Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1 (8 điểm): “Sao phải hòa nhập khi mà bạn sinh ra để nổi bật?” – Dr. Seuss
Câu nói của Dr. Seuss là một lời nhắn nhủ mạnh mẽ về giá trị của sự khác biệt và cá tính riêng. Trong xã hội hiện đại, khi chuẩn mực và khuôn mẫu dễ khiến con người trở nên giống nhau, thì việc giữ gìn bản sắc cá nhân lại càng quan trọng.
Hòa nhập không có nghĩa là hòa tan. Mỗi người đều có những điểm độc đáo, những khả năng riêng biệt. Việc “nổi bật” không phải là khoe khoang, mà là dám sống thật với chính mình, dám theo đuổi điều mình tin tưởng, dù khác biệt với số đông.
Trong thực tế, những người tạo ra sự thay đổi lớn lao cho thế giới — từ nghệ sĩ, nhà khoa học đến nhà lãnh đạo — đều là những người không ngại nổi bật, không ngại đi ngược dòng. Họ không hòa nhập để vừa lòng người khác, mà sống đúng với bản chất để cống hiến.
Vì vậy, câu nói không cổ vũ sự tách biệt, mà khuyến khích mỗi người tìm ra giá trị riêng, sống đúng với bản thân, và từ đó góp phần làm phong phú cho cộng đồng.
Câu 2 (12 điểm): “Một tác phẩm siêu việt là một tác phẩm làm bất hủ nỗi thống khổ của con người” – Voltaire
Voltaire đã nhấn mạnh một chân lý sâu sắc: văn học vĩ đại không né tránh khổ đau, mà khắc họa nó bằng sự thấu hiểu và nghệ thuật, để từ đó làm nên giá trị bất hủ.
Trong lịch sử văn học, những tác phẩm siêu việt thường là những bản ghi chép chân thật về nỗi đau, sự mất mát, và khát vọng sống. Ví dụ:
- “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu không chỉ kể về một người đàn bà bị bạo hành, mà còn đặt ra câu hỏi về cái nhìn nghệ thuật và sự thật cuộc sống.
- “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng là tiếng cười châm biếm nhưng cũng là tiếng khóc cho một xã hội lố lăng, đầy bi kịch.
- “Những người khốn khổ” của Victor Hugo là bản anh hùng ca về lòng nhân đạo giữa thống khổ cùng cực.
Tác phẩm siêu việt không chỉ khiến người đọc xúc động, mà còn gợi mở nhận thức, giúp con người hiểu hơn về chính mình và thế giới. Nỗi thống khổ trong văn học không phải để bi lụy, mà để thức tỉnh, để sưởi ấm, và để lưu giữ nhân tính.
Vì vậy, ý kiến của Voltaire là một định nghĩa sâu sắc về sứ mệnh của văn học: làm bất tử những nỗi đau, để từ đó làm bất tử lòng trắc ẩn và khát vọng sống của con người.
Câu 1 (8 điểm): “Sao phải hòa nhập khi mà bạn sinh ra để nổi bật?” – Dr. Seuss
Câu nói của Dr. Seuss là một lời nhắn nhủ mạnh mẽ về giá trị của sự khác biệt và cá tính riêng. Trong xã hội hiện đại, khi chuẩn mực và khuôn mẫu dễ khiến con người trở nên giống nhau, thì việc giữ gìn bản sắc cá nhân lại càng quan trọng.
Hòa nhập không có nghĩa là hòa tan. Mỗi người đều có những điểm độc đáo, những khả năng riêng biệt. Việc “nổi bật” không phải là khoe khoang, mà là dám sống thật với chính mình, dám theo đuổi điều mình tin tưởng, dù khác biệt với số đông.
Trong thực tế, những người tạo ra sự thay đổi lớn lao cho thế giới — từ nghệ sĩ, nhà khoa học đến nhà lãnh đạo — đều là những người không ngại nổi bật, không ngại đi ngược dòng. Họ không hòa nhập để vừa lòng người khác, mà sống đúng với bản chất để cống hiến.
