Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Dựa vào phần Kiến thức cơ bản để trả lời.
Ngay từ đầu Mĩ mở rộng chiến tranh , miền Bắc đã kịp thời chuyển mọi hoạt động sang thời chiến, thực hiện quân sự hóa toàn dân, đào đắp công sự chiến đấu, hầm hào phòng tránh, triệt để sơ tán, phân tán những nơi đông dân để tránh thiệt hại về người và của.
Chống lại những hành động phá hoại của địch là nhiệm vụ của các lực lượng phòng không, không quân, hải quân với vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, của cả lực lượng tự vệ, dân quân và toàn dân với vũ khí thông thường. Địch đến là đánh, ai không trực tiếp chiến đấu thì phục vụ chiến đấu, bình thường thì toàn dân sản xuất.
Trong chiến đấu và sản xuất, trên miền Bắc Bộ dấy lên phong trào thi đua chống Mĩ, cứu nước, thể hiện sáng ngời chân lí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Qua phong trào thi đua, quân dân ta tỏ ra sức mạnh của một dân tộc giàu truyền thống, lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu thông minh, dũng cảm, đã lập được nhiều thành tích to lớn trong chiến đấu và sản xuất.
Trong hơn 4 năm (từ ngày 5-8-1964 đến ngày 1-11-1968), miền Bắc bắn rơi, phá hủy 3 243 máy bay, trong đó có 6 máy bay B52, 3 máy bay F111; bắn cháy, bắn chìm 143 tàu chiến. Ngày 1-11-1968, Mĩ phải tuyên bố ngừng ném bom bắn phá miền Bắc.
Trên mặt trận sản xuất, miền Bắc cũng lập được những thành tích quan trọng.
Trong nông nghiệp, diện tích canh tác được mở rộng, năng suất lao động không ngừng tăng lên, ngày càng có nhiều hợp tác xã , nhiều địa phương đạt “ba mục tiêu” (5 tấn thóc, 2 đầu lợn, 1 lao động trên 1 héc ta gieo trồng trong 1 năm).
Năm 1965, miền Bắc có 7 huyện, 640 hợp tác xã đạt mục tiêu 5 tấn thóc/1 héc ta gieo trồng trong hai vụ; đến năm 1967, tăng lên 30 huyện và 2 485 hợp tác xã.
Trong công nghiệp, năng lực sản xuất ở một số ngành được giữ vững. Các cơ sở công nghiệp lớn đã kịp thời sơ tán, phân cách, sớm đi vào sản xuất, đpá ứng nhu cầu thiết yếu của chiến đấu, sản xuất và đời sống. Công nghiệp địa phương và công nghiệp quốc phòng đều phát triển. Mỗi tính trở thành một đơn vị kinh tế tương đối hoàn chỉnh.
Giao thông vận tải, mộ trong những trọng điểm bắn phá của địch, được quân và dân ta bảo đảm thường xuyên thông suốt.
Là hậu phương lớn của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, miền Bắc luôn hướng về miền Nam. Vì miền Nam ruột thịt, miền Bắc phấn đấu “mỗi người làm việc bằng hai”. Vì tiền tuyến kêu gọi, hậu phương sẵn sàng đáp lại “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.
Tuyến đường vận chuyển chiến lược Bắc –Nam mang tên Hồ Chí Minh trên bộ (dọc theo dãy núi Trường Sơn) và trên biển (dọc theo bờ biển) bắt đầu khai thông từ năm 1959, dài hàng nghìn cây số, nối liền hậu phương tiền tuyến.
Qua hai tuyến đường vận chuyển chiến lược đó, trong 4 năm (1965-1968) miền Bắc đã đưa vào miền Nam hơn 30 vạn cán bộ, bộ đội tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng kinh tế, văn hóa tại các vùng giải phóng, cùng hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, thuốc men và nhiều vật dụng khác. Tính chung, sức người, sức của từ miền Bắc chuyển vào miền Nam trong 4 năm đã tăng gấp 10 lần so với giai đoạn trước.
Uiii chúc mừng các bé đạt kết quả học tập tốt nha!
Là mình đưa ra thành tích học tập của bản thân và đưa ảnh chứng minh tại bình luận này ạ?, em không rõ lắm:")
(thành tích của em chỉ có chút xíu)
* Giai đoạn 1965 - 1968:
- Khẩu hiệu: “mỗi người làm việc bằng hai”, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.
- Xây dựng tuyến đường vận chuyển Bắc - Nam và trên biển, nối liền hậu phương với tiền tuyến.
- Cung cấp hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, thuốc men và nhiều vật dụng khác…cho miền Nam.
* Giai đoạn 1968 - 1973:
- Tiếp tục chi viện cho tiền tuyến miền Nam và cho cả chiến trường Lào, Campuchia.
- Trong 3 năm (1969 - 1971), hàng chục vạn thanh niên miền Bắc được gọi là nhập ngũ bổ sung cho các chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia; khối lượng vật chất đưa vào các chiến trường tăng gấp 1,6 lần so với 3 năm trước đó...
Hai nhân vật này đều có vai trò quan trọng trong chiến dịch Biên Giới 1950. Nguyễn Bình đại diện cho lực lượng vũ trang miền Nam, góp phần vào việc gây khó khăn cho địch, còn Võ Nguyên Giáp là nhà chiến lược chủ đạo của toàn chiến dịch, chỉ huy các hoạt động quân sự lớn nhằm đạt mục tiêu chung của cuộc kháng chiến.
-Giai đoạn mới: đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.
-Mối quan hệ giữa độc lập và thống nhất: không những gắn với nhau mà còn gắn với chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường phát triển hợp quy luật của cách mạng nước ta.
-Giai đoạn mới: đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.
-Mối quan hệ giữa độc lập và thống nhất: không những gắn với nhau mà còn gắn với chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường phát triển hợp quy luật của cách mạng nước ta.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời phải đương đầu với nhiều kẻ thù trong và ngoài nước (thực dân Pháp, quân Tưởng Giới, tàn dư phản động...). Để giữ vững thành quả cách mạng và tránh bị “một cổ hai tròng”, Đảng ta đã vận dụng nhiều biện pháp ngoại giao linh hoạt: – Ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 với Pháp, sau đó là Tạm ước 14/9/1946, cho phép quân Pháp thay quân Tưởng ra miền Bắc, buộc quân Tưởng và các đảng phái phản động rút về nước. Nhờ đó ta tạo được thời gian hoà hoãn, tránh chiến tranh diễn ra đối đầu cùng lúc với nhiều kẻ thù. – Lâu dài tranh thủ, đàm phán với Pháp để tranh thủ sự thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do trong Liên hiệp Pháp, tạo điều kiện củng cố chính quyền, chuẩn bị sâu sát cho cuộc kháng chiến lâu dài sau này. – Tích cự tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, các lực lượng dân chủ và nhân dân yêu chuộng hoà bình, khăng định chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. – Trong nước, Đảng củng cố khối đoàn kết toàn dân, xử lý nghiêm các tổ chức phản động, thỏa hiệp với một số lực lượng yêu nước để tập hợp sức mạnh. Nhận xét: Đường lối ngoại giao sau Cách mạng Tháng Tám mang tính linh hoạt, khéo léo. Đảng ta đã khéo khai thác mâu thuẩn giữ mấy nước đế giãm bớt sự bao vây của kẻ thù, tranh thủ thời gian củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng và bảo toàn nước non trẻ. Sự hoà hoãn nhưng kiên quyết đó góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp sau này.











Chọn D