình cảm.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ: Nhân hoá (kết hợp ẩn dụ).
- Tác dụng: Gán cho “thôn Đoài” cảm xúc của con người (“ngồi nhớ”), qua đó mượn cảnh để nói tình, làm nổi bật nỗi tương tư thầm kín, e ấp mà sâu sắc của nhân vật trữ tình.
Câu 4.
Hai dòng thơ gợi cảm giác mong chờ, khắc khoải và bế tắc. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ đẹp nhưng buồn, thể hiện ước mong được gặp gỡ, sum vầy mà vẫn còn xa vời.
Câu 5.
Bài thơ cho thấy tình yêu là một giá trị tinh thần đẹp đẽ, giúp con người sống có cảm xúc và biết rung động trước cuộc đời. Tình yêu chân thành khiến con người biết nhớ thương, chờ đợi và hi vọng. Dù có thể mang theo buồn đau, nhưng chính tình yêu làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và giàu chất nhân văn hơn.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát
Câu 2.
Cụm từ " chín nhớ mười mong " diễn tả một nỗi thương nhớ thương khắc khoải, da diết và sâu sắc.
Câu 3.
Biện pháp tu từ được sử dụng là hoán dụ: " thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ những nguowif sống trong thôn đó
Câu 4.
- Trong văn học giân gian, hình ảnh bến, hoa biểu trưng cho người con trai. Nguyễn Bính đã thổi vào những hình ảnh ấy chất lãng manj của thời đại.
- Hai dòng thơ này diễn tả sự vô vọng của nhân vật trũ tình trước mộng tưởng xa xôi về tình yêu.
Câu 5.
Giá trị của cuộc sống là:
- Tình yêu mang lại hạnh phúc, niềm vui và sự ấm áp cho cuộc sống.
- Là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách.
- Giúp con người biết quan tâm, chia sẻ và sống nhân ái hơn.
- Góp phần xây dựng những mỗi quan hệ gắn bó bền chặt, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (200 chữ):
Trong khổ thơ cuối của Tương tư, Nguyễn Bính đã mượn hình ảnh “giầu” và “cau” để gửi gắm nỗi niềm tình yêu và khát vọng gắn bó đôi lứa:
“Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau
Bao giờ giầu bén duyên cau
Thì ta sẽ cưới nhau về một nhà.”
Giầu và cau vốn là hình ảnh quen thuộc trong đời sống văn hóa cưới hỏi của người Việt, tượng trưng cho tình duyên vợ chồng gắn bó bền chặt. Nguyễn Bính đã đưa chất liệu dân gian ấy vào thơ, biến chúng thành biểu tượng nghệ thuật giàu sức gợi. Qua đó, ta thấy được khát vọng tình yêu chân thành, mãnh liệt của chàng trai nông thôn: yêu không chỉ để thương nhớ mà còn mong đến sự kết trái, mong tình yêu được đơm hoa kết quả bằng hạnh phúc hôn nhân. Hình ảnh “giầu – cau” còn cho thấy quan niệm tình yêu của Nguyễn Bính rất mộc mạc, thuần khiết, gắn bó với phong tục và nếp sống thôn quê. Như vậy, bằng hình ảnh dân dã, giàu tính biểu tượng, nhà thơ đã khẳng định sức mạnh, sự bền chặt và thiêng liêng của tình yêu lứa đôi.
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (600 chữ):
Trong một phát biểu nổi tiếng, Leonardo DiCaprio từng nhấn mạnh: “Hành tinh của chúng ta là nơi duy nhất mà chúng ta có thể sống, chúng ta cần bảo vệ nó.” Đây là một quan điểm đúng đắn và đầy tính cảnh báo trong bối cảnh môi trường toàn cầu đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Trước hết, Trái Đất là ngôi nhà chung duy nhất của nhân loại. Cho đến nay, dù khoa học vũ trụ đã phát triển, con người vẫn chưa tìm được một hành tinh nào khác có điều kiện sống phù hợp như Trái Đất. Không khí, nguồn nước, đất đai, rừng cây, đại dương – tất cả đều là những yếu tố không thể thay thế cho sự tồn tại của con người và muôn loài. Vì vậy, bảo vệ Trái Đất cũng chính là bảo vệ sự sống của chính chúng ta.
