K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

18 tháng 9 2025

em cần trả lời theo các ý cô đã giao để rõ ràng hơn, chưa có quê quán, chưa nêu phong cách sáng tác và các tác phẩm chính

7 đ


-Họ tên, năm sinh – năm mất: Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920 – 2002), quê ở Thừa Thiên – Huế.-Vị trí trong nền văn học: Ông là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại, đồng thời là một trong những nhà thơ lớn của dân tộc ở thế kỉ XX.-Đề tài sáng tác: Thơ ông gắn bó chặt chẽ với con đường cách mạng của dân tộc, phản ánh cuộc đấu tranh giải phóng đất...
Đọc tiếp

-Họ tên, năm sinh – năm mất: Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920 – 2002), quê ở Thừa Thiên – Huế.
-Vị trí trong nền văn học: Ông là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại, đồng thời là một trong những nhà thơ lớn của dân tộc ở thế kỉ XX.
-Đề tài sáng tác: Thơ ông gắn bó chặt chẽ với con đường cách mạng của dân tộc, phản ánh cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, ca ngợi Đảng, Bác Hồ, tình đồng chí, đồng bào, tình yêu quê hương đất nước.
-Phong cách sáng tác: Thơ Tố Hữu mang đậm tính trữ tình chính trị, luôn gắn cái “tôi” cá nhân với cái “ta” chung của dân tộc. Giọng thơ tha thiết, ngọt ngào, đậm chất dân tộc, thường sử dụng thể lục bát, song thất lục bát.
-Các tác phẩm chính: Từ ấy (1937–1946), Việt Bắc (1946–1954), Gió lộng (1955–1961), Ra trận (1962–1971), Máu và hoa (1972–1977)…

2
18 tháng 9 2025

học trường nào vậy


18 tháng 9 2025

em cần trả lời theo các ý cô đã giao để rõ ràng hơn, chưa có quê quán, chưa nêu phong cách sáng tác và các tác phẩm chính

7 đ

Trần Nhân Tông, tên thật là Trần Khâm (1258-1308). Con trưởng của Trần Thánh Tông .Ông sinh ra trong triều đại nhà Trần tại Đại Việt(VN)Trần Nhân Tông là một nhà văn hóa lớn, vị vua thiền sư tiêu biểu thời Trần. Ông mở đầu cho dòng văn học Phật giáo – Thiền tông mang đậm bản sắc dân tộc. Thơ văn của ông thể hiện tư tưởng sống an nhiên, giác ngộ giữa đời thường (“cư trần lạc...
Đọc tiếp

Trần Nhân Tông, tên thật là Trần Khâm (1258-1308). Con trưởng của Trần Thánh Tông .Ông sinh ra trong triều đại nhà Trần tại Đại Việt(VN)

Trần Nhân Tông là một nhà văn hóa lớn, vị vua thiền sư tiêu biểu thời Trần. Ông mở đầu cho dòng văn học Phật giáo – Thiền tông mang đậm bản sắc dân tộc. Thơ văn của ông thể hiện tư tưởng sống an nhiên, giác ngộ giữa đời thường (“cư trần lạc đạo”), đồng thời mang tinh thần yêu nước, nhân văn sâu sắc. Ông có ảnh hưởng lâu dài đến tư tưởng, đạo lý và văn học Việt Nam, là biểu tượng cho sự kết hợp giữa đạo và đời, giữa trí tuệ và từ bi.

  • Đề tài: Tư tưởng Phật giáo, lối sống thiền (cư trần lạc đạo), vẻ đẹp thiên nhiên, lòng yêu nước và ý chí siêu thoát.
  • Phong cách: Giản dị, sâu lắng, giàu chất thiền; kết hợp hài hòa giữa trần tục và thoát tục, giữa đời sống thực và tư tưởng giác ngộ.
  • Những tác phẩm chính của Trần Nhân Tông:
  1. Cư trần lạc đạo phú
  2. Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca
  3. Thơ chữ Hán – Gồm nhiều bài thơ thể hiện tư tưởng thiền, tình yêu thiên nhiên và tinh thần yêu nước.
  4. Truyền đăng lục


