Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Ba năm bú mớm con thơ
Kể công cha mẹ biết cơ ngần nào!
Dạy rằng chín chữ cù - lao
Bể sâu không ví, trời cao không bì”
"Muốn sang phải bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”.
"Khó mà biết lẽ biết trời
Biết ăn, biết ở hơn người giàu sang”
mình chỉ viết được mỗi thế thôi thông cảm cho tui nhé!
bởi vì có nhiều tt lớn như là : Thăng Long , Phố hiến , Hội An , .....
nn việc buôn bán đã dduocj hiện đại hóa
Yêu nước: ái quốc
Cha mẹ : phụ mẫu
Biển lớn : đại dương
Anh em : huynh đệ
Yêu nước :Ái quốc
Cha mẹ : Phụ mẫu
Biển lớn :Đại dương
Anh em : Huynh đệ
Em tham khảo:
Câu thơ đã sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh:
"Công cha như núi ngất trời
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông"
Phép so sánh đã làm nổi bật công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ với con cái, khiến cho câu thơ sinh động, mang lại sự xúc động chân thành cho người đọc, giúp cho người đọc có thể hình dung được sâu sắc tình yêu thương cao cả của cha mẹ dành cho con cái. Nghệ thuật so sánh giúp cho câu thơ trở nên bay bổng, cuốn hút hơn, mang lại những cảm xúc bồi hồi, lưu luyến cho độc giả. Núi, biển là những thành phần, những bộ phận không thể thiếu của thiên nhiên, tác giả sử dụng phép ẩn dụ này để giúp cho chúng ta hiểu được công lao to lớn, mênh mông không kể xiết của mẹ cha.

Từ Hán-Việt là từ vựng sử dụng trong tiếng Việt có gốc từ tiếng Trung Quốc nhưng đọc theo âm Việt
(em lớp 6 nên ko chắc nah)
từ hán việt là từ có nghĩa hán và việt
tích cho mk nha mk bị trừ mất 20 điểm rồi
Từ Hán Việt là từ gốc Hán nhưng được chuyển sang và nói theo âm chuyển nhưng mang nghĩa Hán
Trả lời:
Từ Hán Việt là từ gốc Hán nhưng được chuyển sang và nói theo âm chuyển nhưng mang nghĩa Hán
Học tốt
Từ Hán - Việt là từ vay mượn của tiếng Hán, nhưng được đọc theo cách phát âm của tiếng Việt.
Ðất nước ta đã bị các thế lực phong kiến Trung Quốc xâm chiếm, đô hộ hàng mấy trăm năm; sự giao lưu kinh tế, văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc đã diễn ra trong một thời gian dài. Ðặc biệt là chữ Hán đã được dùng làm chữ viết chính thức của ta trong hàng thế kỉ. Vì thế cho nên tiếng Việt đã vay mượn từ tiếng Hán với số lượng rất cao. Hiện nay, số lượng từ Hán - Việt chiếm hơn 60% trong vốn từ vựng tiếng Việt. Ða số từ Hán - Việt là từ đa âm tiết: từ hai âm tiết trở lên.
Ví dụ:
An ninh, ẩn sĩ, bảo vệ, bản lĩnh, chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, dân chủ, độc lập, chiến tranh, hoà bình, hạnh phúc v.v...
3.2- Cách nhận diện từ Hán - Việt:
Nhìn chung, nếu không có vốn hiểu biết sâu rộng về Hán học thì rất khó nhận diện chính xác từ Hán - Việt trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên, có thể dựa vào các cách sau đây để nhận biết chúng.
1- Dựa vào đặc điểm về ý nghĩa.
Từ Hán - Việt thường có ý nghĩa mang tính trừu tượng, khái quát cao. Vì thế, khi tiếp nhận từ Hán - Việt, chúng ta thường cảm thấy nghĩa của nó mơ hồ, khó giải thích. Chẳng hạn như nghe các từ: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, độc lập, tự do, hoà bình, chiến tranh, du kích, hàm số, hằng số v.v... Hay là chúng ta phải tìm yếu tố tương đương trong từ thuần Việt rồi mới suy ra được ý nghĩa. Chẳng hạn khi nghe các từ: ảo ảnh, ẩn sĩ, thực đơn, danh nhân, cường quốc v.v... chúng ta thường liên hệ đến các yếu tố tương đương rồi suy ra nghĩa của chúng.
2- Dựa vào trật tự phân bố của các yếu tố trong từ.
Trong lớp từ Hán - Việt, có một số lượng khá lớn từ ghép được cấu tạo theo quan hệ chính - phụ, gọi là từ ghép chính - phụ, trong đó, phụ tố thường đứng trước, chính tố thường đứng sau: P + C.
Ví dụ:
Ẩn ý, ẩn sĩ, cường quốc, dịch giả, tác giả, khán giả, văn sĩ, thi sĩ, viễn cảnh, cận cảnh, giáo viên, học viên, hội viên v.v...
Trong khi đó, từ thuần Việt thuộc loại này được cấu tạo theo trật tự ngược lại: C + P.
Ví dụ:
Người viết, người xem, người nghe, người đọc, nhà văn, nhà thơ v.v...
Dựa vào đặc điểm đã nêu, khi gặp một từ ghép chính phụ được cấu tạo theo trật tự P + C, thì ta có thể xác định đó là từ Hán - Việt
Từ Hán - Việt là từ vay mượn của tiếng Hán, nhưng được đọc theo cách phát âm của tiếng Việt.
Từ Hán Việt là