Tác phẩm nào của Nguyễn Trãi được đánh giá là “Có sức mạnh của 10 vạn quân” (Phan Huy Chú)
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Vấn đề: Giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều1. Mở đầuTruyện Kiều là kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, tác phẩm đã vượt qua giới hạn thời gian để trở thành đỉnh cao văn học Việt Nam. Với hơn 3.200 câu thơ lục bát, Truyện Kiều không chỉ phản ánh xã hội phong kiến đầy bất công mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo, nhân văn sâu sắc của tác giả.2. Nội dunga. Nội dung...
Đọc tiếp

Vấn đề: Giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều

1. Mở đầu

Truyện Kiều là kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, tác phẩm đã vượt qua giới hạn thời gian để trở thành đỉnh cao văn học Việt Nam. Với hơn 3.200 câu thơ lục bát, Truyện Kiều không chỉ phản ánh xã hội phong kiến đầy bất công mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo, nhân văn sâu sắc của tác giả.

2. Nội dung

a. Nội dung chính
-Kể về cuộc đời 15 năm lưu lạc của nàng Thúy Kiều – một người con gái tài sắc vẹn toàn, nhưng vì chữ hiếu phải bán mình, rồi rơi vào bi kịch tình yêu và cuộc sống
-Tác phẩm thể hiện bi kịch của con người tài sắc trong xã hội phong kiến mục nát.

b. Giá trị hiện thực
-Tố cáo xã hội phong kiến bất công, tàn bạo chà đạp lên quyền sống, đặc biệt là với người phụ nữ.
-Phản ánh cuộc sống, số phận éo le của con người thời Nguyễn Du.

c. Giá trị nhân đạo
-Cảm thương sâu sắc với số phận con người, đặc biệt là phụ nữ.
-Đề cao phẩm chất, tài năng, khát vọng tình yêu, hạnh phúc chính đáng.
-Khẳng định ước mơ công lý, lẽ công bằng trong đời sống.

d. Giá trị nghệ thuật
-Nghệ thuật tả người đặc sắc (điển hình: Thúy Kiều – Thúy Vân).
-Nghệ thuật tự sự xen lẫn trữ tình, ngôn ngữ dân tộc giàu hình ảnh và nhạc điệu.
-Xây dựng nhân vật sống động, điển hình.
-Thể thơ lục bát đạt đến đỉnh cao, có giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ lớn.

3. Kết luận

Truyện Kiều là đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam, vừa giàu giá trị hiện thực, vừa chứa đựng tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm không chỉ để lại dấu ấn trong lịch sử văn học dân tộc mà còn khẳng định tài năng, tấm lòng và vị trí vĩ đại của Nguyễn Du trong nền văn học thế giới.

0
Vấn đề: Ý nghĩa và giá trị của truyện cổ tích Tấm Cám1. Mở đầuTrong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tấm Cám là tác phẩm nổi bật, quen thuộc với nhiều thế hệ. Câu chuyện phản ánh cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, đồng thời gửi gắm ước mơ công bằng, hạnh phúc của nhân dân lao động.2. Nội dunga. Tóm tắt truyệnTấm mồ côi cha mẹ, sống với dì ghẻ và em cùng cha khác mẹ là...
Đọc tiếp

Vấn đề: Ý nghĩa và giá trị của truyện cổ tích Tấm Cám

1. Mở đầu

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tấm Cám là tác phẩm nổi bật, quen thuộc với nhiều thế hệ. Câu chuyện phản ánh cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, đồng thời gửi gắm ước mơ công bằng, hạnh phúc của nhân dân lao động.

2. Nội dung

a. Tóm tắt truyện
Tấm mồ côi cha mẹ, sống với dì ghẻ và em cùng cha khác mẹ là Cám. Tấm hiền lành, chăm chỉ nhưng bị mẹ con Cám nhiều lần hãm hại. Nhờ sự giúp đỡ của Bụt, Tấm trở thành hoàng hậu. Tuy nhiên, Tấm bị mẹ con Cám sát hại nhiều lần, sau đó hóa thân qua nhiều kiếp (chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị). Cuối cùng, Tấm trở lại làm người, trừng trị kẻ ác và sống hạnh phúc.

