K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam

       […] Nằm giữa lòng Huế, bên bờ Bắc của con sông Hương dùng dằng chảy xuyên qua từ Tây sang Đông, hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền nhà Nguyễn vẫn đang sừng sững trước bao biến động của thời gian. Đó là Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử cấm thành Huế, ba tòa thành lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế - đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh... Nhìn từ phía ngược lại, những công trình kiến trúc ở đây như hòa lẫn vào thiên nhiên tạo nên những tiết tấu diệu kỳ khiến người ta quên mất bàn tay con người đã tác động lên nó.

Ngữ văn 11, Đọc hiểu văn bản thông tin, olm

 Ảnh: Cố đô Huế


       Hoàng thành giới hạn bởi một vòng tường thành gần vuông với mỗi chiều xấp xỉ 600m với 4 cổng ra vào mà độc đáo nhất thường được lấy làm biểu tượng của Cố đô: Ngọ Môn, chính là khu vực hành chính tối cao của triều đình Nguyễn. Bên trong Hoàng thành, hơi dịch về phía sau, là Tử cấm thành - nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng gia.


       […] Xa xa về phía Tây của Kinh thành, nằm hai bên bờ sông Hương, lăng tẩm của các vua Nguyễn được xem là những thành tựu của nền kiến trúc cảnh vật hóa. Lăng vua đôi khi lại là một cõi thiên đường tạo ra cho chủ nhân thú tiêu dao lúc còn sống, rồi sau đó mới trở thành cõi vĩnh hằng khi bước vào thế giới bên kia. Hàm nghĩa như vậy nên kiến trúc lăng tẩm ở đây mang một phong thái hoàn toàn riêng biệt của Việt Nam. Mỗi lăng vua Nguyễn đều phản ánh cuộc đời và tính cách của vị chủ nhân đang yên nghỉ: lăng Gia Long mộc mạc nhưng hoành tráng giữa núi rừng trùng điệp khiến người xem cảm nhận được hùng khí của một chiến tướng từng trải trăm trận; lăng Minh Mạng uy nghi bình chỉnh đăng đối giữa rừng núi hồ ao được tôn tạo khéo léo, hẳn có thể thấy được hùng tâm đại chí của một chính trị gia có tài và tính cách trang nghiêm của một nhà thơ quy củ; lăng Thiệu Trị thâm nghiêm, vừa thâm trầm u uẩn giữ chốn đồng không quạnh quẽ, cũng thể hiện phần nào tâm sự của một nhà thơ siêu việt trên văn đàn song không nối được chí tiền nhân trong chính sự; lăng Tự Đức thơ mộng trữ tình được tạo nên chủ yếu bằng sự tinh tế của con người, phong cảnh nơi đây gợi cho du khách hình ảnh của một tao nhân mang nặng nỗi niềm trắc ẩn bởi tâm huyết của một nhà vua không thực hiện được qua tính cách yếu ớt của một nhà thơ...

       Bên cạnh thành quách cung điện lăng tẩm nguy nga tráng lệ, Huế còn lưu giữ trong lòng bao nhiêu công trình kiến trúc độc đáo gắn liền với thể chế của hoàng quyền mà cách phối trí của các khoảng không gian đã tiến đến đỉnh cao của sự hài hòa trong bố cục. Song song với Kinh thành vững chãi bảo vệ bốn mặt, Trấn Bình Thành án ngữ đường sông, Trấn Hải Thành trấn giữ mặt biển, Hải Vân Quan phòng ngự đường bộ phía Nam, cả một hệ thống thành lũy của Kinh đô song không mấy ai để ý đến tính quân sự của nó vì nghệ thuật kiến trúc đã đạt đến đỉnh cao. Đan xen giữa các khu vực kiến trúc cảnh vật hóa độc đáo ấy, chúng ta còn có thể tham quan đàn Nam Giao - nơi vua tế trời; đàn Xã Tắc - nơi thờ thần đất, thần lúa; Hổ Quyền - đấu trường duy nhất dành cho voi và hổ; Văn Miếu - nơi thờ Khổng Tử và dựng bia khắc tên Tiến sĩ văn thời Nguyễn; Võ Miếu - nơi thờ các danh tướng cổ đại và dựng bia khắc tên Tiến sĩ võ; điện Hòn Chén - nơi thờ Thánh mẫu Thiên Y A Na... còn quá nhiều những thắng tích liên quan đến triều Nguyễn hòa điệu trong những thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng như sông Hương, núi Ngự, Vọng Cảnh, Thiên Thai, Thiên An, Cửa Thuận... thực sự là những bức tranh non nước tuyệt mỹ.  