0
Tìm hiểu về tác giả Nguyễn Khuyến:Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của Việt Nam thời cận đại, nổi tiếng với những bài thơ trào phúng sâu sắc và phong cảnh làng quê thanh bình. Ông tên thật là Nguyễn Thắng Đạm hay còn được gọi là Tam Nguyên Yên Đỗ, sinh năm 1835, mất năm 1909, quê ở làng Vị Khê, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà...
Đọc tiếp

Tìm hiểu về tác giả Nguyễn Khuyến:

Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của Việt Nam thời cận đại, nổi tiếng với những bài thơ trào phúng sâu sắc và phong cảnh làng quê thanh bình. Ông tên thật là Nguyễn Thắng Đạm hay còn được gọi là Tam Nguyên Yên Đỗ, sinh năm 1835, mất năm 1909, quê ở làng Vị Khê, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn, nhưng sau đó cáo quan về quê sống ẩn dật.


Vị trí của Nguyễn Khuyến trong nền văn học Việt Nam là vô cùng quan trọng. Ông được xem là “Ông nghè làng Ta” (nghĩa là nhà thơ từng đỗ tiến sĩ và có ảnh hưởng lớn), là người kế thừa và phát huy truyền thống thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ Nôm. Thơ của ông mang đậm tính dân tộc, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước và con người sâu sắc. Ông cũng là người mở đường cho trào lưu thơ ca hiện thực phê phán sau này.


Đề tài sáng tác của Nguyễn Khuyến rất phong phú, bao gồm:


• Trào phúng, châm biếm: Ông phê phán sự thối nát, suy đồi của xã hội thực dân phong kiến, bộ máy quan lại tham nhũng, thói hư tật xấu của con người thời bấy giờ.

• Cảnh sắc quê hương, non sông: Ông vẽ nên những bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, thanh bình, gợi lên tình yêu tha thiết với quê hương, đất nước.

• Tâm sự, thế sự: Thơ ông còn thể hiện những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời, về lẽ sống của con người.


Phong cách sáng tác của Nguyễn Khuyến được đánh giá là độc đáo và có ảnh hưởng sâu rộng:


• Ngôn ngữ thơ tinh tế, giàu tính tạo hình: Ông sử dụng ngôn ngữ dân dã, gần gũi với đời sống nhưng lại vô cùng trau chuốt, giàu hình ảnh, nhạc điệu

•Giọng thơ của ông đa dạng:lúc thì hóm hỉnh châm biếm,lúc thì trữ tình sâu lặng

Ông có các tác phẩm chính bao gồm các tập thơ chữ Hán và Nôm như Quế Sơn thi tậpYên Đổ thi tậpBách Liêu thi văn tập, cùng các bài thơ Nôm tiêu biểu như Bạn đến chơi nhàThu VịnhThu ẨmThu Điếu, và nhiều bài văn tế, câu đối, hát ả đào. Tác phẩm của ông thường đề cập đến tình yêu quê hương, thiên nhiên, và cuộc sống của người dân. 

0
- Họ tên, năm sinh – năm mất: Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920 – 2002), quê ở thành phố Huế.- Vị trí trong nền văn học: Ông là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại, đồng thời là một trong những nhà thơ lớn của dân tộc ở thế kỉ XX.- Đề tài sáng tác: Thơ ông gắn bó chặt chẽ với con đường cách mạng của dân tộc, phản ánh cuộc đấu tranh giải phóng đất...
Đọc tiếp

- Họ tên, năm sinh – năm mất: Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920 – 2002), quê ở thành phố Huế.

- Vị trí trong nền văn học: Ông là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại, đồng thời là một trong những nhà thơ lớn của dân tộc ở thế kỉ XX.

- Đề tài sáng tác: Thơ ông gắn bó chặt chẽ với con đường cách mạng của dân tộc, phản ánh cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, ca ngợi Đảng, Bác Hồ, tình đồng chí, đồng bào, tình yêu quê hương đất nước.