b. Nhân vật và ý nghĩa
-Tấm: hiền lành, chăm chỉ, giàu tình thương; đồng thời kiên cường, không cam chịu, biết đứng lên chống lại cái ác
-Cám và dì ghẻ: hiện thân của cái ác, độc ác, tham lam, ghen ghét
-Bụt: tượng trưng cho niềm tin, khát vọng công bằng và sự chở che của nhân dân dành cho người lương thiện.

c. Giá trị của truyện
-Giá trị hiện thực: phản ánh sự đối kháng giữa người lao động lương thiện và kẻ ác trong xã hội
-Giá trị nhân đạo: ca ngợi vẻ đẹp, phẩm chất của con người hiền lành, chăm chỉ; khẳng định ước mơ công lý, ở hiền gặp lành.
-Giá trị nghệ thuật: xây dựng cốt truyện hấp dẫn, giàu kịch tính; nghệ thuật hóa thân sáng tạo; ngôn ngữ dân gian giản dị mà giàu sức gợi.

3. Kết luận

Tấm Cám là truyện cổ tích tiêu biểu, vừa phản ánh quy luật “thiện thắng ác bại”, vừa gửi gắm ước mơ hạnh phúc, công bằng của nhân dân. Qua đó, tác phẩm bồi đắp niềm tin vào những giá trị tốt đẹp, hướng con người đến lối sống nhân ái, kiên cường.

0
Báo cáo nghiên cứu truyện dân gian Sơn Tinh, Thủy Tinh1. Giới thiệu tác phẩmSơn Tinh, Thủy Tinh là một truyền thuyết tiêu biểu trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Tác phẩm vừa lý giải hiện tượng thiên nhiên, vừa phản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp, đồng thời gửi gắm khát vọng chế ngự thiên nhiên và giữ gìn hạnh phúc.2. Nguồn gốc và thể loại- Truyện Sơn Tinh, Thủy...
Đọc tiếp

Báo cáo nghiên cứu truyện dân gian Sơn Tinh, Thủy Tinh

1. Giới thiệu tác phẩm
Sơn Tinh, Thủy Tinh là một truyền thuyết tiêu biểu trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Tác phẩm vừa lý giải hiện tượng thiên nhiên, vừa phản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp, đồng thời gửi gắm khát vọng chế ngự thiên nhiên và giữ gìn hạnh phúc.

2. Nguồn gốc và thể loại

- Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh thuộc thể loại truyền thuyết, phản ánh mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên.

-Xuất xứ: được ghi lại trong nhiều tập truyện dân gian, trong đó có Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi.

3. Nội dung chính và nhân vật

- Vua Hùng kén rể, đặt ra điều kiện: ai mang sính lễ đến trước sẽ được lấy Mỵ Nương. - Sơn Tinh (thần núi) đến sớm, rước dâu thành công. Thủy Tinh (thần nước) đến muộn, tức giận dâng nước đánh Sơn Tinh. Hai bên giao tranh kịch liệt, cuối cùng Sơn Tinh chiến thắng.

- Nhân vật Sơn Tinh tượng trưng cho sức mạnh con người trong công cuộc chế ngự thiên nhiên, còn Thủy Tinh tượng trưng cho thiên tai, lũ lụt.

4. Giá trị nội dung

- Giải thích hiện tượng lũ lụt hằng năm ở đồng bằng Bắc Bộ.

- Phản ánh cuộc sống lao động và cuộc đấu tranh chống thiên tai của nhân dân.

- Ca ngợi sức mạnh, ý chí kiên cường và khát vọng chế ngự thiên nhiên.

5. Giá trị nghệ thuật

- Cốt truyện có xung đột kịch tính, hấp dẫn.

- Nhân vật mang tính biểu tượng: Sơn Tinh tượng trưng cho con người, Thủy Tinh tượng trưng cho lũ lụt.

- Nghệ thuật kết hợp yếu tố kỳ ảo với yếu tố hiện thực, giàu trí tưởng tượng và màu sắc huyền thoại.

6. Kết luận
Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh khẳng định tinh thần lạc quan, ý chí chinh phục thiên nhiên của nhân dân ta. Tác phẩm nhắc nhở con người phải kiên cường, sáng tạo để vượt qua khó khăn, đồng thời đề cao khát vọng sống hòa hợp, bền vững với thiên nhiên.

