K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

24 tháng 9 2018

Đáp án A

Biểu hiện của địa hình nhiệt đới ẩm gió mùa là sự xâm thực mạnh ở đồi núi và bội tụ phù sa ở miền đồng bằng. (xem Câu Thiên nhiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa - Tiết 2)

13 tháng 8 2019

Đáp án: A

Giải thích: SGK/30, địa lí 12 cơ bản.

BÁO CÁO THỰC HÀNH ĐỊA HÌNH TỰ NHIÊN PHÂN HÓA THEO CHIỀU BẮC -NAM - Địa hình Việt Nam đa dạng, chủ yếu là đồi núi chiếm 3/4 diện tích, có hướng tây bắc-đông nam, thấp dần ra biển, tạo nên các vùng văn hóa khác nhau. Miền Tây Bắc có núi cao, hiểm trở; vùng Trường Sơn Bắc đặc trưng bởi các dãy núi thấp, hẹp; miền Nam Trung Bộ có đồng bằng nhỏ hẹp và cao nguyên bazan;...
Đọc tiếp

BÁO CÁO THỰC HÀNH ĐỊA HÌNH TỰ NHIÊN PHÂN HÓA THEO CHIỀU BẮC -NAM - Địa hình Việt Nam đa dạng, chủ yếu là đồi núi chiếm 3/4 diện tích, có hướng tây bắc-đông nam, thấp dần ra biển, tạo nên các vùng văn hóa khác nhau. Miền Tây Bắc có núi cao, hiểm trở; vùng Trường Sơn Bắc đặc trưng bởi các dãy núi thấp, hẹp; miền Nam Trung Bộ có đồng bằng nhỏ hẹp và cao nguyên bazan; và miền Nam Bộ với đồng bằng châu thổ rộng lớn.  *Miền Tây Bắc và vùng núi Đông Bắc - Địa hình:Có các dãy núi cao, hiểm trở chạy song song theo hướng tây bắc-đông nam như dãy Hoàng Liên Sơn.  * Miền duyên hải Bắc Trung Bộ Địa hình:Gồm các đồng bằng nhỏ, hẹp và bị chia cắt mạnh bởi các nhánh núi đâm ngang ra biển.  * Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ - Địa hình:Phía nam là các đồng bằng nhỏ hẹp của duyên hải miền Trung, và rộng lớn hơn là đồng bằng châu thổ Nam Bộ.  * Vùng núi Trường Sơn Địa hình:Bao gồm Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam và hướng vòng cung.  -Ý NGHĨA : Sự phân hóa địa hình Bắc – Nam làm cho thiên nhiên Việt Nam đa dạng, phong phú; quy định sự khác biệt về khí hậu, đất đai, sinh vật, từ đó ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, du lịch và cả phân bố dân cư.

1
31 tháng 10 2025

Báo cáo sơ lược về sự phân hoá địa hình tự nhiên Việt Nam theo chiều Bắc – Nam: • Việt Nam có địa hình chiếm 3/4 diện tích là đểo núi và cao nguyên. Dọc theo chiều Bắc‑Nam, địa hình thay đổi rõ rệt: – Miền Tây Bắc có các dãy núi cao điểm cao như Hoàng Liên Sơn, hiểm trở. – Vùng Trường Sơn Bắc (từ dãy Bạch Mã trở ra) có các dãy núi thấp, hẹp, xen kẻ đồng bằng ven biển hẹp. – Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có hệ thống cao nguyên badan độ cao trung bình, đất bazan màu mỡ; có nhỏ đông bằng ven biển. – Miền Nam Bộ là đồng bằng phẳng và rộng do sông Cửu Long bồi tấ. • Sự phân hoá địa hình gắn liền với khí hậu; phía Bắc có mùa đông lạnh, phía Nam khí hậu cận xích đạo nóng âm quanh năm. Sự đa dạng địa hình – khí hậu là cơ sở để các miền phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và du lịch theo lợi thế riêng.