Tuy nhiên, thực tế đáng buồn là môi trường Trái Đất đang bị tàn phá nặng nề. Ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu, rừng bị chặt phá, băng tan, nước biển dâng… đang đe dọa sự cân bằng sinh thái và kéo theo nhiều hậu quả khôn lường: thiên tai, dịch bệnh, khan hiếm lương thực, suy giảm đa dạng sinh học. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chính con người: khai thác tài nguyên quá mức, lối sống tiêu dùng thiếu ý thức, chạy theo lợi ích kinh tế mà bỏ quên môi trường.
Ý kiến của Leonardo DiCaprio vì thế mang ý nghĩa cảnh tỉnh mạnh mẽ. Nó nhắc nhở chúng ta rằng không ai có thể thoát khỏi hậu quả nếu hành tinh này bị hủy hoại. Cần phải thay đổi từ nhận thức đến hành động: các quốc gia phải chung tay thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải, phát triển năng lượng tái tạo, bảo vệ rừng và đại dương. Ở cấp độ cá nhân, mỗi người cũng có thể góp phần bằng những hành động nhỏ bé nhưng thiết thực: hạn chế sử dụng túi nilon, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, phân loại rác thải, sống thân thiện hơn với tự nhiên.
Tóm lại, Trái Đất là mái nhà duy nhất của nhân loại, không có nơi nào khác để thay thế. Bảo vệ hành tinh này không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi con người đối với tương lai chung. Ý kiến của Leonardo DiCaprio vừa là lời nhắc nhở vừa là lời kêu gọi hành động, để chúng ta cùng nhau gìn giữ ngôi nhà xanh này cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.
Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”
Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.
Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.
Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo
- Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
- Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.
Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.
Câu 1
Thể loại: truyện ngắn.
Câu 2
Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:
"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."
Câu 3.
Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.
Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.
Câu 4.
Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:
+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.
+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.
Cầu 5.
Câu1 Thể loại: Tùy bút.
Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.
Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về
Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.
Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.
Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...
tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.
Câu 5.
Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân
Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau
Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.
Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
→ Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.
Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)
Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.
Fjfjrjfjf
Câu 1 phương thức biểu đạt chính là nghị luận
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận văn học (kết hợp phân tích – bình giảng, có yếu tố biểu cảm).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, lạc lõng, hoang mang trước kiếp người, đồng thời là sự đồng cảm sâu sắc với cái tôi trữ tình của Huy Cận. Đó là cảm giác nhỏ bé của con người trước dòng đời – dòng sông vừa cụ thể vừa biểu tượng.
Câu 3.
Nét khác biệt của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái “tĩnh vắng mênh mông” là:
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả phân tích các yếu tố ngôn ngữ sau để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
Câu 5.
Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn và nỗi nhớ nhà thường trực của cái tôi trữ tình trong Tràng giang.
Vì đó không chỉ là nỗi buồn trước cảnh sông nước mênh mang mà còn là nỗi buồn nhân thế, nỗi khắc khoải của con người hiện đại trước sự vô hạn của không gian và thời gian, khiến bài thơ vừa cổ điển vừa rất gần gũi với tâm trạng con người hôm nay.