0
15 tháng 5 2021

Nguyễn Dữ là tác giả nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam. Tên tuổi của ông gắn liền với danh tiếng của bộ truyện “Truyền kỳ mạn lục”, tác phẩm được đánh giá là “thiên cổ kỳ bút” của nền văn học nước nhà. Trong đó “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là tác phẩm đặc sắc, ca ngợi tính cách dũng cảm, kiên cường, chính trực, dám chống lại cái ác đến cùng, trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn - một trí thức nước Việt. “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” viết bằng chữ Hán theo thể văn xuôi truyền kỳ. Đây là thể loại văn học phản ánh hiện thực cuộc sống qua những yếu tố kỳ ảo hoang đường. Nhân vật trong bộ truyền kỳ gồm cả người, ma quỷ, thần thánh, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có thể xâm nhập thế giới của nhau Nhân vật chính của tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” xuất hiện ngay từ đầu truyện bằng mấy dòng giới thiệu trực tiếp ngắn gọn về tên họ, quê quán, tính tình, phẩm chất. Ngô Tử Văn được giới thiệu là người tính tình cương trực, thẳng thắn, khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được Sự cương trực, khảng khái của Ngô Tử Văn còn bộc lộ rõ qua thái độ của chàng với hồn ma tên tướng giặc. Tướng giặc khi sống là kẻ xâm lược nước ta, tàn hại dân ta, khi chết rồi vẫn quen thói ỷ mạnh hiếp yếu, cướp nơi trú ngụ của thổ thần nước Việt, lại còn gian trá bày trò đút lót rồi tác yêu tác quái với nhân dân trong vùng. Hắn bị Tử Văn đốt đền là đáng đời nhưng lại hiện hình, xảo quyệt làm như mình là kẻ bị hại, dùng tà phép khiến cho chàng bị sốt nóng sốt rét, đầu lảo đảo. Hồn ma tướng giặc buông lời mắng mỏ, đe dọa, quyết kiện Tử Văn xuống tận Diêm Vương. Trước sự ngang ngược trắng trợn, quyền phép đáng sợ của hồn ma tướng giặc, Ngô Tử Văn vẫn điềm nhiên, không hề run sợ mà tự tin, không coi những lới đe dọa ra gì, thậm chí chẳng thèm tiếp lời hồn ma tướng giặc. Thái độ ấy thể hiện một khí phách cứng cỏi, một niềm tin mạnh mẽ vào chính nghĩa, sự đúng đắn trong hành động của Ngô Tử Văn Tính cách kiên định chính nghĩa của Ngô Soạn còn thể hiện rõ trong quá trình chàng bị lôi xuống địa phủ. Cảnh địa phủ rùng rợn với quỷ sứ hung ác, con sông đầy gió tanh sóng xám. Tử Văn bị bọn quỷ sai lôi đi rất nhanh, bị phán xét lạnh lùng là kẻ “tội sâu ác nặng, không được liệt vào hàng khoan giảm”, bị kết thêm tội ngoan cố bướng bỉnh nhưng chàng chẳng hề run sợ, không hề nhụt chí, một mực kêu oan, đòi phải được phán xét công khai, minh bạch. Khi đối diện trước Diêm vương uy nghiêm, Tử Văn đấu tranh vạch tội tên tướng giặc bằng những lí lẽ cứng cỏi, bằng chứng không thể chối cãi, giọng điệu rất đanh thép vững vàng. Chàng đã bảo vệ lẽ phải mà bất chấp tính mạng của mình, không chịu khuất phục trước uy quyền, kiên quyết đấu tranh cho công lí và lẽ phải đến cùng. Kết quả, chàng đã chiến thắng hồn ma gian tà của tên tướng giặc, bảo toàn được sự sống của mình, được tiến cử vào chức phán sự đền Tản Viên, chịu trách nhiệm giữ gìn bảo vệ công lí. Chiến thắng ấy của Ngô Tử Văn có nghĩa vô cùng to lớn, đã trừng trị đích đáng hồn ma tướng giặc xảo trá, làm sáng tỏ nỗi oan khuất, phục hồi chức vị cho thổ thần nước Việt, giải trừ tai họa cho nhân dân. Truyện gây ấn tượng bằng một loạt những chi tiết kì ảo, cốt truyện giàu kịch tính, cách xây dựng nhân vật sắc nét, ngôn ngữ kể chuyện trau chuốt, súc tích. Truyện ca ngợi nhân vật Ngô Tử Văn, một trí thức nước Việt khảng khái, nhân cách cứng cỏi, cao đẹp, qua đó bộc lộ niềm tin vào công lí, vào việc chính thắng tà.

