K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

TẬP NGHIÊN CỨU VÀ BÁO CÁO VỀ MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIAN

I.Tên tác phẩm

-"Thánh Gióng"

II. Thể loại

-Truyện truyền thuyết lịch sử

III.Tóm tắt tác phẩm

Tác phẩm kể về một cậu bé làng Gióng, ba tuổi mà vẫn chưa biết đi, biết đứng,biết ngồi và biết nói.Bỗng một hôm nghe tin nhà vua tuyển người đánh giặc, cậu bé lần đầu tiên cất tiếng nói đầu tiên trong đời, xin nhà vua cho đi đánh giặc.Cậu bé xin nhà vua rèn cho mình ngựa sắt, áo sắt, roi sắt, áo giáp sắt để đi đánh giặc.Sau đó Gióng ăn rất nhiều và trở thành một chàng hiệp sĩ đánh tan giặc. Sau khi đánh đuổi giặc xâm lược,Gióng cưỡi ngựa bay về trời và để lại nhiều vết tích ở vùng quê.

IV.Giá trị nội dung

-Tinh thần yêu nước và ý chí chống giặc ngoại xâm: Thánh Gióng là hiện thân cho tinh thần đoàn kết của nhân dân.Mỗi khi đất nước bị đe dọa, tinh thần đó sẽ càng mạnh mẽ hơn, trỗi dậy để bảo vệ Tổ Quốc.

-Khát vọng cuộc sống hòa bình, yên ổn : Sau khi đánh tan giặc,thay vì ở lại để nhận thưởng của nhà vua, Thánh Gióng lựa chọn bay về trời, thể hiện không cần sự vinh hoa phú quý, đây là biểu tưởng cho sự thanh cao và lý tưởng cao đẹp

-Niềm tin vào con người,dân tộc : Từ một cậu bé không biết nói, biết cười, bỗng nhiễn cất tiếng xin đi đánh giặc, cả làng đã dốc hết lòng tin tưởng, cùng góp gạo nuôi cậu bé lớn.Nhà vua cũng đặt niềm tin vào cậu bé.Từ đó chúng ta có thể thấy niềm tin và khát vọng hòa bình rất mãnh liệt của nhân dân ta

V.Giá trị nghệ thuật

-Yếu tố kì ảo: Cậu bé lớn nhanh như thổi, vươn vai là trở thành tráng sĩ, ngựa phun lửa, roi sắt gãy thì nhổ bụi tre đánh giặc-> tạo ra sự hấp dẫn, kì vĩ

- Xây dựng nhân vật độc đáo

- Ngôn ngữ giản dị,dễ hiểu

-Cốt truyện đơn giản, mạch lạc

0
1. Mở đầuVăn học dân gian Việt Nam chứa đựng nhiều truyền thuyết anh hùng, thể hiện lòng yêu nước và khát vọng độc lập. Thánh Gióng là tác phẩm tiêu biểu, ca ngợi sức mạnh phi thường của dân tộc và ý chí bảo vệ Tổ quốc.2. Nội dung nghiên cứua. Tóm tắt truyệnGióng là cậu bé lạ lùng: ba tuổi chưa biết nói cười. Khi giặc Ân xâm lược, Gióng vươn mình lớn nhanh như thổi, cưỡi...
Đọc tiếp

1. Mở đầu

Văn học dân gian Việt Nam chứa đựng nhiều truyền thuyết anh hùng, thể hiện lòng yêu nước và khát vọng độc lập. Thánh Gióng là tác phẩm tiêu biểu, ca ngợi sức mạnh phi thường của dân tộc và ý chí bảo vệ Tổ quốc.

2. Nội dung nghiên cứu

a. Tóm tắt truyện
Gióng là cậu bé lạ lùng: ba tuổi chưa biết nói cười. Khi giặc Ân xâm lược, Gióng vươn mình lớn nhanh như thổi, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt đánh tan giặc, rồi bay về trời.

b. Đặc điểm nghệ thuật

Yếu tố kì ảo, phóng đại: lớn nhanh, ngựa sắt, roi sắt… làm nổi bật hình tượng siêu phàm, biểu tượng sức mạnh dân tộc.