       […] Với một di sản văn hóa vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc túy của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hóa độc đáo của Việt Nam và thế giới. Di sản Huế đang được bảo tồn rất tốt bởi những nỗ lực không mệt mỏi của Đảng bộ và nhân dân Thừa Thiên Huế, của Bộ Văn hóa Thông tin, mà trực tiếp là Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Ngày 11 tháng 12 năm 1993, cả nước hân hoan đón mừng Quần thể di tích Cố đô được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới; ngày 7 tháng 11 năm 2003 vừa qua, văn hóa Huế một lần nữa được đăng quang khi Âm nhạc cung đình Huế: Nhã nhạc (triều Nguyễn) đã được UNESCO ghi tên vào danh mục Các Kiệt tác Di sản phi vật thể của nhân loại. Hẳn không chỉ như vậy, với một công cuộc bảo tồn lớn lao theo những tiêu chuẩn cao nhất của Di sản Thế giới, kho tàng văn hóa Huế sẽ còn nở rộ những đóa hoa nghệ thuật khác nữa. “Huế sẽ mãi mãi được giữ gìn” cho Việt Nam và cho thế giới, mãi mãi là niềm tự hào của chúng ta.

(Theo thuathienhue.gov.vn)

Câu 1. Văn bản trên giới thiệu về danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nào?

Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Theo em, vì sao văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin tổng hợp? 

Câu 4. Chỉ ra và phân tích tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản. 

Câu 5. Từ nội dung của văn bản, em có những suy nghĩ, cảm nhận gì về quần thể khu di tích Cố đô Huế?

0
(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

TRÀNG GIANG − DÒNG SÔNG CỦA NỖI NIỀM NHÂN THẾ

      (1) Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian "Tràng giang" cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả các trạng thái "tĩnh" của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm "tĩnh" là gốc của "động", "tĩnh" là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, "tĩnh tại" và "thanh vắng" cũng trở thành tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông" trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không − một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của "Tràng giang" được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ. Có lẽ vì thế mà "Tràng giang" còn là một thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng. [...]

     Và sự phủ định cuối cùng "không khói hoàng hôn...". Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng cổ điển của "Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén. Ngày vắng xem hoa bợ cây" (Nguyễn Trãi), "Lác đác bên sông chợ mấy nhà" (Bà huyện Thanh Quan), hay "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" (Nguyễn Khuyến) nữa. "Tràng giang" hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thuở khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế! Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh thế này, hơn nghìn năm trước, Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê:

"Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)"

     Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần có khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên cớ đâu! Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy khỏi nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:

"Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà."

      Dòng sông chảy mênh mang giữa trời đất đến đây như bỗng dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của lòng quê! Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất?

     (2) Đứng trước dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau, khi ta đã tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không thèm biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn và hình như trong bài thơ, Huy Cận đã thâu tóm được nhịp chảy trôi miên viễn ấy rồi thể hiện một cách tinh vi trong âm hưởng chảy trôi thao thiết của ngôn từ. Những từ láy nằm rải trong chiều dài bài thơ, nhất là láy nguyên: "điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn..." không chỉ gợi được sự đường bệ, mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song". Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối lên tiếp như một chuỗi dài tạo ra nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man: "Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu". Rồi những từ, cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp ở cuối các câu: "hàng nối hàng", "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng",... tất cả những yếu tố ngôn từ ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau, phụ hoạ lẫn nhau, tạo thành một âm hưởng trôi xuôi vô tận miên viễn cứ ngầm chảy trong lòng bài thơ này khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt: có một dòng tràng giang thầm chảy trong âm điệu. Và ta như nghe thấy dòng tràng giang không chỉ chảy trong không gian, mà còn chảy trong thời gian − từ thuở khai thiên lập địa, chảy miết qua các thời đại mà về đây! Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian "Tràng giang"?