BÀI NÀY TRƯỚC MÌNH CÓ LÀM RỒI !! CHÚC BẠN HỌC TỐT

17 tháng 5 2021

Nguyễn Dữ là tác giả tiêu biểu của nền văn học trung đại Việt Nam. Tên tuổi của ông gắn liền với bộ truyện "Truyền kì mạn lục".Một tác phẩm được đánh giá là áng thiên cổ kì bút của văn học nước nhà.Trong tác phẩm thì "Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là câu chuyện có ý nghĩa nhất ca ngợi sự dũng cảm kiên cường chống lại cái ác đến cùng,trừ hại cho dân. Và nhân vật Ngô Tử Văn chính là hình ảnh của sự dũng cảm kiên cường ấy.

"Truyện chức phán sự đền Tản Viên nằm trong tập "Truyền kì mạn lục '' .Được viết bằng chữ Hán vào khoảng thế kỉ XVI gồm 20 truyện.đây là một sáng tác văn học vô cùng lớn với sự gia công hư cấu,sáng tạo chau truốt.Đem đến cho chúng ta một cái nhìn về xã hội phong kiến.Nổi bật lên trong câu chuyện là hình ảnh nhân vật Ngô Tử Văn.Một người dũng cảm kiên cường chống lại cái xấu,cái ác để bảo vệ con người.