- Phong cách sáng tác: Thơ Tố Hữu mang đậm tính trữ tình chính trị, luôn gắn cái “tôi” cá nhân với cái “ta” chung của dân tộc. Giọng thơ tha thiết, ngọt ngào, đậm chất dân tộc, thường sử dụng thể lục bát, song thất lục bát.

- Các tác phẩm chính: Từ ấy (1937–1946), Việt Bắc (1946–1954), Gió lộng (1955–1961), Ra trận (1962–1971), Máu và hoa (1972–1977)…

0
5 tháng 9 2019

Gợi ý :

a. Mở bài

- Nước Đại Việt ta là đoạn trích mở đầu trong Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Có thể nói, đoạn trích là một áng văn tràn đầy tinh thần tự hào dân tộc sâu sắc.

- Thôi thúc từ tinh thần ấy, mỗi cá nhân ý thức được trách nhiệm của mình trước vận mệnh đất nước.

b. Thân bài

- Giải thích: Tinh thần tự hào dân tộc

+ Sự ngưỡng mộ, tự tôn về những vẻ đẹp trong bản sắc dân tộc.

+ Ý thức về việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc.

+ Là biểu hiện kết tinh song hành cùng lòng yêu nước.

- Phân tích – chứng minh

* Biểu hiện của tinh thần tự hào dân tộc:

+ Nhận thức rõ hơn về bản sắc dân tộc, quảng bá hình ảnh quê hương, đất nước, luôn giữ gìn những vẻ đẹp truyền thống của bản sắc dân tộc.

+ Thể hiện bản sắc người Việt trong bối cảnh quốc tế, mang những vẻ đẹp về giá trị cốt lõi của dân tộc mình đến thế giới.

+ Tự hoàn thiện bản thân, sống có ích, tử tế, có đam mê và hoài bão.

* Tại sao chúng ta có tinh thần tự hào dân tộc?

+ Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước để ghi tên mình vào bản đồ thế giới, mang lại ấm no cho nhân dân của Việt Nam trải qua không ít khó khăn, gian khổ. Dân tộc ta đã vượt qua tất cả, để “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.

+ Chúng ta có nền văn hiến lâu đời, có kho tàng văn chương phong phú, có các di sản vật thể và phi vật thể đại diện của nhân loại, có những vị anh hùng, hiền triết nổi danh thế giới (Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp...).

+ Chúng ta có những truyền thống tốt đẹp làm rạng danh dân tộc: yêu nước, tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn, đoàn kết...

- Bình luận

+ Tự hào dân tộc là tinh thần đáng trân quý và hoàn toàn đúng đắn.

+ Tuy nhiên, không nên tự hào dân tộc mù quáng, thái quá mà vỗ ngực xưng tên, xem nhẹ các nền văn hóa khác.

+ Liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức và hành động. Thế hê trẻ phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình: có ý thức trong việc giữ gìn và thể hiện bản sắc dân tộc, ra sức tìm tòi, học tập từ bạn bè quốc tế, tự hoàn thiện bản thân, sống xứng đáng với thế hệ đi trước đã đổ xương máu để chúng ta được hưởng nền hòa bình tự chủ như hôm nay.

c. Kết bài

- Khẳng định lại giá trị và sự cần thiết của việc hun đúc ở mỗi người tinh thần tự hào dân tộc.

5 tháng 9 2019

I Mở bài

Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV là lịch sử chống quân xâm lược phương Bắc. Đó là lịch sử của 2 lần chiến thắng quân Tống, 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông hùng mạnh và 10 năm gian khổ chống quân Minh ... mà những chiến công hiển hách Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chi Lăng ... vẫn còn vang dội đến tận ngày nay. Chính vì vậy, văn học thời kì đó đã phản ánh khá rõ nét tư tưởng yêu nước cùng lòng tự hào sâu sắc của dân tộc ta, nhất là qua ba văn bản “Chiếu dời đô”, “Hịch tướng sĩ” và “Nước Đại Việt ta”.