Nói lênsoun
câu 1: phương thức biểu đạt nghị luận
câu 2: nỗi cô đơn và nỗi nhớ nhà
câu 3: Tràng Giang so với thơ xưa thì khi cùng tái tạo cái tĩnh vắng mênh mông thông qua cảm xúc, cảm nhận nỗi cô đơn bơ vơ của nhân vật trữ tình
câu 4: tác giả phân tích các từ láy (điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn) các cặp câu tương xứng, các vế câu vừa rời vừa kết nối
câu 5: Tràng giang tạo nên 1 không gian hoang vắng, đìu hiu. đặc điểm này được tác giả viết và phân tích so sánh chỉ ra nét gặp gỡ và nét riêng của Huy Cận với thơ Đường
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính: nghị luận văn học (kết hợp phân tích, bình luận, cảm thụ).
Câu 2.
Phần (3) thể hiện nỗi bâng khuâng, cô đơn, hoài niệm, xen lẫn suy tư triết lí về thân phận, thời gian, đời người.
Câu 3.
Khác với thơ xưa:
Câu 4.
Các yếu tố ngôn ngữ làm nổi bật “nhịp chảy trôi miên viễn”:
Câu 5.
Em ấn tượng nhất với cảm giác dòng sông vừa là không gian vừa là thời gian, gợi nỗi cô đơn và nỗi nhớ quê sâu lắng, rất hiện đại mà vẫn cổ điển.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận.
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc trân trọng, ngưỡng mộ đối với tài năng và sự sáng tạo của Huy Cận, đồng thời thể hiện sự đồng cảm với nỗi cô đơn, u hoài của nhà thơ trước vũ trụ bao la.
Câu 3.
Trong phần (1) của văn bản, tác giả chỉ ra nét khác biệt của "Tràng giang" so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông" là: thơ xưa thường mượn cảnh để tả tình, còn "Tràng giang" không chỉ tả cảnh mà còn thể hiện được cái "tôi" cô đơn, u hoài của nhà thơ trước vũ trụ.
Câu 4.
Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ sau của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của tràng giang:Hệ thống từ ngữ gợi hình, gợi cảm: "tràng giang", "sóng gợn", "mênh mông", "bèo dạt", "cành khô"...Nhịp điệu chậm rãi, đều đặn: thể thơ thất ngôn, cách gieo vần bằng liên tiếp.Phép điệp từ, điệp ngữ: "sóng gợn tràng giang", "lơ thơ cồn nhỏ"...Câu 5.
Em ấn tượng nhất với đặc điểm "nhịp chảy trôi miên viễn" của bài thơ "Tràng giang" được phân tích trong văn bản. Vì qua sự phân tích này, em cảm nhận sâu sắc hơn về sự vận động không ngừng của thời gian, của vũ trụ, đồng thời thấy được nỗi cô đơn, hữu hạn của con người trước sự vô tận ấy.
Câu 1 : Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận (nghị luận văn học), kết hợp với biểu cảm và miêu tả nhằm phân tích, bình luận vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tràng giang.
Câu 2 :
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, trăn trở, suy tư sâu lắng về kiếp người và dòng đời, đồng thời bộc lộ sự đồng cảm, thấm thía trước nỗi buồn nhân thế trong Tràng giang.
Câu 3 :
Ở phần (1), tác giả chỉ ra nét khác biệt của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái “tĩnh vắng mênh mông”:
• Thơ xưa: cái tĩnh vắng mang vẻ an nhiên, tự tại, thanh thản.
• Tràng giang: cái tĩnh vắng lại thấm đẫm nỗi cô đơn, trống vắng, bơ vơ của con người hiện đại, một thế giới quạnh hiu, thiếu vắng sự cảm thông.
Cau 4
Trong phần (2), tác giả phân tích các yếu tố ngôn ngữ làm sáng tỏ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang, gồm:
→ Tất cả tạo nên âm hưởng trôi chảy không dứt, như dòng sông chảy qua không gian và thời gian.
Câu 5
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là Nghị luận (bình luận, phân tích về bài thơ "Tràng Giang" của Huy Cận).
Câu 2. Trong phần (3), người viết đã thể hiện cảm xúc, thái độ gì?