     (3) Tôi đọc bài thơ bao nhiêu lần và không sao xoá được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng "Tràng giang" kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bạc đó?... Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ? Mà dường như cũng là của một người già? Bởi vì tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng?

(Theo Thơ Huy Cận − Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, Hà Nội, 2007, tr. 356 − 361)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2.  Trong phần (3), người viết đã thể hiện cảm xúc, thái độ gì?

Câu 3. Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt nào của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông"?

Câu 4. Trong phần (2) của văn bản, tác giả đã phân tích những yếu tố ngôn ngữ nào của bài thơ để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn" của tràng giang?

Câu 5. Em ấn tượng nhất với đặc điểm nào của bài thơ Tràng giang được phân tích trong văn bản? Vì sao?

14
19 tháng 9 2025

Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).


Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.


Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:

  • Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
  • Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.

Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:

  • Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
  • Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
  • Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
  • Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
    → Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.

Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)

Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.

30 tháng 9 2025

Fjfjrjfjf


Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO

      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã được vẽ ra như là một cách tố cáo cái xã hội tàn bạo đã huỷ hoại cả đến nhân hình, nhân dạng của con người). Dường như mọi đặc sắc nghệ thuật của ông đều gắn với sở trường ấy. Trong "Chí Phèo", có những đoạn tả ánh trăng rất thú vị: ánh trăng in cái bóng thằng Chí Phèo trên đường làng "Nó xệch xạc về phía bên phải, nó xệch xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại dài loang ra, xé rách ra vài chỗ. Nó cứ quần quật dưới chân Chí Phèo"; ánh trăng chiếu trên "những tàu lá chuối nằm ngửa, ưỡn cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước thỉnh thoảng bị gió lay lại giãy đành đạch như là hứng tình". Đó là nghệ thuật diễn tả tâm lí hơn là vẽ cảnh thiên nhiên: tâm lí thằng say rượu sắp sửa gặp thị Nở. Ở truyện này, ông ghép nên những cặp nhân vật tâm sự (Lão Hạc − ông giáo hàng xóm; Chí Phèo − thị Nở; Lang Rận − mụ Lợi,...), ở truyện kia, ông lại tạo những nhân vật gây sự (vợ chồng anh trí thức nghèo chẳng hạn). Xét ở một phương diện nào đấy, đó cũng là một cách sắp đặt tình huống độc đáo để bộc lộ những tâm sự sâu kín của các vai truyện. Nếu so sánh Nam Cao với Ngô Tất Tố, thì dễ dàng nhận thấy Ngô Tất Tố chủ yếu dùng bút pháp ngoại hiện để diễn tả tâm lí nhân vật hơn là trực tiếp quan sát và phân tích thế giới nội tâm của chúng. Nếu so sánh với Nguyễn Công Hoan thì thấy nhà văn trào phúng thường chỉ thành công khi diễn tả những khoảnh khắc tâm lí đơn giản, giới hạn trong một truyện ngắn có một chủ để hết sức rõ ràng. Còn Nam Cao thì có khả năng "du lịch" triền miên trong thế giới nội tâm của nhân vật để theo dõi những quá trình tâm lí phức tạp, quanh co, nhiều khi thật khó phân biệt là vui hay buồn, cười hay khóc, say hay tỉnh, ghét hay thương,...

      Chính vì thông thuộc tâm lí con người mà Nam Cao có lối kể chuyện rất biến hoá, cứ nhập thẳng vào đời sống bên trong của nhân vật mà dẫn dắt mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm. Lối kể chuyện theo quan điểm nhân vật như thế tạo ra ở nhiều tác phẩm Nam Cao một lối kết cấu bề ngoài có vẻ rất phóng túng, tuỳ tiện, xáo trộn trật tự tự nhiên của không gian, thời gian, mà thực ra rất chặt chẽ như không thể nào phá vỡ nổi. Đây cũng là lối trần thuật nhiều giọng điệu rất độc đáo và hấp dẫn của Nam Cao.