Kết cấu giàu kịch tính: từ cậu bé bình thường đến anh hùng giải cứu đất nước.

Ngôn ngữ truyền miệng mộc mạc, nhịp điệu dồn dập, hào hùng.

c. Giá trị nội dung

Ca ngợi tinh thần yêu nước: Thánh Gióng là hiện thân của ý chí quật cường chống ngoại xâm.

Niềm tin vào sức mạnh nhân dân: từ một đứa trẻ làng quê, nhờ lòng yêu nước mà hóa thành anh hùng.

Giáo dục thế hệ sau: bồi dưỡng tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ Tổ quốc.

3. Kết luận

Truyền thuyết Thánh Gióng không chỉ là câu chuyện kì ảo hấp dẫn mà còn là bản anh hùng ca bất diệt về sức mạnh đoàn kết và tinh thần yêu nước. Tác phẩm góp phần khơi dậy niềm tự hào dân tộc, thôi thúc mỗi người gìn giữ và bảo vệ quê hương.

0
Báo cáo nghiên cứu về truyện dân gian:Truyền thuyết Thánh Gióng xuất hiện thời Hùng Vương dựng nước và được nhân dân ta lưu truyền từ đời này sang đời khác. Đây là một truyền thuyết hay bậc nhất trong những truyền thuyết nói về truyền thống giữ nước của dân tộc ta.Điều kì lạ nữa là Gióng lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy....
Đọc tiếp

Báo cáo nghiên cứu về truyện dân gian:
Truyền thuyết Thánh Gióng xuất hiện thời Hùng Vương dựng nước và được nhân dân ta lưu truyền từ đời này sang đời khác. Đây là một truyền thuyết hay bậc nhất trong những truyền thuyết nói về truyền thống giữ nước của dân tộc ta.

Điều kì lạ nữa là Gióng lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy. Những chi tiết kỳ ảo đó càng thu hút người nghe. Gióng không nói nhưng khi nghe sứ giả rao loa thì bỗng dưng cất tiếng nói. Tiếng nói đầu tiên của Gióng là tiếng nói tự nguyện đánh giặc.

Đánh tan giặc Ân, Gióng cưỡi ngựa lên đỉnh núi Soc, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời. Gióng ra đời đã khác thường thì ra đi cũng khác thường. Nhân dân trân trọng muốn giữ mãi hình ảnh người anh hùng nên đã để Gióng đi vào cõi bất tử.

Gióng là hình tượng tiêu biểu, rực rỡ của người anh hùng đánh giặc cứu nước. Trong văn học dân gian Việt Nam, đây là hình tượng người anh hùng đánh giặc đầu tiên, tiêu biểu cho lòng yêu nước của nhân dân ta. Gióng là người anh hùng mang trong mình sức mạnh của cả cộng đồng.

Trong buổi đầu dựng nước, sức mạnh của thần thánh, tổ tiên thể hiện ở sự ra đời thần kì của chú bé làng Gióng. Sức mạnh của cộng đồng thể hiện ở việc bà con dân làng góp gạo nuôi Gióng.

0
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều nhân vật anh hùng gắn liền với truyền thống chống giặc ngoại xâm, trong đó Thánh Gióng là hình tượng tiêu biểu. Truyền thuyết này không chỉ mang màu sắc kì ảo đặc sắc mà còn thể hiện niềm tự hào, khát vọng và tinh thần bất khuất của dân tộc ra, vì vậy nó thường được chọn để nghiên cứu và tìm hiểu. Truyện Thánh Gióng...
Đọc tiếp