4 tháng 2 2016
a) Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp. 
- Đồi núi chiếm tớỉ 3/4 diện tích lãnh thổ, đồng bằng chỉ chiếm 1/4 diện tich. 
- Đồi núi thấp (dưới 1000 m ) chiếm hơn 60o/o diện tích cả nước, núi cao (trên 2000 m) chỉ chiếm 1o/o diện tích. 
b) Cấu trúc địa hình khá đa dạng. 
- Địa hình nước ta được trẻ lại và có tính phân bậc rõ rệt. 
- Địa hình thấp dần từ tây bắc xuống đông nam. 
- Gồm 2 hướng chính :
+ Hướng tây bắc - đông nam thể hiện rõ rệt ở vùng núi Tây Bắc và Trường Sơn Bắc. 
+ Hướng vòng cung thể hiện ở vùng núi Đông Bắc và Trường Sơn Nam. 
- Địa hình Việt Nam phân chia thành các khu vực : khu vực núi cao, các khu vực đồi núi thấp và trung bình, các vùng trung du chuyển tiếp giữa miền núi với đồng bằng, các đồng bằng, ô trũng xen kẻ…tạo nên tính đa dạng và phức tạp của địa hình Việt Nam.
Đồi núi chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ, nhưng chủ yếu là đồi núi thấp là đặc điểm cơ bản của địa hình nước ta. Sự tác động qua lại của địa hình tới các thành phần tự nhiên khác hình thành nên đặc điểm chung của tự nhiên nước ta - đất nước nhiều đồi núi 
Vận động uốn nếp, đứt gãy, phun trào mắc ma từ giai đoạn Cổ kiến tạo đã làm xuất hiện ở nước ta cảnh quan đồi núi đồ sộ, liên tục. Trong giai đoạn Tân kiến tạo, vận động An pi diễn ra không liên tục theo nhiều đợt nên địa hình nước ta chủ yếu là đồi núi thấp, địa hình phân thành nhiều bậc, cao ở TB thấp dần ở ĐN. Các đồng bằng chủ yếu là đồng bằng chân núi, ngay đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long cũng được hình thành trên một vùng sụt lún nên đông bằng thường nhỏ.
BÁO CÁO: SỰ PHÂN HOÁ SINH VẬT VIỆT NAM THEO ĐỘ CAO ĐỊA HÌNH1. Giới thiệu chungViệt Nam có địa hình đa dạng, từ đồng bằng, trung du đến miền núi cao. Khi độ cao tăng, nhiệt độ giảm và lượng mưa thay đổi, làm cho hệ sinh vật nước ta có sự phân hoá rõ rệt theo các đai cao.2. Sự phân hoáBiểu hiện:Đai nhiệt đới gió mùa (dưới 600–700m ở miền Bắc, dưới 900–1000m ở miền Nam):Thực vật...
Đọc tiếp

BÁO CÁO: SỰ PHÂN HOÁ SINH VẬT VIỆT NAM THEO ĐỘ CAO ĐỊA HÌNH


1. Giới thiệu chung

Việt Nam có địa hình đa dạng, từ đồng bằng, trung du đến miền núi cao. Khi độ cao tăng, nhiệt độ giảm và lượng mưa thay đổi, làm cho hệ sinh vật nước ta có sự phân hoá rõ rệt theo các đai cao.


2. Sự phân hoá


  • Biểu hiện:
    • Đai nhiệt đới gió mùa (dưới 600–700m ở miền Bắc, dưới 900–1000m ở miền Nam):
      Thực vật phong phú như họ Dầu, họ Đậu, họ Vang. Động vật có công, trĩ, gà lôi, vẹt, khỉ…
    • Đai cận nhiệt đới gió mùa (600–700m đến 2600m ở miền Bắc, 900–1000m đến 2600m ở miền Nam):
      Thực vật có các loài rẻ, re, xen kẽ một số loài nhiệt đới. Động vật gồm các loài thú có lông dày như gấu, sóc…
    • Đai ôn đới gió mùa trên núi (từ 2600m trở lên):
      Thực vật chủ yếu là các loài ôn đới như đỗ quyên, lãnh sam, thiết sam, trúc lùn… Động vật gồm thú lông dày như gấu, chồn, sóc…
  • Nguyên nhân:
    Khi lên cao, nhiệt độ giảm trung bình 0,6°C/100m, lượng mưa và điều kiện sống thay đổi. Điều này dẫn đến sự khác biệt về sinh trưởng của các loài sinh vật, tạo ra sự phân hoá theo độ cao địa hình.
  • Ý nghĩa:
    • Làm đa dạng, phong phú hệ sinh vật Việt Nam.
    • Tạo cơ sở cho sự phát triển nhiều ngành kinh tế: nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch sinh thái



1
8 tháng 11 2025

Hệ sinh vật Việt Nam thay đổi theo độ cao rõ rệt:

- Đai nhiệt đới gó mùa (duới 600‑700 m ở miền Bắc, duới 900‑1000 m ở miền Nam) có rặng xanh ram rap với nhiều loài cây gỗ nhiệt đới (họ Dầu, họ Vang, họ Dầu), phong phú dây leo, song mây. Động vật gồm khỉ, vooc, gấu, hổ, nai, và các loài chim như gà lôi, trĩ.

- Đai cận nhiệt gó mùa trên núi (600‑ 2 000 m) khí hậu mát hơn; thực vật chuyển sang rặng hỗn hợp cây lá kim và cây lá rộng cận nhiệt (thông, sa mu, đặng, rau sưa). Động vật có huou nai, beo lợn, khi men, các loài chim phượng hoàng đất, gà gô.

- Đai ôn đới gó mùa trên núi cao (trên 2 600 m, trần trỏn nhất ở Hoàng Liên Sơn) có khí hậu lạnh. Thực vật nghèo nàn, chiề còn búi cây thấp, rêu và đất chết. Động vật không phong phú, chủ yếu có một số loài thích nghi với khí hậu lạnh như gấu ngựa, chó soi, cóng lông và các loài chim di cư. Sự phân hoá sinh vật theo độ cao giúp giải thích vì sao hệ sinh thái nước ta phong phú và nhấn mạnh việc bảo tồn sinh vật ở mỗi đai.