Nhân vật Ngô Tử Văn trong tác phẩm "Chuyện chức người phán sự đền Tản Viên" của Nguyễn Dữ là người trung thực ngay thẳng đại diện cho cái thiện và công lý ở đời. Nguyễn Dữ là một nhà nho xuất thân trong một gia đình có truyền thống học thức. Những câu chuyện của ông đều nhằm tố cáo xã hội phong kiến mà ông đang sống. Đồng thời thể hiện cái nhìn nhân sinh quan của tác giả. Nhân vật Ngô Tử Văn được tác giả Nguyễn Dữ xây dựng là người có tính cách trung thực, ngay thẳng, tính cách bộc trực thẳng thắn không sợ uy quyền, chức tước không sợ ma quỷ nha sai. Những hành động Ngô Tử Văn đều thể hiện sự khẳng khái của một người ngay thẳng không sợ trời không sợ đất. Trước khi trong chiến tranh có một tên tướng giặc bị giết chết tại nước ta. Sau khi hắn chết biến thành ma thành quỷ đóng ở đền trên đất nước ta để hoành hành, tác quái với người dân hiền lành lương thiện. Ai cũng sợ hắn rồi tránh né không dám lại gần, nhưng Ngô Tử Văn thì ngược lại anh đàng hoàng đĩnh đạc tắm rửa sạch sẽ mặc quần áo gọn gàng ra đốt đền để cho tên quỷ tướng giặc không còn chỗ trú ẩn nữa. Hành động của Ngô Tử Văn làm mọi người sợ hãi, ai cũng lo lắng cho tính mạng của anh nhưng Ngô Tử Văn không sợ gì cả bởi anh tin người tốt làm việc đúng không sợ những kẻ xấu xa gian ác. Hành động của Ngô Tử Văn là hành động của người ngay thẳng muốn tiêu diệt tận gốc cái xấu cái ác trong cuộc sống trừ hại cho người dân lao động, mang lại cho người dân một cuộc sống bình yên. Khi không còn đền nữa thì hồn ma tướng giặc không có chỗ ẩn nấp để quấy nhiễu dân lành. Dù kẻ ác là hồn ma, là quỷ có nhiều phép biến hóa khiến cho những người dân thường phải hoảng sợ trước phép thuật của hắn nhưng Ngô Tử Văn không sợ, dù là thế giới thật hắn cũng bị Ngô Tử Văn giết chết, thì khi là mà hắn có biến hóa ra sao bản chất xảo quyệt thế nào cũng không làm Ngô Tử Văn nao núng. Xuyên suốt tác phẩm "Chuyện chức phán sự đền Tản Viên" người đọc cảm nhận được rằng Ngô Tử Văn là người cương trực cứng cỏi, luôn đứng lên bênh vực công lý lẽ phải. Hồn ma của tên giặc chỉ là một kẻ ác, gian trá xảo quyệt mà thôi. Dù hắn có dùng thế lực quyền phép của mình làm cho Ngô Tử Văn bị ốm rồi bắt hồn chàng xuống dưới cửa Diêm Vương để cho Diêm Vương xử tội thì Ngô Tử Văn cũng không sợ. Thái độ bình tĩnh của Ngô Tử Văn khi đi qua những quan sai, quỷ thần ở âm tào địa phủ khiến người đọc phải nể phục một con người ngay thẳng, kiên định với việc mình làm không sợ điều gì cả. Ngay cả khi đứng trước mặt Diêm Vương hồn ma tướng giặc kết tội Ngô Tử Văn thì Ngô Tử Văn cũng không sợ chàng đã bảo vệ quan điểm của mình, vạch tội của hồn ma tướng giặc một cách chắc chắn, bằng chứng rõ ràng đanh thép, khiến Diêm Vương phải tha chết cho anh và sau đó, Ngô Tử Văn được đề cử làm chức phán sự đền Tản Viên lo giải quyết những vụ án kiện tụng của người dân. Nhân vật Ngô Tử Văn luôn là người biết mình biết người, anh biết hành động của kẻ xâm lược sự bình yên của nước khác là sai. Khi hắn chết không chịu siêu thoát mà còn vương vấn thành ma quỷ quấy nhiễu cuộc sống bình yên của người dân. "Hắn có thực là tay hung hãn có thể giao vạ cho tôi không?" Với những bằng chứng đanh thép Ngô Tử Văn đã chứng minh được tội ác của tên tướng giặc khiến hắn phải thua trong bẽ bàng. Ngô Tử Văn khi đứng trước kẻ thù luôn kiên cường không khoan nhượng, không sợ uy quyền, cũng không sợ chết nên anh không sợ những lời buộc tội của hồn ma tên tướng giặc. Hắn là một kẻ ác, một người sống từ khi hắn chưa chết cho tới lúc chất vấn là hồn ma xấu. Trước cái xấu cái ác trong cuộc sống tại sao chúng ta phải sợ, dù chúng có nhiều quyền phép và sức mạnh, dù chúng có nhiều thủ đoạn âm mưu bất chính thì chúng cũng luôn là những kẻ xấu, tại sao cái thiện lại phải sợ cái ác. Nhờ tính cách ngay thẳng khẳng khái kiên định của Ngô Tử Văn nên chàng đã chiến thắng trên mọi trận địa dù là ở dương gian hay ở dưới âm tào địa phủ. Tình hình càng nguy hiểm thì tính cách kiên cường thẳng thắn của Ngô Tử Văn càng được phát huy. Ngay cả khi bị quan sai quỷ thần lôi đi , đứng trước pháp luật của Âm Phủ Ngô Tử Văn càng tỏ rõ sự bình tĩnh khí phách của mình. Anh không sợ gì cả một người luôn ngay thẳng càng dũng cảm khi đối diện với cái chết của mình bởi anh không sợ, không làm gì sai mà phải hoảng sợ khúm núm trước quyền uy. Những điều Ngô Tử Văn làm đều vì cuộc sống bình yên của người dân của số đông. "Chuyện chức phán sự đền Tản Viên" của Nguyễn Dữ thể hiện bút pháp tả thực kết hợp với những chi tiết hoang tưởng kỳ ảo làm hấp dẫn người đọc. Truyện có nhiều kịch tính chi tiết hấp dẫn người đọc. Nguyễn Dữ đã xây dựng nhân vật Ngô Tử Văn vô cùng độc đáo, thể hiện cho cuộc chiến giữa cái thiện và ác trong đó cái thiện nhất định thắng cái ác.