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều nhân vật anh hùng gắn liền với truyền thống chống giặc ngoại xâm, trong đó Thánh Gióng là hình tượng tiêu biểu. Truyền thuyết này không chỉ mang màu sắc kì ảo đặc sắc mà còn thể hiện niềm tự hào, khát vọng và tinh thần bất khuất của dân tộc ra, vì vậy nó thường được chọn để nghiên cứu và tìm hiểu.
Truyện Thánh Gióng thuộc thể loại truyền thuyết, đã được ghi chép lại trong nhiều sách báo, tuyển tập văn học dân gian và tồn tại qua nhiều dị bản khác nhau. Tuy có sự khác biệt về chi tiết như cách ra đời của Thánh Gióng hay vũ khí đánh giặc , nhưng tất cả đều thống nhất ở ý nghĩa ca ngợi sức mạnh và tinh thần yêu nước của nhân dân ta.
Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Thánh Gióng- một cậu bé mang nhiều đặc điểm khác thường. Từ khi sinh ra đời đã kì lạ, ba tuổi vẫn chưa biết nói, biết cười, biết đi. Chỉ đến khi nghe sứ giả tìm người tài cứu nước, cậu mới cất tiếng nói đầu tiên xin đi đánh giặc. Gióng lớn nhanh phi thường, ăn bao nhiêu cũng không no, quần áo vừa mặc đã chật, rồi vươn vai trở thành tráng sĩ khổng lồ, oai phong lẫm liệt. Trong cuộc chiến, Gióng cưỡi ngựa sắt, dùng roi sắt và cả bụi tre ven đường để quét sạch quân thù, đem lại yên bình cho đất nước. Sau khi hoàn thành sứ mệnh, Gióng cưỡi ngựa bay thẳng lên trời, trở thành bất tử trong lòng dân tộc.
Hình tượng Thánh Gióng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Trước hết, đó là biểu tượng của tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường chống giặc ngoại xâm. Đồng thời, qua chi tiết dân làng góp gạo, góp cơm nuôi Gióng, truyện còn thể hiện sức mạnh của khối đại đoàn kết nhân dân. Thánh Gióng cũng là hiện thân của khát vọng về một người anh hùng lý tưởng, có thể bảo vệ quê hương, đem lại hòa bình cho nhân dân.
Không chỉ dừng lại ở giá trị nội dung, truyền thuyết Thánh Gióng còn có những nét nghệ thuật đặc sắc. Tác phẩm sử dụng nhiều chi tiết kì ảo, xây dựng nhân vật Thánh Gióng mang tầm vóc phi thường, ngôn ngữ kể chuyện giàu hình ảnh, hấp dẫn người đọc.
Đến ngày nay, Thánh Gióng vẫn được nhân dân tôn thờ. Hằng năm, lễ hội Gióng diễn ra long trọng ở nhiều nơi, đặc biệt tại Sóc Sơn (Hà Nội).Điều đó cho thấy nhân vật này đã trở thành biểu tượng văn hóa, tinh thần yêu nước, đoàn kết và tinh thần bất diệt.
Tóm lại, truyền thuyết Thánh Gióng là một tác phẩm tiêu biểu của văn học dân gian Việt Nam. Hình tượng Gióng không chỉ mang màu sắc thần kì mà còn là biểu tượng sáng ngời của sức mạnh dân tộc, của truyền thống yêu nước và bất khuất. Đây là niềm tự hào lớn lao, đồng thời cũng là bài học quý giá cho thế hệ hôm nay và ngày mai.

0
TẬP NGHIÊN CỨU VÀ VIẾT BÁO CÁO VỀ MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIANTác phẩm: Truyện cổ tích “Thạch Sanh” 1. Giới thiệu chungThể loại: Truyện cổ tích.Xuất xứ: Kho tàng truyện dân gian Việt Nam, được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.Nhân vật chính:Thạch Sanh – chàng trai nghèo, dũng cảm, thật thà.Nhân vật phản diện:Lý Thông, quân xâm lược. 2. Nội dung chính của tác phẩmTruyện kể về...
Đọc tiếp

TẬP NGHIÊN CỨU VÀ VIẾT BÁO CÁO VỀ MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIAN

Tác phẩm: Truyện cổ tích “Thạch Sanh”


1. Giới thiệu chung

Thể loại: Truyện cổ tích.

Xuất xứ: Kho tàng truyện dân gian Việt Nam, được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.

Nhân vật chính:Thạch Sanh – chàng trai nghèo, dũng cảm, thật thà.

Nhân vật phản diện:Lý Thông, quân xâm lược.