II. Thân bài:

Trước hết, trong Chiếu dời đô, Lý Công Uẩn đã bày tỏ ý nguyện muốn dời đô từ Hoa Lư về Đại La để đóng đô ở nơi “trung tâm trời đất,mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu”, để “trên vâng mệnh trời, dưới hợp lòng dân”. Như vậy, tư tưởng yêu nước đã được thể hiện ở việc gắn liền sự bền vững của một triều đại với ý nguyện của muôn dân. Khi nhìn lại các triều đại trước, ông đã rất đau xót cho số vận quá ngắn ngủi, để cho “trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”.

Từ đó ta thấy rằng, xây dựng đất nước là đem lại hạnh phúc, thái bình cho dân. Xưa nay, thủ đô là trung tâm về văn hoá, chính trị của một đất nước. Nhìn vào thủ đô là nhìn vào sự thịnh suy của một dân tộc. Thủ đô có ý nghĩa rất lớn. Dường như lịch sử của các nước có nền văn minh lâu đời đều có các cuộc dời đô như thế. Mỗi lần dời là một thử thách của cả dân tộc.

Đó phải là quyết định của người có đầu óc ưu tú nhất thời đại . Có thể nói, với trí tuệ anh minh, với lòng nhân hậu tuyệt vời, Lý Công Uẩn đã chỉ ra lợi thế về lịch sử, địa lý, hình thế núi sông, về sự thuận tiện trong giao lưu văn hóa và phát triển mọi mặt của thành Đại La, nhưng ông cũng không quên chỉ ra những thuận tiện cho nhân dân. Đặc biệt, ông khẳng định “đây quả thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước,cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.

Những lời lẽ ấy tuy giản dị nhưng lại thấm đẫm niềm tự hào khi nói về đất nước, thể hiện một khao khát mãnh liệt đó là thống nhất giang sơn về một mối. Trong lời khẳng định ấy, ta còn đọc được khí phách của một dân tộc: Đại La sẽ là “kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”. Giá trị chủ yếu của bài là tư tưởng yêu nước. Tiếng nói của tác giả là tiếng nói của nhân dân, của thời đại và khát vọng về một đất nước độc lập thống nhất đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh .

Tiếp theo triều đại nhà Lí rất vẻ vang với sự khởi thuỷ là vị vua anh minh Lí Thái Tổ, nước Đại Việt viết tiếp những trang sử vàng chói lọi của mình ở thời đại nhà Trần với đầy những chiến công oanh liệt. Những người lãnh đạo thời kì này đều ghi tên mình vào sử sách. Trần Quốc Tuấn , tác giả “Hịch tướng sĩ” là một ví dụ . Đọc “Hịch Tướng Sĩ” -một áng thiên cổ hùng văn, ta cứ ngỡ như được nghe tiếng nói của cha ông , của non nước.

Nó nồng nàn một tinh thần yêu nước, nó biểu hiện một lòng căm thù giặc sâu sắc , một ý chí quyết chiến quyết thắng quân thù không chỉ là của riêng Trần Quốc Tuấn mà là kết tụ trong đó những ý nguyện tình cảm của dân tộc. Trước tai hoạ đang đến gần: quân Mông - Nguyên đang lăm le xâm lược lần thứ hai với quy mô chưa từng thấy hòng không cho một ngọn cỏ của nước Đại Việt được mọc dưới vó ngựa của 50 vạn quân, Trần Quốc Tuấn đã viết “Hịch” để kêu gọi tướng sĩ một lòng, chuẩn bị đương đầu với cuộc chiến sống còn.

Những lời lẽ đanh thép mà chan chứa tình cảm, những lí lẽ sắc bén mà đi vào lòng người đã làm thức tỉnh tinh thần trách nhiệm và ý thức dân tộc ở các tướng sĩ, chỉ ra tình hình nguy ngập của đất nước, chỉ ra cho tướng sĩ thấy tội ác của bọn sứ giặc, và những việc cần làm để chống giặc. Ông đã tự bày tỏ lòng mình, lòng căm giận như trào ra đầu ngọn bút, thống thiết và sâu lắng: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù.

