Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Trong bài thơ "Việt Bắc", đặc biệt ở đoạn thơ "Nhớ gì như nhớ người yêu... nhớ đồng", Tố Hữu đã dệt nên một thế giới cảm xúc nhớ thương da diết bằng những hình ảnh giàu sức gợi. Hình ảnh “mặt người” thấp thoáng trong “ánh trăng”, “rừng núi” vang vọng “tiếng hát ân tình thuỷ chung” không chỉ thể hiện nỗi nhớ mà còn gợi lên mối giao hoà giữa con người và thiên nhiên Việt Bắc. Đặc biệt, chi tiết “nhớ đồng” – tuy mộc mạc – lại chứa đựng nỗi niềm sâu sắc: nhớ cánh đồng kháng chiến gian lao, nơi gắn bó máu thịt giữa quân dân. Những hình ảnh ấy hòa quyện vào nhau, tạo nên một không gian nghệ thuật tràn đầy cảm xúc – nơi nỗi nhớ không chỉ hướng về cảnh vật mà còn về nghĩa tình, về lòng thuỷ chung son sắt của người ra đi với mảnh đất cách mạng. Chính điều đó làm nên chất trữ tình cách mạng rất riêng trong thơ Tố Hữu
Bài thơ “Nhớ đồng” của Tố Hữu là tiếng lòng tha thiết của người chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nhưng trái tim vẫn hướng về quê hương và tự do. Thế giới cảm xúc “nhớ đồng” được dệt nên từ những hình ảnh dân dã, đậm hồn quê: “gió đưa cành trúc la đà”, “con trâu đằm bóng”, “mùi rơm rạ”, “tiếng sáo diều vi vu”… Mỗi chi tiết như một nét chấm mềm mại gợi lên bức tranh đồng quê thanh bình, ấm áp tình người, nơi chất chứa bao kỷ niệm thân thương. Từ nỗi nhớ cảnh vật, nhà thơ hướng đến nỗi nhớ con người, nhớ cuộc sống lao động tự do, để rồi khát vọng được trở về với đồng ruộng, với cách mạng càng trở nên mãnh liệt. Giữa ngục tù tối tăm, hình ảnh đồng quê đã sưởi ấm tâm hồn người chiến sĩ, biến nỗi nhớ thành sức mạnh tinh thần, niềm tin vào ngày mai tươi sáng của đất nước
Câu 1. Tri thức ngữ văn, thơ trữ tình là thể loại dùng cảm xúc, suy nghĩ của tác giả để bộc lộ tâm trạng trước con người và cuộc sống, ngôn ngữ thơ cô đọng, giàu hình ảnh, nhạc điệu, thường sử dụng biện pháp tu từ để tăng sức gợi cảm
Câu 2. Tác giả Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920, mất năm 2002, quê ở Thừa Thiên Huế, là nhà thơ lớn của thơ ca cách mạng Việt Nam, thơ ông giàu tính trữ tình chính trị, thể hiện lí tưởng cách mạng, tình yêu quê hương đất nước và niềm tin vào nhân dân
Câu 3. Bài thơ Nhớ Đồng được sáng tác khi Tố Hữu bị giam trong nhà lao Thừa Phủ, bài thơ thể hiện nỗi nhớ da diết cuộc sống bên ngoài, nhớ cánh đồng quê, nhớ người dân lao động, đồng thời thể hiện tâm trạng cô đơn, ngột ngạt trong cảnh tù đày và khát vọng tự do, qua đó cho thấy tình yêu quê hương, yêu cuộc sống và ý chí cách mạng của nhà thơ
Gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học: cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng; anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản từng làm quan to dưới triều Lê - Trịnh. Nhưng sớm mồ côi cha mẹ (mồ côi cha từ năm 9 tuổi, mồ côi mẹ từ năm 12 tuổi). Hoàn cảnh gia đình cũng có tác động đến sáng tác của Nguyễn Du.
Thời đại:
Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Các tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh - Nguyễn tranh giành quyền lực
Chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, xã hội rối ren, cuộc sống của nhân dân cơ cực, lầm tham.
Phong trào khởi nghĩa diễn ra khắp nơi, tiêu biểu nhất chính là khởi nghĩa Tây Sơn do Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh đạo.
Nghĩa quân Tây Sơn đã đánh đổ tập đoàn phong kiến Trịnh, Lê, Nguyễn, quét sạch hai mươi vạn quân xâm lược nhà Thanh sang xâm lược.
Lời đề từ “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài
- Bâng khuâng: thể hiện được nỗi lòng của nhà thơ, thấy mênh mông, vô định, khó tả nổi cảm xúc trước không gian rộng lớn
- Trời rộng, được nhân hóa “nhớ sông dài” cũng chính là ẩn dụ nỗi nhớ của nhà thơ
- Tràng Giang thể hiện, triển khai tập trung cảm hứng ở câu đề từ





=> Đáp án B