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM THÁNH GIÓNG1.       Lý Do Chọn Đề Tài:-          Truyện "Thánh Gióng" là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất, khắc họa hình tượng người anh hùng chống giặc ngoại xâm dũng cảm, phi thường.-          Nghiên cứu tác phẩm giúp khám phá những giá trị văn hóa truyền thống, những bài học đạo đức và nhân sinh quan quý báu mà cha ông ta đã gửi...
Đọc tiếp

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM THÁNH GIÓNG

1.       Lý Do Chọn Đề Tài:

-          Truyện "Thánh Gióng" là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất, khắc họa hình tượng người anh hùng chống giặc ngoại xâm dũng cảm, phi thường.

-          Nghiên cứu tác phẩm giúp khám phá những giá trị văn hóa truyền thống, những bài học đạo đức và nhân sinh quan quý báu mà cha ông ta đã gửi gắm.

-          Nghiên cứu tác phẩm giúp tìm ra những phương pháp hiệu quả để giáo dục lòng yêu nước và tinh thần dân tộc cho thế hệ trẻ.

2.       Mục đích nghiên cứu:

-          Phân tích và làm rõ các giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm "Thánh Gióng".

-          Tìm hiểu ý nghĩa lịch sử, văn hóa và xã hội của tác phẩm trong bối cảnh thời đại Hùng Vương.

-          Nghiên cứu ảnh hưởng của "Thánh Gióng" đối với văn học và nghệ thuật Việt Nam.

3.       Đối tượng nghiên cứu:

-          Văn bản truyện "Thánh Gióng" (các dị bản khác nhau).

-           Các tài liệu lịch sử, văn hóa và xã hội liên quan đến truyện "Thánh Gióng"

-          Các công trình nghiên cứu, phê bình và đánh giá về tác phẩm "Thánh Gióng".

4.       Phương pháp nghiên cứu:

-          Nghiên cứu tác phẩm trong bối cảnh lịch sử, văn hóa và xã hội của thời đại Hùng Vương để hiểu rõ hơn về ý nghĩa và giá trị của tác phẩm.

-          So sánh các dị bản khác nhau của truyện "Thánh Gióng" để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó xác định bản gốc và quá trình phát triển của tác phẩm.

-          Phân tích các yếu tố nội dung và nghệ thuật của tác phẩm như cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng để làm rõ giá trị và ý nghĩa của tác phẩm.

5.       Kết quả:

-          Sự ra đời kỳ lạ: Bà mẹ Gióng mang thai 12 tháng sau khi ướm chân vào một vết chân khổng lồ. Lên ba tuổi, Gióng vẫn "ba tuổi chưa biết nói, biết cười, đặt đâu nằm đấy". Sự ra đời và lớn lên khác thường này báo hiệu một số phận phi thường, một con người phi thường sẽ xuất hiện khi đất nước lâm nguy.

-          Sức mạnh phi thường và ý thức cứu nước: Lời nói đầu tiên của Gióng khi nghe tiếng sứ giả là đòi đi đánh giặc. Điều này thể hiện ý thức trách nhiệm với non sông đất nước ngay từ thuở ấu thơ. Sự lớn nhanh "như thổi" với khả năng ăn uống phi thường cho thấy Gióng là hiện thân của sức mạnh cộng đồng, được nuôi dưỡng bởi chính bàn tay và tấm lòng của nhân dân.

-          Hành động anh hùng: Khi giặc đến, Gióng "vươn vai một cái bỗng trở thành một tráng sĩ". Với áo giáp sắt, ngựa sắt và roi sắt, Gióng đã chiến đấu dũng mãnh, đánh tan quân giặc. Ngay cả khi roi sắt gãy, Gióng cũng không nao núng mà nhổ tre bên đường làm vũ khí, thể hiện sự gắn bó với thiên nhiên, vũ khí của dân tộc.

-          Sự ra đi cao đẹp: Sau khi hoàn thành sứ mệnh cứu nước, Gióng "cởi áo giáp sắt bỏ lại, một mình một ngựa bay về trời". Sự ra đi này thể hiện phẩm chất anh hùng không màng danh lợi, chỉ hướng về sự bình yên của đất nước. Gióng hóa thân vào cõi vô biên, bất tử trong lòng dân tộc.

=> Ca ngợi tinh thần yêu nước, ý thức đoàn kết và sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong buổi đầu dựng nước, thể hiện qua hình tượng người anh hùng Gióng với sức mạnh phi thường, chiến đấu bảo vệ đất nước khỏi giặc ngoại xâm.