13 tháng 12 2018

Đáp án A
Hệ quả của quá trình xâm thực, bào mòn mạnh mẽ bề mặt địa hình ở miền đồi núi là
sự bồi tụ mở mang các đồng bằng hạ lưu sông

17 tháng 12 2018

Đáp án A
Hệ quả của quá trình xâm thực, bào mòn mạnh mẽ bề mặt địa hình ở miền đồi núi là
sự bồi tụ mở mang các đồng bằng hạ lưu sông

25 tháng 11 2017

Đáp án A

Dòng chảy sông ngòi vận chuyển các vật liệu bào mòn ở miền đồi núi =>  bồi đắp chúng, hình thành nên các đồng bằng hạ lưu sông

30 tháng 11 2016

Câu 1: Trả lời:

Hoạt động của gió mùa ở nước ta

- Nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến bán cầu Bắc, nên có Tín Phong bán cầu Bắc hoạt động quanh năm. Mặt khác, khí hậu Việt Nam còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các khối khí hoạt động theo mùa với hai mùa gió chính: gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ.

- Gió mùa mùa đông:

+ Từ tháng XI đến tháng IV năm sau, miền Bắc nước ta chịu tác động của khối khí lạnh phương Bắc di chuyển theo hướng đông bắc, nên thường gọi là gió mùa Đông Bắc.

+ Gió mùa Đông Bắc tạo nên một mùa đông lạnh ở miền Bắc: nửa đầu mùa đông thời tiết lạnh khô, còn nửa sau mùa đông thời tiết lạnh ẩm, có mưa phùn ở vùng ven biển và các đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ.

+ Khi di chuyển xuống phía nam, gió mùa Đông Bắc suy yếu dần, bớt lạnh hơn và hầu như bị chặn lại ở dãy Bạch Mã. Từ Đà Nẵng trở vào, Tín Phong bán cầu Bắc cũng thổi theo hướng đông bắc chiếm ưu thế, gây mưa cho vùng ven biển Trung Bộ, trong khi Nam Bộ và Tây Nguyên là mùa khô.

-Gió mùa mùa hạ: Vào mùa hạ (từ tháng V đến tháng X) có hai luồng gió cùng hướng tây nam thổi vào Việt Nam.

+ Vào đầu mùa hạ, khối khí nhiệt đới ẩm từ Bắc Ấn Độ Dương di chuyển theo hướng tây nam xâm nhập trực tiếp và gây mưa lớn cho đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên. Khi vượt qua dãy Trường Sơn và các dãy núi chạy dọc biên giới Việt –Lào, tràn xuống vùng đồng bằng ven biển Trung Bộ và phần nam của khu vực Tây Bắc, khối khí này trở nên khô nóng (gió phơn Tây Nam hay còn gọi là gió Tây hoặc gió Lào).

+ Vào giữa và cuối mùa hạ, gió mùa Tây Nam (xuất phát từ áp cao cận chí tuyến bán cầu Nam) hoạt động mạnh. Khi vượt qua vùng biển xích đạo, khối khí này trở nên nóng ẩm hơn, thường gây mưa lớn và kéo dài cho các vùng đón gió ở Nam Bộ và Tây Nguyên. Hoạt động của gió Tây Nam cùng với dải hội tụ nhiệt đới là nguyên nhân chủ yếu gây mưa vào mùa hạ cho cả hai miền Nam, Bắc va mưa vào tháng IX cho Trung Bộ. Do áp thấp Bắc Bộ, khối khí này di chuyển theo hướng đông nam vào Bắc Bộ tạo nên “gió mùa Đông Nam” vào mùa hạ ở miền Bắc nước ta.



 

19 tháng 12 2016

coS trong sách

21 tháng 10 2019

HƯỚNG DẪN

a) Chứng minh: Sử dụng thang màu ở trang 6 – 7 (Hình thể) để làm rõ phần diện tích của địa hình đồi núi và đồi núi thấp trên bản đồ.

b) Giải thích

- Trong giai đoạn Cổ kiến tạo, lãnh thổ nước ta được nâng lên trong các pha uốn nếp của các kì vận động tạo núi Calêđôni và Hecxini (thuộc đại Cổ sinh), các kì vận động tạo núi Inđôxini và Kimêri (thuộc đại Trung sinh).

- Sau khi kết thúc giai đoạn Cổ kiến tạo, lãnh thổ nước ta trải qua một thời kì tương đối ổn định và tiếp tục được hoàn thiện dưới chế độ lục địa, chủ yếu chịu sự tác động bào mòn, phá hủy của các quá trình ngoại lực, tạo nên những bề mặt san bằng cổ, thấp và thoải. Về cơ bản, địa hình của nước ta có thể hình dung như một bán bình nguyên.

- Trong giai đoạn Tân kiến tạo, vận động tạo núi Anpơ - Himalaya đã nâng cao và hạ thấp địa hình, bồi lấp các bồn trũng lục địa kèm theo các đứt gãy và phun trào mắcma. Tuy nhiên, vận động nâng lên yếu nên đại bộ phận nước ta chủ yếu là đồi núi thấp.