Vì vậy, câu nói không cổ vũ sự tách biệt, mà khuyến khích mỗi người tìm ra giá trị riêng, sống đúng với bản thân, và từ đó góp phần làm phong phú cho cộng đồng.
Câu 2 (12 điểm): “Một tác phẩm siêu việt là một tác phẩm làm bất hủ nỗi thống khổ của con người” – Voltaire
Voltaire đã nhấn mạnh một chân lý sâu sắc: văn học vĩ đại không né tránh khổ đau, mà khắc họa nó bằng sự thấu hiểu và nghệ thuật, để từ đó làm nên giá trị bất hủ.
Trong lịch sử văn học, những tác phẩm siêu việt thường là những bản ghi chép chân thật về nỗi đau, sự mất mát, và khát vọng sống. Ví dụ:
- “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu không chỉ kể về một người đàn bà bị bạo hành, mà còn đặt ra câu hỏi về cái nhìn nghệ thuật và sự thật cuộc sống.
- “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng là tiếng cười châm biếm nhưng cũng là tiếng khóc cho một xã hội lố lăng, đầy bi kịch.
- “Những người khốn khổ” của Victor Hugo là bản anh hùng ca về lòng nhân đạo giữa thống khổ cùng cực.
Tác phẩm siêu việt không chỉ khiến người đọc xúc động, mà còn gợi mở nhận thức, giúp con người hiểu hơn về chính mình và thế giới. Nỗi thống khổ trong văn học không phải để bi lụy, mà để thức tỉnh, để sưởi ấm, và để lưu giữ nhân tính.
Vì vậy, ý kiến của Voltaire là một định nghĩa sâu sắc về sứ mệnh của văn học: làm bất tử những nỗi đau, để từ đó làm bất tử lòng trắc ẩn và khát vọng sống của con người.
– Sau khi Phùng chứng kiến cảnh ấy không khỏi bất bình cho người phụ nữ. Anh đã về và nói với người bạn của mình là chánh án Đẩu cho kêu người phụ nữ lên để khuyên chị ta bỏ chồng
– Người đàn bà:
• Không có tên
• Trạc ngoài 40
• Thô kệch, mặt giỗ
-> Đó là một người đàn bà xấu xí, gợi ấn tượng về một cuộc sống nghèo khổ cực nhọc
– Cuộc sống vất vả của người phụ nữ hàng chài:
• Về vật chất: nghèo khổ, cả gia đình sống trên một chiếc thuyền
• Về tinh thần: thường xuyên bị đánh đập
– Người đàn bà đầu tiên dụt dè sợ hãi khép nép từ chối yêu cầu bỏ chồng của chánh án Đẩu
– Sau đó bà như một người khác xưng hô với hai người tòa án là chị và các chú. Bà tỏ ra từng trải và nêu lên những nguyên nhân không chịu bỏ chồng. • Người đàn ông là chỗ dựa cho cả gia đình nhất là khi biển động phong ba
• Người đàn bà cần chồng vì còn phải nuôi những đứa con hi sinh
• Trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái được hòa thuận vui vẻ
– Ban đầu Đẩu và Phùng rất nghiêm nghị nhưng về sau lại chỉ biết lắng nghe. Cả hai người đều nhận thấy người đàn bà kia không giống như cái vẻ bề ngoài của mình, bà có một trái tim nhân hậu biết thông cảm cho chồng, biết hi sinh vì con cái. Bà là một người từng trải. có thể nói vẻ đẹp tâm hồn bà tiêu biểu cho nét đẹp người mẹ Việt Nam
– Kết thúc câu chuyện người đàn bà ra về tiếp tục cuộc sống còn nghệ sĩ Phùng mang bức ảnh về làm bức lịch đầu năm. Mỗi lần Phùng nhìn vào bức tranh ấy lại thấy một đốm lửa hồng như gợi nhắc về người đàn bà làng chài
1. Số phận bất hạnh:
- Không có tên riêng: Tác giả không đặt cho chị một tên riêng nào mà gọi chị một cách phiếm định là “người đàn bà”. Nhà văn cố tình mờ hoá tên tuổi của chị để tô đậm một số phận.