Phần (3) nằm ở cuối đoạn văn bản: "Tôi đọc bài thơ bao lần và không sao..." (kết thúc bị cắt). Dựa vào mạch cảm xúc chung của toàn bộ văn bản là sự phân tích sâu sắc, tâm huyết, và phát hiện ra những giá trị mới mẻ, đặc sắc của bài thơ, ta có thể xác định:
• Cảm xúc, thái độ chính: Ngợi ca, trân trọng, và say mê đối với giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng của bài thơ "Tràng Giang".
• Biểu hiện cụ thể: Cụm từ "Tôi đọc bài thơ bao lần và không sao..." ngụ ý người viết không thể dứt ra được khỏi sức hấp dẫn của bài thơ, thể hiện sự khâm phục và ám ảnh sâu sắc bởi tác phẩm.
Câu 3. Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt nào của Tràng Giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông"?
Dựa vào phần (1) của văn bản:
• Thơ xưa (như Huy Cận thừa hưởng): Tái tạo "tĩnh vắng mênh mông" để được thừa nhận bằng sự an nhiên tự tại.
• "Tràng Giang" của Huy Cận: Tái tạo "tĩnh vắng" nhưng lại cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ.
• Nét khác biệt cốt lõi: Sự tĩnh vắng trong thơ xưa mang ý nghĩa nhập thế, hòa hợp, an nhiên (tịch mịch để trở nên "tĩnh tại" và "thanh vắng"), còn tĩnh vắng trong "Tràng Giang" lại là tĩnh vắng của một cá thể lạc loài, cô đơn tuyệt đối giữa vũ trụ rộng lớn, đi tìm kiếm sự cảm thông nhưng chỉ thấy hoàng hôn và bóng tối.
Câu 4. Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ nào của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của Tràng Giang?
Trong phần (2), tác giả đã phân tích rất nhiều yếu tố ngôn ngữ để làm nổi bật cái "nhịp chảy trôi miên viễn" (nhịp điệu vô tận) của dòng sông:
• Từ láy, điệp từ, điệp ngữ (tạo nhịp điệu kéo dài, không ngừng):
• Sử dụng các từ láy nguyên: "điệp điệp, song song, lớp lớp, đơn đơn..."
• Sử dụng các câu/cụm từ/vần thơ trùng điệp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: "Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song."
• Cấu trúc câu thơ và cách ngắt nhịp (tạo cảm giác không dứt):
• Các vế câu cứ cắt rồi, vừa kết nối tiếp nhau như một chuỗi dài tạo ra nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: "Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót./ Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu."
• Cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp ở cuối các câu:
• Cụm từ: "hàng nối hàng," "Lặng lẽ bờ xanh cát tiếp bãi vàng..."
Tóm lại: Tác giả phân tích từ láy, điệp từ, điệp ngữ và cấu trúc câu thơ tạo ra âm hưởng trôi chảy xuôi vô tận trong lòng bài thơ.
Câu 5. Em ấn tượng nhất với đặc điểm nào của bài thơ Tràng Giang được phân tích trong văn bản? Vì sao?
Đây là một câu hỏi mở, bạn cần chọn một đặc điểm và lý giải. Dưới đây là một gợi ý:
• Đặc điểm ấn tượng nhất (Gợi ý): Sự khác biệt trong việc tái tạo "tĩnh vắng mênh mông" so với thơ xưa (như phân tích ở Câu 3).
• Lý do (Giải thích):
1. Tính Hiện Đại: Nó thể hiện sự rời bỏ quan niệm cũ của thơ Đường (tĩnh vắng để an nhiên, hòa hợp với thiên nhiên).
2. Khẳng định Cá Nhân: Sự tĩnh vắng trong "Tràng Giang" gắn liền với cái tôi cô đơn, buồn bã, bơ vơ trước vũ trụ, thể hiện tâm trạng của một thế hệ trí thức lãng mạn Việt Nam đầu thế kỷ XX.