      (2) Như đã nói, Nam Cao luôn băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người, ông dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục vì nghèo đói cùng đường. Nam Cao đặt vấn đề này ra là để minh oan chiêu tuyết cho những con người bị miệt thị một cách bất công: "Chí Phèo", "Một bữa no", "Lang Rận",... Để giải quyết vấn đề này, nhiều khi ông phải đặt nhân vật của mình vào tình thế cheo leo nơi ranh giới giữa con người và thú vật. Và như thế thì ngòi bút của nhà văn cũng thật cheo leo. Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không. Nam Cao không làm xiếc ngôn từ, không làm trò kĩ thuật, ông tự thử thách mình về tư tưởng, về cái tâm đối với con người. Nhiều cây bút khác, đi trên đất bằng mà có lúc cũng vấp ngã, Nam Cao đi trên dây làm sao tránh khỏi có lúc ngả nghiêng. Nhưng người đọc, sau những giây phút hồi hộp, căng thẳng, càng cảm thấy khoan khoái khi thấy nhà văn đã đạt tới đích mà không hề sa chân hụt bước.

      Một cái tâm vững vàng, đằm thắm, đó là nền tảng của mọi tác phẩm của Nam Cao. Cho nên dù ông nhiều khi có cố tình làm ra vẻ lạnh lùng, cố tình dùng những từ vô cảm, thậm chí có sắc thái miệt thị và châm biếm nữa đối với các nhân vật của mình (như những đại từ nhân xưng: hắn, y, thị...), thì người ta vẫn thấy có biết bao đau xót, biết bao nước mắt trong đó.

      Ấy cũng là một đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao.

(Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2000, trang 276 - 278)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2. Văn bản trên đã làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên những phương diện nào?

Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: "Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không." có tác dụng gì?

Câu 4. Nhận xét về ngôn ngữ nghị luận được sử dụng trong phần (2).

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. 

0
10 tháng 10 2024

Câu 2:

Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:

- Hình thức: đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp. Hành văn trong sáng, cảm xúc chân thành ;

- Nội dung: Từ quan điểm đúng đắn của Thân Nhân Trung : “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, học sinh liên hệ đến lời dạy của Bác : “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.

+ Câu nói của Người đề cao vai trò của giáo dục. Người đặt giáo dục là một trong nhiệm vụ hàng đầu để chấn hưng đất nước.

+Người kêu gọi mọi người Việt Nam có quyền lợi và bổn phận học kiến thức mới để xây dựng nước nhà; nhất là các cháu thiếu niên phải ra sức học tập để cho non sông Việt Nam, dân tộc Việt Nam được vẻ vang sánh vai cùng các cường quốc năm châu...

Xem thêm: https://toploigiai.vn/bien-phap-tu-tu-hien-tai-la-nguyen-khi-quoc-gia

17 tháng 9 2025

câu 1

Thì ra bà tôi lâu nay vẫn đi bán bỏng ngoài bến tàu. Khổ thân bà quá! Bà ơi, cháu thương bà lắm. Bà có nghe thấy tiếng cháu gọi thầm bà không? Lúc này bà làm gì, ở đâu? Sao bà không về với cháu đi bà!

Ôi, tôi như nhìn thấy bà tôi đang len lỏi đi dọc các toa tàu, giơ gói bỏng lên trước mặt hành khách nài nỉ: “Ông ơi, bà ơi mua bỏng giúp tôi đi!”. Nhưng con tàu vô hình cứ mang các hành khách chạy đi, để lại bà tôi tóc bạc, lưng còng, đứng chơ vơ giữa hai vệt đường ray… Chính tôi, tôi cũng vô tình như con tàu, tôi chẳng để ý gì đến bà tôi, tôi chỉ nghĩ đến những con quay, những quả bóng của tôi thôi! Nhiều lúc bà tôi đến chơi, mới ngồi với bà được một tí, tôi đã vội bỏ đi với những trò chơi của tôi rồi! Không, không thể để thế được. Tôi đã mười hai tuổi, lớn rồi, tôi cũng có quyền bàn chuyện nghiêm chỉnh với bố mẹ tôi chứ! Nghĩ rồi, tôi chạy ào xuống nhà. Tôi thấy mẹ tôi đang rửa bát, còn bố tôi đang xách nước lên.