2. Nội dung chính của tác phẩm

Truyện kể về chàng Thạch Sanh mồ côi cha mẹ, sống nghèo khổ nhưng giàu lòng nhân nghĩa. Nhờ sức mạnh và tài năng, Thạch Sanh đã diệt chằn tinh, cứu công chúa, chiến thắng quân xâm lược. Tuy bị mẹ con Lý Thông nhiều lần hãm hại, cuối cùng chàng vẫn được minh oan, trở thành phò mã và được nhân dân yêu mến.

3. Giá trị nội dung

* Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người lao động: Thạch Sanh thật thà, dũng cảm, giàu lòng nhân nghĩa.

* Lên án cái xấu, cái ác: Lý Thông gian xảo, tham lam, cuối cùng bị trừng trị.

* Khát vọng công bằng xã hội: Cái thiện cuối cùng chiến thắng cái ác
*Tình yêu hòa bình: Truyện phản ánh tinh thần chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước.

4. Giá trị nghệ thuật

* Xây dựng hình tượng nhân vật mang tính đối lập rõ nét (Thạch Sanh hiền lành ↔ Lý Thông độc ác).

* Yếu tố thần kỳ (cây đàn, niêu cơm, vũ khí thần) vừa hấp dẫn vừa thể hiện ước mơ của nhân dân.

* Cốt truyện giàu kịch tính, mang tính giáo dục cao.

5. Ý nghĩa

“Thạch Sanh” thể hiện niềm tin của nhân dân vào sức mạnh, phẩm chất của người lao động, đồng thời phản ánh quy luật: cái thiện luôn thắng cái ác. Đây là một trong những truyện tiêu biểu của văn học dân gian Việt Nam.

0
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM THÁNH GIÓNG1.       Lý Do Chọn Đề Tài:-          Truyện "Thánh Gióng" là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất, khắc họa hình tượng người anh hùng chống giặc ngoại xâm dũng cảm, phi thường.-          Nghiên cứu tác phẩm giúp khám phá những giá trị văn hóa truyền thống, những bài học đạo đức và nhân sinh quan quý báu mà cha ông ta đã gửi...
Đọc tiếp

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM THÁNH GIÓNG

1.       Lý Do Chọn Đề Tài:

-          Truyện "Thánh Gióng" là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất, khắc họa hình tượng người anh hùng chống giặc ngoại xâm dũng cảm, phi thường.

-          Nghiên cứu tác phẩm giúp khám phá những giá trị văn hóa truyền thống, những bài học đạo đức và nhân sinh quan quý báu mà cha ông ta đã gửi gắm.

-          Nghiên cứu tác phẩm giúp tìm ra những phương pháp hiệu quả để giáo dục lòng yêu nước và tinh thần dân tộc cho thế hệ trẻ.

2.       Mục đích nghiên cứu:

-          Phân tích và làm rõ các giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm "Thánh Gióng".

-          Tìm hiểu ý nghĩa lịch sử, văn hóa và xã hội của tác phẩm trong bối cảnh thời đại Hùng Vương.

-          Nghiên cứu ảnh hưởng của "Thánh Gióng" đối với văn học và nghệ thuật Việt Nam.

3.       Đối tượng nghiên cứu:

-          Văn bản truyện "Thánh Gióng" (các dị bản khác nhau).

-           Các tài liệu lịch sử, văn hóa và xã hội liên quan đến truyện "Thánh Gióng"

-          Các công trình nghiên cứu, phê bình và đánh giá về tác phẩm "Thánh Gióng".

4.       Phương pháp nghiên cứu:

-          Nghiên cứu tác phẩm trong bối cảnh lịch sử, văn hóa và xã hội của thời đại Hùng Vương để hiểu rõ hơn về ý nghĩa và giá trị của tác phẩm.

-          So sánh các dị bản khác nhau của truyện "Thánh Gióng" để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó xác định bản gốc và quá trình phát triển của tác phẩm.

-          Phân tích các yếu tố nội dung và nghệ thuật của tác phẩm như cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng để làm rõ giá trị và ý nghĩa của tác phẩm.