3. Tư Tưởng Sâu Sắc: Điều này biến "Tràng Giang" thành một "thế giới quanh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoàng vắng", nơi cái tôi đi tìm sự cảm thông và đối diện với nỗi niềm nhân thế sâu sắc, làm cho bài thơ không chỉ là tả cảnh mà còn là trữ tình triết lí.
Nếu bạn muốn tôi làm rõ hơn về bất kỳ câu trả lời nào hoặc muốn phân tích sâu hơn về một khía cạnh cụ thể của bài thơ "Tràng Giang", hãy cho tôi biết nhé!
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận
→ Vì văn bản tập trung phân tích, bình luận, đánh giá giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tràng giang.
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, lạc lõng, suy tư về thân phận con người trước dòng đời mênh mang, vô tận.
→ Đó là cảm giác nhỏ bé, hữu hạn của con người khi đối diện với không gian, thời gian rộng lớn và trường tồn.
Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra nét khác biệt của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái “tĩnh vắng mênh mông” là:
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả phân tích các yếu tố ngôn ngữ sau để làm sáng tỏ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
→ Tất cả tạo nên âm hưởng trôi chảy liên tục, vô tận.
Câu 5.
Em ấn tượng nhất với đặc điểm dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian mà còn chảy trong thời gian và tâm hồn con người.
→ Vì đặc điểm này làm cho bài thơ vượt khỏi một bức tranh thiên nhiên thông thường, trở thành biểu tượng cho dòng đời miên viễn và nỗi cô đơn nhân thế, thể hiện chiều sâu triết lí và giá trị nhân văn của Tràng giang.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận văn học, kết hợp với biểu cảm và phân tích. Câu 2. Ở phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, hoài niệm, xen lẫn suy tư triết lí về kiếp người, dòng đời và nỗi nhớ quê hương. Câu 3. Trong phần (1), nét khác biệt của Tràng giang so với thơ xưa khi tái tạo “tính vắng mênh mông” là: Thơ xưa cảm nhận cái vắng bằng sự an nhiên, tự tại. Tràng giang cảm nhận cái vắng bằng nỗi cô đơn, trống trải, bơ vơ của con người hiện đại, gắn với ý thức cá nhân sâu sắc. Câu 4. Ở phần (2), tác giả phân tích các yếu tố ngôn ngữ làm nổi bật “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang, gồm: Từ láy: “điệp điệp”, “song song”, “lớp lớp”, “đìu hiu”… Cấu trúc trùng điệp, đối xứng, nối tiếp câu thơ. Cách ngắt nhịp, vắt dòng, các cụm từ lặp ở cuối câu → tạo âm hưởng trôi chảy, liên hồi, vô tận. Câu 5. Em ấn tượng nhất với cách Huy Cận biến dòng sông thiên nhiên thành dòng sông của thời gian, của kiếp người và nỗi nhớ quê. Vì đặc điểm này vừa mang vẻ đẹp cổ điển, vừa thấm đẫm nỗi buồn nhân thế hiện đại, khiến bài thơ có chiều sâu cảm xúc và triết lí.
Câu 1→ Văn bản tập trung phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận, đưa ra nhận xét, lí giải và đánh giá giá trị nội dung – nghệ thuật của tác phẩm.
câu 2 : → Đồng thời thể hiện sự ngợi ca tài năng và chiều sâu tư tưởng của Huy Cận khi gửi gắm suy ngẫm về kiếp người, dòng đời qua hình tượng dòng sông.
câu 3Chính cái động nhỏ nhoi trong không gian bao la đã làm nổi bật nỗi cô đơn và trống trải của con người hiện đại.
câu 4
→ Qua đó, “tràng giang” không chỉ là dòng sông mà còn là dòng đời bất tận.
Câu 5
Câu 1:PTBD là biểu cảm.
Câu 2:trong phần 3 người viết thể hiện thái độ ung dung, tự tại trước dòng sông Trường Giang