Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Điểm giống nhau của các hàm Sum, Average, Max, Min là:
A. Có vô số biến
B. Tên hàm được viết hoa
C. Thứ tự các biến là quan trọng, không thay đổi được.
D. Tên hàm được viết thường
Để tích của các số hạng là lớn nhất, ta nên chọn các số hạng nhỏ nhất có thể, bắt đầu từ 2, 3, 4,...
Ta sẽ chọn các số hạng liên tiếp bắt đầu từ 2, cho đến khi tổng của chúng gần bằng nn𝑛.
Giả sử ta chọn các số hạng là 2,3,4,...,k2 comma 3 comma 4 comma point point point comma k2,3,4,...,𝑘. Tổng của chúng là (2+k)(k−1)2the fraction with numerator open paren 2 plus k close paren open paren k minus 1 close paren and denominator 2 end-fraction(2+𝑘)(𝑘−1)2.
Nếu n−∑i=2ki=0n minus sum under-script i equals 2 over-script k end-scripts i equals 0𝑛−𝑘𝑖=2𝑖=0, thì ta đã tìm được cách biểu diễn.
Nếu n−∑i=2ki>0n minus sum under-script i equals 2 over-script k end-scripts i is greater than 0𝑛−𝑘𝑖=2𝑖>0, ta sẽ phân bổ phần dư này cho các số hạng đã chọn, bắt đầu từ số hạng lớn nhất. Step 2: Thuật toán
- Khởi tạo danh sách các số hạng
termsrỗng. - Khởi tạo
sum_terms = 0vàcurrent_num = 2. - Lặp lại cho đến khi
sum_terms + current_num > n:- Thêm
current_numvàoterms. - Cộng
current_numvàosum_terms. - Tăng
current_numlên 1.
- Thêm
- Tính phần dư
remainder = n - sum_terms. - Phân bổ phần dư
remaindercho các số hạng trongterms:- Lặp lại từ cuối danh sách
termsvề đầu: - Nếu
remainder > 0: - Tăng số hạng hiện tại lên 1.
- Giảm
remainderđi 1.
- Nếu
remainder == 0, dừng vòng lặp.
- Nếu
- Lặp lại từ cuối danh sách
- Sắp xếp các số hạng trong
termstheo thứ tự tăng dần.
- Khởi tạo
terms = [],sum_terms = 0,current_num = 2. -
sum_terms + 2 = 2 <= 10.terms = [2],sum_terms = 2.current_num = 3. -
sum_terms + 3 = 5 <= 10.terms = [2, 3],sum_terms = 5.current_num = 4. -
sum_terms + 4 = 9 <= 10.terms = [2, 3, 4],sum_terms = 9.current_num = 5. -
sum_terms + 5 = 14 > 10. Dừng lại. - Phần dư
remainder = 10 - 9 = 1. - Phân bổ phần dư:
- Số hạng cuối cùng là 4. Tăng lên 1 thành 5.
remainder = 0. - Danh sách số hạng mới là
[2, 3, 5].
- Số hạng cuối cùng là 4. Tăng lên 1 thành 5.
- Kiểm tra:
2 + 3 + 5 = 10. Tích là 2×3×5=302 cross 3 cross 5 equals 302×3×5=30.
Để giải quyết bài toán này, ta sẽ sử dụng thuật toán tham lam (greedy algorithm).
Ta sẽ chọn các số hạng là các số nguyên dương liên tiếp bắt đầu từ 2, cho đến khi tổng của chúng gần bằng nn𝑛. Phần dư còn lại sẽ được phân bổ cho các số hạng đã chọn, bắt đầu từ số hạng lớn nhất.