5.       Kết quả:

-          Sự ra đời kỳ lạ: Bà mẹ Gióng mang thai 12 tháng sau khi ướm chân vào một vết chân khổng lồ. Lên ba tuổi, Gióng vẫn "ba tuổi chưa biết nói, biết cười, đặt đâu nằm đấy". Sự ra đời và lớn lên khác thường này báo hiệu một số phận phi thường, một con người phi thường sẽ xuất hiện khi đất nước lâm nguy.

-          Sức mạnh phi thường và ý thức cứu nước: Lời nói đầu tiên của Gióng khi nghe tiếng sứ giả là đòi đi đánh giặc. Điều này thể hiện ý thức trách nhiệm với non sông đất nước ngay từ thuở ấu thơ. Sự lớn nhanh "như thổi" với khả năng ăn uống phi thường cho thấy Gióng là hiện thân của sức mạnh cộng đồng, được nuôi dưỡng bởi chính bàn tay và tấm lòng của nhân dân.

-          Hành động anh hùng: Khi giặc đến, Gióng "vươn vai một cái bỗng trở thành một tráng sĩ". Với áo giáp sắt, ngựa sắt và roi sắt, Gióng đã chiến đấu dũng mãnh, đánh tan quân giặc. Ngay cả khi roi sắt gãy, Gióng cũng không nao núng mà nhổ tre bên đường làm vũ khí, thể hiện sự gắn bó với thiên nhiên, vũ khí của dân tộc.

-          Sự ra đi cao đẹp: Sau khi hoàn thành sứ mệnh cứu nước, Gióng "cởi áo giáp sắt bỏ lại, một mình một ngựa bay về trời". Sự ra đi này thể hiện phẩm chất anh hùng không màng danh lợi, chỉ hướng về sự bình yên của đất nước. Gióng hóa thân vào cõi vô biên, bất tử trong lòng dân tộc.

=> Ca ngợi tinh thần yêu nước, ý thức đoàn kết và sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong buổi đầu dựng nước, thể hiện qua hình tượng người anh hùng Gióng với sức mạnh phi thường, chiến đấu bảo vệ đất nước khỏi giặc ngoại xâm.

0
. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)Đọc I đoạn trích:           Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc...
Đọc tiếp

. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc I đoạn trích:

           Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng.

            Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn còn cố gào thét hô quân xáp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang. Bỗng chốc gươm gãy, Gióng không chút bối rối, thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các làng chỉ còn việc xông ra trói chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn cho nước nhà. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời.

                                                                                                                                         (Trích Thánh Gióng)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định PTBĐ chính của đoạn trích.

Câu 2. Nêu  những sự việc tiêu biểu được kể lại trong đoạn trích trên?

Câu 3. Liệt kê các chi tiết miêu tảsự thất bại của quân giặc được nói đến trong đoạn trích?

Câu 4. Nêu hiệu quả của phép so sánh được sử dụng trong câu văn: Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào?

Câu 5. Anh/Chị hiểu như thế nào về chi tiết:  Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời?

Câu 6. Anh/chị hãy nhận xét thông điệp của tác giả được thể hiện qua đoạn trích?

 

2
23 tháng 10 2021

Định cho người ta làm hộ luôn bài kiểm tra à

23 tháng 10 2021
Ừ đúng là bài kiểm tra nhưng được ra về nhà
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU VỀ TÁC PHẨM “Hansel và Gretel”Giới thiệu “Hansel và Gretel” là một truyện cổ tích nổi tiếng thuộc kho tàng văn học dân gian Đức, được anh em Grimm sưu tầm và công bố lần đầu vào thế kỷ XIX. Tác phẩm đã vượt ra ngoài biên giới nước Đức, trở thành một trong những câu chuyện cổ tích được trẻ em khắp nơi trên thế giới yêu thích. Truyện phản ánh ước mơ, niềm...
Đọc tiếp

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU VỀ TÁC PHẨM “Hansel và Gretel”

