Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tham khảo nhé bạn:
-Điều kiện ăn ở : Tồi tệ
-Lao động: chủ yế sử dụng lao động trẻ em và phụ nữ
-Thời gian làm việc:Từ 14-18 tiếng mỗi ngày
-Tiền lương: Rẻ mạt
Câu 1.
Vua Quang Trung coi trọng chữ Nôm vì:
- Thể hiện ý thức dân tộc: Chữ Nôm là hệ thống chữ viết do người Việt tạo ra, thể hiện ý chí độc lập và thoát ly sự ảnh hưởng của chữ Hán.
- Chống lại sự đồng hóa: Việc sử dụng chữ Nôm giúp người Việt tự khẳng định được bản sắc văn hóa của mình, chống lại sự đồng hóa của nước ngoài.
- Phổ biến tri thức: Vua Quang Trung đã đưa chữ Nôm vào văn bản hành chính và thành lập Viện Sùng chính do Nguyễn Thiếp đứng đầu, nhằm mục đích phổ biến chữ Nôm ra dân chúng, giúp người dân dễ dàng tiếp cận tri thức và tham gia vào công việc triều chính.
Suy nghĩ về tinh thần tự tôn dân tộc của giới trẻ hiện nay :
- Phê phán xu hướng ngoại lai hóa: Việc một bộ phận giới trẻ sử dụng ngôn ngữ nước ngoài một cách tùy tiện, xen kẽ vào tiếng Việt, làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt, là hành động đáng phê phán, chưa thể hiện được tinh thần tự tôn dân tộc.
- Cần ý thức về giá trị dân tộc: Giới trẻ cần ý thức rõ ràng về vai trò và ý nghĩa của bản sắc dân tộc, từ đó có những hành động thiết thực để gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp này.
- Nâng cao ý thức cá nhân: Mỗi người trẻ cần tích cực rèn luyện lối sống, hành động phù hợp với truyền thống đạo lý dân tộc, thay đổi hành vi và suy nghĩ, có thái độ đấu tranh với những hành vi làm mai một bản sắc dân tộc.
- Góp phần xây dựng đất nước: Giới trẻ có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc. Trách nhiệm của mỗi người trẻ là cố gắng học tập, lao động để trở thành công dân tốt, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước.
Câu 2.
Nguyên nhân các đô thị hưng khởi (thế kỷ XVI – XVIII) :
- Phát triển thương nghiệp và thủ công nghiệp: Sự phát triển này tạo ra nhiều hàng hóa và thúc đẩy hoạt động buôn bán, biến các đô thị thành những trung tâm trao đổi sầm uất.
- Hoạt động ngoại thương sôi động: Các thương nhân nước ngoài đến buôn bán, mang lại sự phồn thịnh cho nhiều đô thị như Hội An và Phố Hiến.
- Chính sách của các chúa: Chúa Trịnh, chúa Nguyễn chủ trương mở cửa cho thương nhân nước ngoài vào buôn bán để nhờ họ mua vũ khí, tạo điều kiện cho các đô thị phát triển.
- Sự hình thành các đô thị mới: Nhiều đô thị mới được hình thành và phát triển mạnh, trở thành trung tâm kinh tế lớn của cả nước.
Nguyên nhân các đô thị suy tàn (đầu thế kỷ XIX):
- Chính sách hạn chế ngoại thương: Các chúa Trịnh, chúa Nguyễn sau đó thi hành chính sách hạn chế ngoại thương, làm suy giảm các hoạt động buôn bán quốc tế, theo OLM.
- Suy thoái kinh tế nông nghiệp: Nông nghiệp dần suy thoái, đời sống của nhân dân gặp khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến thương nghiệp và sự phát triển của các đô thị.
- Thiếu liên kết kinh tế: Kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp không có sự liên kết chặt chẽ, dẫn đến việc sản xuất bị hạn chế, không tạo ra động lực cho sự phát triển của đô thị.
Câu 1. *Thời Đường là thời kì phát triển đỉnh cao của chế độ phong kiến Trung quốc, vì:
* Kinh tế: phát triển tương đối toàn diện.
- Nông nghiệp:
+ Giảm tô thuế, bớt sưu dịch.