0
5 tháng 7 2019

Phần Lan

^_^

8 tháng 4 2020

Ba Lan 

 hk tốt

4 tháng 5 2021

1, 

- Bài thơ "Viếng lăng Bác" đã để lại trong lòng bạn đọc những cảm xúc sâu lắng và tha thiết. Với những hình ảnh ẩn dụ độc đáo và những biện pháp tu từ đặc sắc, Viễn Phương đã thể hiện một hồn thơ rất riêng. Qua bài thơ, Viễn Phương đã thay nhân dân miền Nam nói riêng và nhân dân cả nước nói chung dâng lên Bác niềm cảm xúc chân thành, lòng tôn kính thiêng liêng.

- Bài thơ sẽ tiếp tục sống trong lòng người đọc, gợi nhắc cho những thế hệ kế tục thành quả rực rỡ của cách mạng cách sống sao cho xứng đáng với sự hi sinh của một con người vĩ đại mà giản dị- Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã sống trọn một đời:

"Chỉ biết quên mình cho hết thảy

Như dòng sông chảy nặng phù sa"

2, 

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ tài ba, người cha già của cả dân tộc Việt Nam. Bác là người đã tìm và dẫn đường cho cách mạng của dân tộc ta đi tới thành công, mang lại cuộc sống hòa bình ấm no và hạnh phúc như ngày hôm nay. Nói đến công lao của Người với dân tộc Việt Nam là không thể kể hết. Đã có rất nhiều tác phẩm văn chương viết về Bác, tiêu biểu là bài thơ “Viếng lăng Bác” của tác giả Viễn Phương.

Đây là một bài thơ thể hiện nỗi xúc động của người con nơi miền Nam sau bao ngày mong nhớ đã được ra thăm lăng Bác. Đó không còn là tình cảm riêng của nhà thơ đối với Bác mà là của tất cả người con dân miền Nam. Trong sự xúc động ấy, từ trong cảm nhận và tâm hồn của nhà thơ đã khắc họa hình tượng Bác Hồ thật cao đẹp:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Hình ảnh mặt trời được nhắc đến hai lần, đây là một dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Ở câu thơ thứ nhất, mặt trời chính là mặt trời của tự nhiên, mang đến ánh sáng và năng lượng duy trì sự sống cho muôn loài vật trên trái đất, kể cả con người. Từ ý nghĩa của mặt trời tự nhiên, nhà thơ đã nhắc đến một mặt trời thứ hai.đố chính là một ẩn dụ về Bác. Bác cũng giống như mặt trời tự nhiên, là nguồn ánh sáng soi lối dẫn dắt cho con đường cách mạng của Việt Nam, bác chính là nguồn sống và hi vọng, niềm tin bào vệ hòa bình độc lập dân tộc.

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

Bác Hồ là người mà cả dân tộc Việt Nam yêu kính, bác đã gắn mình với dân tộc, suốt một đời lo cho vận mệnh và an nguy của đất nước. Sự ra đi của bác là một mất mát, đau thương to lớn không thể nào bù đắp được của cả dân tộc Việt Nam. Tuy hiện thực là bác đã không còn nữa, bác đã ra đi mãi mãi nhưng đối với nhân dân Việt Nam, bác vẫn mãi sống bất diệt trong tâm thức mỗi người. Những con người vẫn luôn hướng về Bác, dâng lên bác những tràng hoa của lòng kính yêu và biết ơn sâu sắc.

“Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”

Trong tâm thức của con người Việt Nam, Bác không hề ra đi, bác vẫn còn sống mãi với dân tộc Việt Nam, Bác chỉ là đang ngủ một giấc ngủ sâu, một giấc ngủ bình yên. Đất nước đã hòa bình, thống nhất và phát triển, nhân dân được ấm no, hạnh phúc nên giấc ngủ của Bác càng được bình yên hơn. Dù Bác đang ngủ nhưng Bác vẫn đang dõi theo cả dân tộc, tình yêu của con người Việt Nam cũng vẫn mãi vằng vằng không bao giờ tắt như ánh trăng.

Bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương là những tâm sự chân thành và sâu sắc nhất của nhà thơ, là sự nghẹn ngào, xúc động khi được ra thăm người cha già kính yêu. Đồng thời, nhà thơ đã mang đến cho người đọc bức chân dung thật đẹp về Bác, hình ảnh đẹp ấy mãi sáng rực trong lòng mỗi con người Việt Nam.

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.Ngoài rèm thước chẳng mách tinTrong rèm, dường đã có đèn biết chăng?Đèn có biết dường bằng chẳng biết,Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.    Buồn rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương”.(Trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, tr 87, Ngữ Văn 10,Tập...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

Ngoài rèm thước chẳng mách tin

Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

    Buồn rầu nói chẳng nên lời,

Hoa đèn kia với bóng người khá thương”.

(Trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, tr 87, Ngữ Văn 10,Tập II, NXBGD năm 2006)

 Câu 1 : Xác định thể thơ của văn bản?Xác định phương thức biểu đạt trong văn bản? 

 Câu 2 : Hãy nêu những hành động và việc làm của người chinh phụ trong văn bản. Hành động và việc làm đó nói lên điểu gì ?

 

 Câu 3 : Tác giả đã dùng yếu tố ngoại cảnh nào để diễn tả tâm trạng người chinh phụ ? Ý nghĩa của yếu tố đó ? 

 

 Câu 4 : Viết đoạn văn ngắn ( 5 đến 7 dòng) bình giảng nét độc đáo hình ảnh Đèn trong văn bản trên với đèn trong ca dao: Đèn thương nhớ ai/mà đèn không tắt. 

 

 Câu 5 : Thông qua nỗi cô dơn sầu muộn của người chinh phụ trong đoạn trích trên,em có thể cảm nhận gì về thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm ?  

0
2 tháng 11 2021

Học hành có tầm quan trọng rất lớn đối với cuộc đời của mỗi con người. Người xưa đã nhắc nhở con cháu rằng: “Nếu còn trẻ mà không chịu học hành thì khi lớn lên sẽ chẳng thể làm được việc gì có ích”. Bên cạnh đó còn có những câu: “Có học thì như lúa như nếp, không học thì như rơm như cỏ”. Hoặc: “Bất học bất tri lý” (Không học thì không biết lí lẽ, lẽ phải).

Suốt lịch sử phát triển mấy ngàn năm, nhân loại đã tích lũy được một kho tàng tri thức khổng lồ về tự nhiên và xã hội. Những tri thức ấy được lưu truyền từ đời này sang đời khác qua hình thức truyền miệng và chữ viết (sách). Muốn tiếp thu tinh hoa trí tuệ, con người chỉ có một con đường duy nhất là học, học suốt đời.

Nói đến học là nói đến trí lực, một năng lực suy nghĩ, một trực quan nhạy bén, một tư duy hợp lý. Điều ấy hết sức cần thiết cho tất cả mọi người. Chính vì vậy, ngay từ lúc nhỏ, bất kì ai cũng phải được học hành.

Trong mười hai năm ở trường phổ thông, học sinh được cung cấp những kiến thức sơ đẳng của một số bộ môn cơ bản như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ… Tuy thế, học sinh phải chăm chỉ học hành thì mới hiểu và nắm vững kiến thức một cách có hệ thống. Nếu lơ là, chểnh mảng, thiếu nghiêm túc trong việc học hành thì rốt cuộc là tốn thời gian, tiền bạc mà kết quả thu được chẳng đáng là bao.

Thực tế cho thấy là có học có hơn. Mục đích của việc học là nhằm phục vụ cho mọi công việc đạt hiệu quả cao. Nếu ta đơn thuần làm việc theo thói quen hoặc kinh nghiệm có sẵn thì công việc sẽ tiến triển chậm và chất lượng không tốt. Cách làm như trên chỉ thích hợp với các công việc giản đơn, không cần nhiều đến trí tuệ. Còn đối với những công việc phức tạp liên quan đến khoa học kĩ thuật thì cung cách làm việc ấy là lạc hậu, lỗi thời. Muốn đạt hiệu quả tốt trong mọi lĩnh vực, chúng ta bắt buộc phải học, phải được đào tạo chính quy theo từng chuyên ngành và trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập không ngừng, bằng mọi hình thức khác nhau.