Sau khi thực hiện thuật toán, ta sẽ có danh sách các số hạng cần tìm.
code : #include <bits/stdc++.h>
using namespace std;
int main() {
ios_base::sync_with_stdio(false);
cin.tie(NULL); cout.tie(NULL);
freopen("DANALYSE.INP","r",stdin);
freopen("DANALYSE.OUT","w",stdout);
long long n;
cin>>n;
long long num, a[1000009], m, i;
num=2;
while (num<=n){
m++;
a[m]=num;
n=n-num;
++num;}
i=m;
while (n > 0){
a[i]++;
i--;
if(!i)i=m;
n--;}
cout<<m<<endl;
for (i=1;i<=m;i++)
cout<<a[i]<<endl;
return 0;
}
#include <bits/stdc++.h>
using namespace std;
long long n;
int main()
{
cin>>n;
if (n%2==0) cout<<"Chan";
else cout<<"Le";
return 0;
}
Mình thấy đề chưa rõ lắm về dữ liệu bài toán. Bạn gõ lại hoặc chụp ảnh lại để đề rõ hơn để mọi người dễ giúp bạn hơn nè.
Câu 2:
Lọc dữ liệu là chọn và chỉ hiển thị các hang thỏa mãn các tiêu chuẩn nhất định nào đó.
VD như là lọc hàng có giá trị lớn nhất, nhỏ nhất
C++:
#include <iostream>
#include <cmath>
int main{
int a,b,c; //Nhập giá trị
cin >> a >> b >> c; // lấy giá trị vào máy
int d = max(a,(b,c)); // tìm giá trị lớn nhất
int e = min(a,(b,c)); //tìm giá trị nhỏ nhất
int q = d*e; //tính tích
cout << q; // in ra máy
}
#include <iostream>
#include <cmath>
int main{
int a,b,c; //Nhập giá trị
cin >> a >> b >> c; // lấy giá trị vào máy
int d = max(a,max(b,c)); // tìm giá trị lớn nhất
int e = min(a,max(b,c)); //tìm giá trị nhỏ nhất
int q = d*e; //tính tích
cout << q; // in ra máy
}
xin lỗi ở trên mình viết nhầm
Tích của một số vô tỉ với một số nguyên dương có thể là số hữu tỉ hoặc vô tỉ, tùy thuộc vào giá trị của số vô tỉ và số nguyên dương.
Nếu số vô tỉ là 0, thì tích của nó với bất kỳ số nguyên dương nào cũng sẽ là 0, một số hữu tỉ.
Nếu số vô tỉ khác 0, thì tích của nó với một số nguyên dương sẽ là một số vô tỉ. Điều này có thể được giải thích bằng cách giả sử tích của số vô tỉ với số nguyên dương là một số hữu tỉ. Khi đó, ta có thể viết số vô tỉ dưới dạng phân số tối giản, tức là tử số và mẫu số không có thể chia hết cho bất kỳ số nguyên dương nào. Nhưng khi nhân số vô tỉ với một số nguyên dương, tử số và mẫu số của phân số tối giản này sẽ được nhân với số nguyên dương đó, và do đó sẽ có thể chia hết cho số nguyên dương đó. Điều này trái với giả sử ban đầu, do đó tích của số vô tỉ với số nguyên dương không thể là một số hữu tỉ.
Vì vậy, tích của một số vô tỉ với một số nguyên dương có thể là số hữu tỉ hoặc vô tỉ, tùy thuộc vào giá trị của số vô tỉ và số nguyên dương
a, Gọi số nguyên dương là a ( a \(\in\) Z+)
Giả sử tích của số vô tỉ với số nguyên dương a là một số hữu tỉ thì tích đó có dạng: \(\dfrac{b}{c}\) ( b; c \(\in\) Z ; c \(\ne\) 0)
Khi đó số vô tỉ bằng: \(\dfrac{b}{c}\) : a = \(\dfrac{b}{c\times a}\) ( là một số hữu tỉ vô lý)
Nên điều giả sử là sai, vậy tích của một số vô tỉ với một số nguyên dương là số vô tỉ.
b, Giả sử chỉ có 1 số vô tỉ thì tích của số hữu tỉ với một số nguyên dương phải là một số hữu tỉ (trái với điều đã chứng minh ở trên)
Nên điều giả sử là sai. Vậy có vô số số vô tỉ