- Ngoại hình xấu xí: “thuở nhỏ là đứa con gái xấu lại rỗ mặt”.
- Nỗi bất hạnh của chị
+ Vì xấu xí nên không ai thèm lấy chị lỡ lầm và có mang với một anh hàng chài.
+ Cuộc sống vất vả, nghèo khổ, lại đông con, những khi biển động, hàng tháng “cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng chấm muối luộc”.
+ Sống cam chịu, nhẫn nhục: thường xuyên bị chồng đánh đập, hành hạ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng chị không hề chống trả hay trốn chạy.
+ Quen sống với môi trường sông nước nên khi đến toà án chị cảm thấy lạ lẫm và “sợ sệt”, “lúng túng”, “tìm đến một góc tường để ngồi”, “cố thu người lại”, “cúi mặt xuống”…
=> Tác giả khắc hoạ thật ấn tượng về người đàn bà một đời nhọc nhằn, lam lũ, nhiều cay đắng.
2. Vẻ đẹp tâm hồn của chị:
- Yêu thương con tha thiết:
+ Ban đầu chị bị chồng đánh ở dưới thuyền, sau đó, chị xin với lão đưa chị lên bờ mà đánh; trước khi bị chồng đánh, chị ngước mắt về phía chỗ chiếc thuyền đậu… chị không sợ đòn mà chỉ sợ các con thấy cảnh tượng đau xót sẽ làm thương tổn những trái tim ngây thơ.
+ Khi thằng Phác bênh chị đánh trả lại người cha, hình như lúc ấy chị mới cảm thấy đau đớn, gọi “Phác, con ơi” rồi “chắp tay vái lấy vái để” nó, rồi “ôm chầm lấy” nó “Thằng nhỏ … như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ xuyên qua tâm hồn người đàn bà” -> Đằng sau cái vái lạy đó là chị muốn đứa con đừng làm những điều đáng tiếc với cha mình, là cái lẽ đời mà chị muốn cho con hiểu.
+ Không muốn ly hôn, chấp nhận bị đánh đập, hành hạ để nuôi con khôn lớn: “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn (…) Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình (…) được!”
- Hiểu nguyên nhân làm nên sự tha hoá nhân cách của người chồng:
+ Khi Đẩu khuyên chị ly hôn, “chị chắp tay vái lia lịa” và nói “Con lạy quý toà… quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Bởi chị hiểu chính nghèo khổ, con cái nheo nhóc, không gian sống tù đọng là nguyên nhân biến một anh cục tính hiền lành thành gã đàn ông thô bạo, dã man.
+ Chị thấm thía, thấu hiểu nguyên căn những trận địn vũ phu của người chồng: “ giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn…” , “… cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật” -> Người đàn bà thơ vụng, xấu xí v khốn khổ ấy luơn tìm cch lí giải hnh vi của chồng mình để giữ gìn, để che chắn cái gia đình khốn cng của mình trước sự chỉ trích dù rất đúng và chân thành của những người khác.
- Trong đau khổ, chị vẫn chắt lọc niềm vui để sống: Chị nói về những lần vui vẻ hiếm hoi của gia đình: “ở trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận, vui vẻ” hay “vui nhất là ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Nói về những điều đó “mặt chị ửng sáng lên như một nụ cười”…
=> Hạnh phúc của người đàn bà khốn khổ này cũng chính là niềm hạnh phúc thật lạ lùng và khó hiểu với những người như Phùng, như Đẩu. Trong vất vả, nhọc nhằn, đau đớn, người đàn bà vẫn tìm thấy, vẫn chắt chiu được những niềm vui ít ỏi, niềm vui lấp lánh trong âm thầm, nhẫn nhịn, chịu đựng, hi sinh - Đó là bản chất tốt đẹp của “NHỮNG BÀ MẸ”
3. Giá trị nhân đạo của tác phẩm:
- Qua hình ảnh người đàn bà, tác giả thể hiện sự quan tâm đến những con người bất hạnh và khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của họ: Dù khó khăn gian khổ nhưng họ vẫn khát khao hạnh phúc bình dị, khát khao cuộc sống no đủ, bình yên.