Sức Khỏe Nam Giới
Chấm dứt biệt danh yếu ngay tại nhà với bí quyết của tôi!
 
Tìm hiểu thêm
– Bố mẹ ơi, – tôi gọi giục giã, – bố mẹ vào cả đây con có chuyện này muốn nói.

– Thằng này hôm nay lạ thật. – Bố tôi nói. – Có chuyện gì mà quan trọng vậy?

– Thì con cứ nói đi, – mẹ tôi nói, – mẹ vừa rửa bát vừa nghe cũng được.

– Không, cả mẹ nữa, mẹ vào đây con mới nói.

Mẹ tôi vào, nhìn tôi lo lắng:

– Hay con có chuyện gì ở lớp?

– Không.

– Hay con đánh nhau với bạn nào?

– Không. Chuyện nhà ta kia. Bố mẹ ơi, bố mẹ có thương bà không?

– Sao tự nhiên con lại hỏi thế? – Bố tôi hỏi lại tôi. – Mà bà làm sao kia mà thương?

– Bà chẳng làm sao cả. Bà đi bán bỏng ở bến tàu ấy, người ta bảo thế. Bố mẹ có biết không?


Diafinol
Bệnh tiểu đường không đến từ đồ ngọt!
Gặp kẻ thù lớn nhất của bệnh tiểu đường
Tìm hiểu thêm
– Biết, – bố tôi có vẻ lúng túng, – nhưng thế thì sao.

– Còn sao nữa! – Tôi nghẹn ngào – Bà già rồi. Sao bố lại để bà như thế? Khổ thân bà!

– Bố có bắt bà phải thế đâu, – mẹ tôi trả lời thay cho bố, – vì bà thích thế chứ.

– Thích ư? Con chắc là bà chẳng thích đâu. Đời nào bà lại thích đi bán bỏng hơn ở nhà với con, với bố mẹ. Bà yêu thương bố mẹ và con lắm kia mà. Ôi, con cứ nghĩ đến những ngày nắng, ngày rét mà bà thì già thế, bà sao chịu nổi, bà ốm rồi bà chết như bà Thìn bên cạnh ấy thì sao. – Nói đến đây tôi oà lên khóc. – Ước gì bây giờ con đã lớn để con nuôi được bà!

Bố mẹ lặng lẽ nhìn tôi rồi lại nhìn nhau. Bố tôi đặt một bàn tay lên vai tôi rồi nói:

– Thôi con nín đi. Bố hiểu rồi. Con nín đi con!

Tôi cảm thấy giọng bố tôi hơi run và bàn tay nóng ran của bố truyền hơi nóng sang vai tôi. Mẹ tôi cũng nghẹn ngào:

– Con nói đúng, bố mẹ có lỗi với bà. Con đi ngủ đi, sáng mai bố mẹ sẽ xuống Vĩnh Tuy đón bà về đây. Gia đình ta lại sum họp như trước.
Tôi ngoan ngoãn nghe lời mẹ, lên giường nằm nhưng không làm sao chợp mắt được. Tôi cảm thấy phấp phỏng, vừa lo lại vừa vui. Chỉ sáng mai thôi, tôi lại được sống cùng với bà như trước. Nhưng nói dại, không hiểu sáng mai bà tôi có còn gặp được tôi không? Bà tôi vẫn thường hay nói với tôi: “Bà sống được ngày nào hay ngày ấy. Người già như ngọn đèn trước gió, không biết tắt lúc nào”.

(Trích “Bà tôi” Xuân Quỳnh. Bầu trời trong quả trứng, NXB Kim Đồng, 2005)

Bài làm

* Mở bài

– Giới thiệu nhân vật “Tôi” trong đoạn trích truyện “Bà tôi” của Xuân Quỳnh.

– Nêu khái quát ấn tượng về nhân vật: để lại nhiều ấn tượng khó quên với người đọc bởi những đức tính tốt đẹp.