Để giành thế áp đảo cho tinh thần quyết chiến, quyêt thắng, Trần Quốc Tuấn đã khéo động viên khích lệ tướng sĩ. Một mặt, ông chỉ ra cho họ cái nỗi nhục của kẻ làm tướng phải hầu quân giặc mà không biết tức, chỉ ra cho họ thấy cái nỗi ân tình sâu nặng mà ông và triều đình dành cho họ để họ nghĩ suy và báo đáp. Mặt khác ông vừa nghiêm khắc phê phán những thói bàng quan, thờ ơ, sự ham chơi hưởng lạc của tướng sĩ, vừa chân tình chỉ bảo cho họ thấy những sai lầm mà họ mắc phải. Tất cả nhằm kích thích lòng tự tôn dân tộc, lòng tự trọng của kẻ làm tướng mà xông ra chiến trường giết giặc.

Còn đối với Nguyễn Trãi khát vọng ấy đã trở thành chân lí độc lập dân tộc:

Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác.Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phươngTuy mạnh yếu từng lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có.

Càng yêu nước bao nhiêu, càng tự hào và tin tưởng về dân tộc mình bấy nhiêu!

Tuy nhà Lí mới thành lập và vẫn còn non trẻ, nhưng từ sâu thẳm trái tim mình, hoàng đế Thái Tổ vẫn vững tin ở thế và lực của đất nước cho phép họ đàng hoàng định đô ở một vùng đất rộng mà bằng, cao mà thoáng. Kẻ thù vẫn đang dòm ngó Đại Việt, nhưng họ tin vào khả năng của mình có thể chiến thắng kẻ thù, giữ yên giang sơn bờ cõi, để cho để vương muôn đời trị vì đất nước. Từ bài Chiếu toát ra một niềm tự hào cao độ về bản lĩnh và khí phách Đại Việt đang trên đà lớn mạnh.

Cũng vẫn với niềm tin ấy, Hưng Đạo Vướng khẳng định với tướng sĩ rằng có thể “bêu đầu Hốt Tất Liệt ở Cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ờ Cảo Nhai”, và rồi xã tắc của ông sẽ mãi mãi vững bền, nhân dân sẽ đời đời hạnh phúc, tiếng tốt sẽ mãi mãi lưu truyền.

Niềm tự hào Đại Việt được biểu hiện tập trung cao độ ở Nguyễn Trãi:

Ra đời cách chúng ta hàng thế kỉ, mà tinh thần yêu nước bất khuất của cha ông trong ba áng vặn chương cổ đại này, vẫn còn nồng nàn mãi trong tim mỗi người dân Việt Nam.

Câu 1:Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX có phải một xã hội cũ trong một thế giới mới?Câu 2: So sánh 3 trường học Duy tân cuối thế kỷ XIX của Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc.Câu 3: Chủ nghĩa lãnh thổ quốc gia thiêng liêng đã được khẳng định và giữ gìn như thế nào trong lịch sử dân tộc? Nhà Nguyễn đã lần lượt đánh mất chủ quyền lãnh thổ qua các hiệp ước kí kết với Pháp ra sao?...
Đọc tiếp

Câu 1:Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX có phải một xã hội cũ trong một thế giới mới?

Câu 2: So sánh 3 trường học Duy tân cuối thế kỷ XIX của Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc.

Câu 3: Chủ nghĩa lãnh thổ quốc gia thiêng liêng đã được khẳng định và giữ gìn như thế nào trong lịch sử dân tộc? Nhà Nguyễn đã lần lượt đánh mất chủ quyền lãnh thổ qua các hiệp ước kí kết với Pháp ra sao? Những sai lầm của nhà Nguyễn làm cho đất nước trở thành thuộc địa của Pháp?

Câu 4: Bài học rút ra từ những sai lầm đó cho hiện nay là gì?

Câu 5: Về phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX: nêu tên, vì sao thất bại, ý nghĩa, sự kiện em ấn tượng nhất.