  1. Giới thiệu
    “Hansel và Gretel” là một truyện cổ tích nổi tiếng thuộc kho tàng văn học dân gian Đức, được anh em Grimm sưu tầm và công bố lần đầu vào thế kỷ XIX. Tác phẩm đã vượt ra ngoài biên giới nước Đức, trở thành một trong những câu chuyện cổ tích được trẻ em khắp nơi trên thế giới yêu thích. Truyện phản ánh ước mơ, niềm tin và những bài học đạo đức sâu sắc mà nhân dân gửi gắm thông qua các nhân vật và tình tiết giàu tính biểu tượng.
  2. Tóm tắt nội dung
    Hansel và Gretel là hai anh em sống trong một gia đình nghèo khó. Người cha hiền lành nhưng nhu nhược, người mẹ kế độc ác đã ép chồng bỏ rơi hai đứa trẻ trong rừng để bớt gánh nặng. Bị bỏ lại, Hansel thông minh rải sỏi trắng để tìm đường về, nhưng lần sau thì chỉ có thể rải vụn bánh, và chúng bị chim ăn mất. Lạc trong rừng sâu, hai anh em bắt gặp ngôi nhà làm bằng bánh kẹo và bị mụ phù thủy độc ác sống trong đó giam giữ. Mụ định vỗ béo Hansel để ăn thịt. Nhờ sự nhanh trí và dũng cảm của Gretel, mụ phù thủy đã bị đẩy vào lò lửa và chết. Hai anh em thoát ra, tìm được kho báu của mụ và cuối cùng trở về nhà đoàn tụ với cha, sống hạnh phúc.
  3. Phân tích và nghiên cứu
    a. Nhân vật:
    Hansel là nhân vật đại diện cho trí tuệ, sự sáng suốt và kiên cường. Cậu bé biết dùng sỏi trắng để đánh dấu đường đi, bộc lộ trí thông minh vượt trội so với hoàn cảnh khó khăn. Gretel ban đầu yếu đuối, sợ hãi, nhưng trong bước ngoặt của câu chuyện, em trở thành nhân vật chủ chốt, dũng cảm giết chết mụ phù thủy. Gretel là hình tượng của sự trưởng thành, dám hành động để bảo vệ anh trai và tự cứu lấy mình. Người mẹ kế và mụ phù thủy là biểu tượng cho cái ác, lòng tham và sự tàn nhẫn. Đây là kiểu nhân vật phản diện quen thuộc trong cổ tích, nhằm nhấn mạnh mâu thuẫn giữa thiện và ác. Trong khi đó, người cha hiền lành nhưng yếu đuối, bị ép buộc nghe theo vợ kế, tượng trưng cho sự bất lực trước hoàn cảnh, đồng thời cũng là lời nhắc nhở về trách nhiệm gia đình.
    b. Cốt truyện và nghệ thuật:
    Cốt truyện có kết cấu ba phần: mở đầu (bị bỏ rơi), phát triển (gặp nhà bánh kẹo và bị giam cầm), cao trào (Gretel giết phù thủy) và kết thúc có hậu (trở về đoàn tụ). Đây là mô-típ quen thuộc của truyện cổ tích: thử thách – vượt qua – chiến thắng. Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn với các chi tiết kỳ ảo (ngôi nhà bánh kẹo, mụ phù thủy ăn thịt người), đồng thời giàu yếu tố biểu tượng. Hình ảnh vụn bánh bị chim ăn mất gợi nhắc sự mong manh, bất lực; ngôi nhà bánh kẹo là cạm bẫy của dục vọng; lò lửa chính là công cụ trừng phạt cái ác.
    c. Giá trị nội dung:
    Tác phẩm trước hết thể hiện niềm tin mãnh liệt của nhân dân rằng cái thiện luôn chiến thắng cái ác. Thông qua sự thông minh của Hansel và lòng dũng cảm của Gretel, truyện đề cao phẩm chất tốt đẹp của con người, đặc biệt là tinh thần đoàn kết để vượt qua khó khăn. Đồng thời, tác phẩm cũng phản ánh nỗi khổ của nhân dân lao động trong xã hội xưa: nghèo đói, bị bỏ rơi, bị cái ác đe dọa. Bên cạnh đó, câu chuyện còn gửi gắm ước mơ về sự đền bù công bằng, khi cuối cùng người lương thiện được sống hạnh phúc và sung túc.
    d. Giá trị nghệ thuật:
    Truyện có nghệ thuật xây dựng tình huống kịch tính với nhiều nút thắt bất ngờ, khiến người đọc hồi hộp theo dõi hành trình của nhân vật. Yếu tố kỳ ảo được sử dụng một cách khéo léo, vừa tạo sức hấp dẫn vừa khắc họa rõ sự đối lập giữa thiện và ác. Hình tượng nhân vật và sự vật trong truyện mang tính biểu tượng cao, giúp câu chuyện vượt khỏi giới hạn không gian, thời gian để trở thành giá trị chung của nhân loại. Bên cạnh đó, ngôn ngữ kể chuyện mộc mạc, giản dị, dễ nhớ, dễ truyền miệng cũng góp phần làm cho tác phẩm bền vững trong trí nhớ nhiều thế hệ.
  4. Kết luận
    “Hansel và Gretel” không chỉ là một truyện cổ tích dành cho thiếu nhi, mà còn là tấm gương phản chiếu xã hội và tâm tư của con người trong quá khứ. Tác phẩm chứa đựng những giá trị nhân văn bền vững: niềm tin vào cái thiện, sự trưởng thành qua gian khó, và khát vọng hạnh phúc. Chính vì vậy, dù trải qua nhiều thế kỷ, câu chuyện vẫn giữ nguyên sức hút và tiếp tục được yêu thích trên toàn thế giới.