- Tác giả phê phán nạn bạo hành trong gia đình – một mảng tối của xã hội đương đại.
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bàinêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề gồm nhiều ý/ đoạn văn, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tình huống bất thường nói lên khát vọng bình thường mà chính đáng của con người trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận;kết h ợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.
* Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:
– Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn, chuyên viết về cuộc sống và con người nông thôn.
– Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc, tác giả đã sáng tạo được tình huống “nhặt vợ” độc đáo.
* Nêu nội dung ý kiến: khẳng định thành công của tác giả trong việc xây dựng tình huống độc đáo (tính chất bất thường), giàu ý nghĩa nhân bản (thể hiện khát vọng bình thường của con người).
* Phân tích tình huống:
– Nêu tình huống: Tràng – một nông dân ngụ cư nghèo khổ, ngờ nghệch, xấu xí, đang ế vợ bỗng nhiên “nhặt” được vợ giữa nạn đói khủng khiếp.
– Tính chất bất thường: giữa nạn đói kinh hoàng, khi người ta chỉ nghĩ đến chuyệnsống – chết thì Tràng lại lấy vợ; một người tưởng như không thể lấy được vợ lại “nhặt” được vợ một cách dễ dàng; Tràng “nhờ” nạn đói mới có được vợ còn người đànbà vì đói khát mà theo không một ngư ời đàn ông xa lạ; việc Tràng có vợ khiến cho mọi
người ngạc nhiên, không biết nên buồn hay vui, nên mừng hay lo;…
– Khát vọng bình thường mà chính đáng của con người: khát vọng được sống (người đàn bà đói khát theo không về làm vợ Tràng); khát vọng yêu thương, khát vọng về mái ấm gia đình (suy nghĩ và hành động của các nhân vật đều hướng tới vun đắp hạnh phúc gia đình); khát vọng về tương lai tươi sáng (bà cụ Tứ động viên con, người vợ nhặt nhắc đến chuyện phá kho thóc, Tràng nghĩ đến lá cờ đỏ sao vàng,…);…
* Bình luận:
– Thí sinh cần đánh giá mức độ hợp lí của ý kiến, có thể theo hướng: ý kiến xác đáng vì đã chỉ ra nét độc đáo và làm nổi bật ý nghĩa quan trọng của tình huống truyện trong việc thể hiện tư tưởng nhân đạo của tác giả.
– Có thể xem ý kiến là một định hướng cho người đọc khi tiếp nhận tác phẩm Vợnhặt, đồng thời là một gợi mở cho độc giả về cách thức tiếp cận truyện ngắn theo đặc trưng thể loại.
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu:
+ Cửa sông (1967)
+ Dấu chân người lính (1972)
+ Miền cháy (1977)
+ Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983)
+ Bến quê (1985)
+ Chiếc thuyền ngoài xa (1987)
+ Cỏ lau (1989, in sau khi tác giả mất)
- Trước 1975 (thời kỳ chiến tranh, cảm hứng sử thi, lãng mạn):
+ Cửa sông (tiểu thuyết, 1967)
+ Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972)
- Sau 1975 (thời kỳ đổi mới tư duy nghệ thuật, đi sâu khám phá số phận, đời tư, triết lý nhân sinh):
+ Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (truyện ngắn, 1983)
+ Mảnh trăng cuối rừng
+ Bến quê (truyện ngắn, 1985)
+ Chiếc thuyền ngoài xa (truyện ngắn, 1987)
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời
Các tác phẩm chính của ông là: Sau một buổi tập (1960); Cửa sông (1966), Dấu chân người lính (1972), Miền cháy (1977), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê ( 1985), Phiên chợ Giáp(1989), ….
Đáp án cần chọn là: D