+ Thực hiện chế độ quân điền: lấy đất công và ruộng bỏ hoang chia cho nông dân.
+ Áp dụng những kĩ thuật canh tác vào sản xuất như chọn giống, xác định thời vụ,… làm cho năng suất tăng.
- Thủ công nghiệp: Các nghề dệt, in, gốm sứ phát triển. Hình thành các xưởng thủ công luyện sắt, đóng thuyền có hàng chục người làm việc.
- Thương nghiệp: Phát triển thịnh đạt, giao lưu buôn bán được mở rộng, hình thành “con đường tơ lụa” trên đất liền và trên biển.
* Chính trị:
- Hoàn thiện bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương nâng cao quyền lực của Hoàng đế.
* Văn hoá: Thơ Đường phản ánh phản ánh toàn diện bộ mặt xã hội bấy giờ và đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật. Tên tuổi nhiều nhà thơ như Lý Bạch, Đỗ Phù, Bạch Cư Dị,… còn đến ngày nay.
* Đối ngoại: với tiềm lực về kinh tế và quân sự: nhà Đường tiếp tục chính sách xâm lược các nước, lãnh thổ Trung Quốc được mở rộng.
Câu 3.
| Kinh tế lãnh địa | Kinh tế thành thị |
|
- Sản xuất chủ yếu là nông nghiệp. - Sản xuất ra sản phẩm chỉ để tiêu dùng trong lãnh địa, không trao đổi, buôn bán ra bên ngoài nên gọi là nền kinh tế "tự cấp, tự túc". - Kinh tế lãnh địa kìm hãm sự phát triển của xã hội phong kiến. |
- Sản xuất chủ yếu là thủ công nghiệp. - Sản xuất ra sản phẩm thủ công để trao đổi, mua bán nên gọi là nền kinh tế hàng hóa. - Kinh tế thành thị tạo điều kiện cho xã hội phong kiến phát triển. |
Sự phát triển của kinh tế hàng hoá đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và hưng khởi của đô thị.
Vào các thế kỉ XVI – XVIII, nhiều đô thị mới hình thành ở miền Bắc và miền Nam. Khu cư dân Thăng Long cũng phát triển với tên Kẻ Chợ gồm 36 phố phường và 8 chợ.
Một thương nhân nước ngoài đã mô tả : “Các phố ở Kẻ Chợ đều rộng, đẹp và lát gạch từng phần...” Một thương nhân khác nói thêm : “Tất cả những vật phẩm khác nhau bán trong thành phố này đều được dành riêng cho từng phường...”
Phố Hiến (phía nam thị xã Hưng Yên ngày nay) ra đời và phát triển phồn thịnh. Nhân dân có câu ‘Thứ nhất Kinh Kì, thứ nhì Phố Hiến ”. Theo người phương Tây mô tả, bấy giờ Phố Hiến có khoảng 2000 nóc nhà.
Hội An là thành phố cảng lớn nhất ở Đàng Trong (trên đất Quảng Nam ngày nay), phát triển chủ yếu ở các thế kỉ XVII - XVIII.
Giáo sĩ Bo-ri đã viết : “Hải cảng đẹp nhất, nơi mà thương nhân ngoại quốc thường lui tới buôn bán là hải cảng thuộc tỉnh Các-ci-am (Quảng Nam)... Thành phố đó lớn lắm, đến nỗi người ta có thể nói nó có 2 thị trấn, một của người Trung Quốc và một của người Nhật Bản.” (Tường trình về vương quốc Đàng Trong)
Thanh Hà cũng là một đô thị mới hình thành ở trên bờ sông Hương, gần Phú Xuân (Huế) do các thương nhân Trung Hoa thành lập với sự đồng ý cùa chúa Nguyễn. Trao đổi buôn bán ở đây khá sầm uất và người đương thời đã gọi là “Đại Minh khách phố”.
Ngoài ra, còn có một số trung tâm buôn bán nhỏ hơn, phồn vinh một thời.
Vào đầu thế kỉ XIX, do nhiều nguyên nhân khác nhau, các đó thị suy tàn dần, thậm chí không còn được nhắc đến, trừ Thăng Long.