0
28 tháng 8 2016

+ “Họ đều là những người nông dân nghèo thương con”. Nhưng tình thương con của mỗi người có biểu hiện và kết cục khác nhau: chị Dậu thương con mà không bảo vệ được con, phải bán con lấy tiền nộp sưu cứu chồng; lão Hạc phải tìm đến cái chết để giữ mảnh vườn cho con; còn ông Hai, khi nghe tin làng theo giặc lại lo cho con vì chúng nó cũng là con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?...Rõ ràng, ông đặt tình cảm riêng trong mối quan hệ với làng, với nước; ông hiểu danh dự của mỗi con người – dù còn ít tuổi – cũng gắn với danh dự của làng, gắn với vận mệnh của đất nước.
+ “Họ đều có sức phản kháng, đấu tranh”. Trong hoàn cảnh xã hội trước Cách mạng tháng Tám, chị Dậu phản kháng một cách tự phát, để bảo vệ chồng trước sự dã man vô nhân đạo của những kẻ đại diện cho cái gọi là “nhà nước” bấy giờ. Còn ông Hai, ông có ý thức trách nhiệm với làng, có tinh thần kháng chiến rất rõ ràng: ông trực tiếp tham gia các hoạt động kháng chiến ở làng, ông muốn trở về làng để được cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…khi đi tản cư ông vẫn lo cho các công việc kháng chiến ở làng.
- Đặc biệt, cần phân tích để thấy những chuyển biến “rất mới” trong tình cảm của ông Hai đối với làng. Ở ông Hai, “tình yêu làng mang tính truyền thống đã hòa nhập với tình yêu nước trong tinh thần kháng chiến của toàn dân tộc”.
+ Tình yêu làng thể hiện ở việc hay khoe làng của ông. Phân tích để thấy sự thay đổi ở việc khoe làng ấy: trước Cách mạng, ông khoe sự giàu có, hào nhoáng của làng; sau Cách mạng tháng Tám, ông khoe không khí cách mạng ở làng ông…Ông tin vào ý thức cách mạng của người dân làng ông cũng như thắng lợi tất yếu nếu giặc đến làng nên nghe giặc “rút ở Bắc Ninh, về qua làng chợ Dầu…” thì ông hỏi ngay “ta giết được bao nhiều thằng?”.
+ Tình yêu làng gắn với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin đồn làng theo giặc. Từ khi chợt nghe tin đến lúc về nhà, nhìn lũ con; rồi đến những ngày sau…nỗi tủi hổ ám ảnh ông Hai thật nặng nề, mặc cảm tội lỗi ngày một lớn hơn. Tình yêu làng, yêu nước của ông còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông thấy tuyệt vọng vì ở nơi tản cư có tin không đâu chứa người làng Chợ Dầu. Lòng trung thành với cách mạng, với đất nước thật mạnh mẽ, hiểu rõ những điều quý giá mà cách mạng đã mang lại cho mình cũng như trách nhiệm với cách mạng nên ông Hai đã quyết định dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
+ Tình cảm với kháng chiến, với cụ Hồ của ông Hai được thể hiện cảm động, chân thành khi ông tâm sự với đứa con út. Và, tinh thần kháng chiến, niềm tự hào về làng Chợ Dầu kháng chiến được thể hiện cụ thể khi ông Hai nghe tin cải chính về làng.
- Phân tích để thấy “nguyên nhân của những đổi thay rất mới đó ở nhân vật ông Hai”. Những đổi thay đó là do tác động của hoàn cảnh lịch sử. Sự mở rộng và thống nhất giữa tình yêu quê hương với tình yêu đất nước là nét rất mới trong nhận thức và tình cảm của người nông dân sau Cách mạng tháng Tám mà nhà văn Kim Lân đã thể hiện qua nhân vật ông Hai. Tình cảm ấy có được bởi cách mạng đã mang lại cho người nông dân cuộc sống mới, họ được giác ngộ và cũng có ý thức tự giác vươn lên cho kịp thời đại. Vậy nên, tầm nhìn, suy nghĩ của ông Hai đã được mở rộng, đúng đắn.