Câu 6: Làm rõ vì sao Pháp mất 1 thời gian dài mới hoàn thành công cuộc xâm lược Việt Nam

1
11 tháng 8 2021

Câu 1:Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX có phải một xã hội cũ trong một thế giới mới?

Câu 2: So sánh 3 trường học Duy tân cuối thế kỷ XIX của Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc.

Câu 3: Chủ nghĩa lãnh thổ quốc gia thiêng liêng đã được khẳng định và giữ gìn như thế nào trong lịch sử dân tộc? Nhà Nguyễn đã lần lượt đánh mất chủ quyền lãnh thổ qua các hiệp ước kí kết với Pháp ra sao? Những sai lầm của nhà Nguyễn làm cho đất nước trở thành thuộc địa của Pháp?

Câu 4: Bài học rút ra từ những sai lầm đó cho hiện nay là gì?

Câu 5: Về phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX: nêu tên, vì sao thất bại, ý nghĩa, sự kiện em ấn tượng nhất.

Câu 6: Làm rõ vì sao Pháp mất 1 thời gian dài mới hoàn thành công cuộc xâm lược Việt Nam

Tác giả Trần Nhân Tông+ Tên khai sinh là Trần Khâm, tự là Thanh Phúc, là vị vua thứ ba của nhà Trần nước Đại Việt. Vua Trần Nhân Tông trị vì từ ngày 8 tháng 11 năm 1278 đến ngày 16 tháng 4 năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng rồi đi tu Sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm cho đến khi qua đời. Ông được đánh giá là một vị Hoàng đế anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững...
Đọc tiếp

Tác giả Trần Nhân Tông

+ Tên khai sinh là Trần Khâm, tự là Thanh Phúc, là vị vua thứ ba của nhà Trần nước Đại Việt. Vua Trần Nhân Tông trị vì từ ngày 8 tháng 11 năm 1278 đến ngày 16 tháng 4 năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng rồi đi tu Sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm cho đến khi qua đời. Ông được đánh giá là một vị Hoàng đế anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ XIII, cũng như việc bảo vệ nền độc lập và mở rộng lãnh thổ đất nước. Ngoài ra, Trần Nhân Tông cũng là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam thời trung đại. Ông là 1 trong 14 vị anh hùng dân tộc Việt Nam.

- Bối cảnh ra đời của bài thơ: Bài thơ Ngắm cảnh chiều ở phủ Thiên Trường được sáng tác trong dịp nhà vua, khi đó đã lên Yên Tử đi tu, trở thành Sư tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, về thăm quê cũ ở Thiên Trường, nơi có cung điện, phủ thờ tổ tiên nhà Trần.

0
18 tháng 9 2025

😊

-Họ và tên : Nguyễn Kim Thành. Năm sinh: 1920, năm mất : 2002-VỊ trí trong nền văn học : là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng VIệt Nam hiện đại. Thơ của ông gắn liền với sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong thế kỉ XX-Đề tài sáng tác: thơ của ông tập trung thể hiện tình yêu lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, tình cảm lớn lao của con người trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân...
Đọc tiếp

-Họ và tên : Nguyễn Kim Thành. Năm sinh: 1920, năm mất : 2002

-VỊ trí trong nền văn học : là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng VIệt Nam hiện đại. Thơ của ông gắn liền với sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong thế kỉ XX

-Đề tài sáng tác: thơ của ông tập trung thể hiện tình yêu lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, tình cảm lớn lao của con người trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Tố Hữu thường khắc họa những phẩm chất tiêu biểu của con người cách mạng, của dân tộc, cũng như ca ngợi chủ tịch Hồ Chí Minh và tình yêu quê hương đất nước

-Phong cách sáng tác : mang đậm chất trữ tình chính trị, bộc lộ tâm tư, tình cảm cá nhân, giọng thơ giàu chất sử thi, phản ánh những sự kiện lớn của dân tộc,...

- Các tác phẩm chính: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Máu và hoa,..

0