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU VỀ TÁC PHẨM: Hình tượng người phụ nữ trong văn học dân gian Việt Nam.1.Mở đầu:Văn học dân gian là kho tàng trí tuệ, tâm hồn và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Trong đó, hình tượng người phụ nữ xuất hiện xuyên suốt trong các thể loại như truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, truyện cười... không chỉ thể hiện vẻ đẹp truyền thống mà còn phản ánh vai trò, vị...
Đọc tiếp

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU VỀ TÁC PHẨM: Hình tượng người phụ nữ trong văn học dân gian Việt Nam.

1.Mở đầu:

Văn học dân gian là kho tàng trí tuệ, tâm hồn và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Trong đó, hình tượng người phụ nữ xuất hiện xuyên suốt trong các thể loại như truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, truyện cười... không chỉ thể hiện vẻ đẹp truyền thống mà còn phản ánh vai trò, vị trí và số phận của người phụ nữ trong xã hội xưa. Nghiên cứu hình tượng này giúp ta hiểu sâu hơn về văn hóa, tâm lý và giá trị nhân văn của dân tộc Việt.

2.Nội dung nghiên cứu:

a:hình tượng người phụ nữ trong nội dung nghiên cứu:

Trong truyện cổ tích Việt Nam, người phụ nữ thường xuất hiện với vẻ đẹp vừa ngoại hình vừa tâm hồn . Họ thường là nhân vật chính và là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi ,áp bức nhưng cuối cùng lại được đền đáp xứng đáng nhờ phẩm chất đạo đức tốt đẹp.

b:hình tượng người phụ nữ trong ca dao

Ca dao là tiếng nói tâm hồn của người bình dân, đặc biệt là của người phụ nữ. Qua ca dao, hình ảnh người phụ nữ hiện lên với,tình yêu thiết tha , tấm lòng thủy chung và cả nỗi đau bị thân phận rằng buộc bởi lễ

c:Giá trị nhân văn và phản kháng xã hội qua hình tượng người phụ nữ

Mặc dù được sáng tác trong bối cảnh xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, văn học dân gian vẫn thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc , đứng về phía người phụ nữ. Những sáng tác dân gian dường như là tiếng nói thay cho họ,lên án bất công đề cao đạo đức , và mơ ước một xã hội công bằng hơn.

3:Kết luận:

  • Hình tượng người phụ nữ trong văn học dân gian Việt Nam là một biểu tượng phong phú, đa chiều và giàu giá trị nhân văn.
  • Qua những tác phẩm dân gian, người phụ nữ hiện lên vừa đẹp đẽ trong tâm hồn, vừa mang theo những nỗi niềm, bi kịch phản ánh rõ ràng thực trạng xã hội.
  • Việc nghiên cứu đề tài này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về quá khứ mà còn nâng cao nhận thức hiện đại về vai trò và quyền của phụ nữ trong xã hội hôm nay.
0