* Thân bài



Bệnh tiểu đường không đến từ đồ ngọt!
Gặp kẻ thù lớn nhất của bệnh tiểu đường
Tìm hiểu thêm
– Lần lượt phân tích các đặc điểm của nhân vật dựa trên các bằng chứng trong tác phẩm

+ Tôi đã mười hai tuổi

+ Là người cháu vô cùng yêu thương bà:

. Xót xa, thương cảm khi biết tin bà đi bán bỏng ở bến tàu (bằng chứng).

. Đối thoại cùng bố mẹ và khẩn thiết đề nghị bố mẹ đi đón bà về (bằng chứng).

-> Hành động và lời nói của nhân vật đã thức tỉnh bố mẹ, “đánh thức tính người”, cảm hóa để bố mẹ của “tôi” nhận ra lỗi của mình và có hành động đúng đắn.

. Tâm trạng phấp phỏng vừa lo vừa vui trong đêm (bằng chứng).

-> Là sự thể hiện đẹp đẽ của tình bà cháu, giá trị nhân bản của con người.

-> Đó cũng là điều quý giá đứa cháu nhỏ có thể làm cho bà. Đó cũng chính là tình cảm đáng quý nhất mà người bà đã nhận được. Quãng đời còn lại của người già sẽ ấm áp biết bao khi có những đứa cháu hiếu thảo, yêu quý như nhân vật “tôi” trong câu chuyện.

– Nhận xét đánh giá:



Bệnh tiểu đường không đến từ đồ ngọt!
Gặp kẻ thù lớn nhất của bệnh tiểu đường
Tìm hiểu thêm
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nghệ thuật tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm tinh tế. Xây dựng nhân vật qua lời nói, diễn biến tâm trạng và trong mối quan hệ với bố mẹ và đặc biệt là người bà.

+ Ca ngợi, tôn vinh những giá trị nhân bản đẹp đẽ của con người qua nhân vật “tôi” và nhắc nhở trách nhiệm của mỗi thành viên đối với người thân trong gia đình của mình.

* Kết bài

– Khẳng định ý kiến của người viết về nhân vật

– Nêu cảm nghĩ, ấn tượng về nhân vật, tác dụng của nhân vật với bản thân mình hoặc thế hệ trẻ hôm nay.

câu 2

Hiện tượng "Chảy máu chất xám" (hay còn gọi là "brain drain" trong tiếng Anh) là một vấn đề quan trọng, nói về quá trình di cư quy mô lớn của nguồn nhân lực có kiến thức và kỹ năng từ một quốc gia sang một quốc gia khác. Ban đầu, thuật ngữ này chỉ ám chỉ việc các công nhân kỹ thuật di cư sang các quốc gia khác, nhưng ngày nay, nó đã được mở rộng để bao gồm việc ra đi của những người có kiến thức hoặc chuyên môn từ một quốc gia, khu vực kinh tế, hoặc lĩnh vực khác vì họ tìm kiếm điều kiện sống tốt hơn hoặc mức lương hấp dẫn hơn.

Chảy máu chất xám là một hiện tượng toàn cầu, không chỉ xuất hiện ở các quốc gia đang phát triển mà còn tại các nước phát triển, gây thiệt hại đáng kể đối với quá trình phát triển kinh tế. Các chính phủ đã thực hiện các biện pháp và chính sách nhằm kiểm soát hiện tượng này và tạo điều kiện thu hút những người có kiến thức quay trở lại quê hương.

Nguyên nhân chính thúc đẩy Chảy máu chất xám bao gồm mức lương thấp, thiết bị lạc hậu, triển vọng tương lai không sáng sủa, sự thiếu lựa chọn cho các nhà khoa học nếu họ ở lại quê hương, cũng như chế độ đãi ngộ kém, môi trường nghiên cứu khoa học không phát triển, và giá trị công việc chưa được đánh giá cao. Riêng ở châu Phi, còn có các yếu tố khác như nghèo đói, sự bất ổn chính trị (chiến tranh, xung đột), và nguồn ngân sách đầu tư vào lĩnh vực khoa học và công nghệ cực kỳ thấp (chỉ chiếm 0,3% của GDP).

Các yếu tố cá nhân cũng đóng vai trò quan trọng, bao gồm sự ảnh hưởng từ gia đình (ví dụ như có người thân ở nước ngoài) và sở thích cá nhân của mỗi người, mong muốn khám phá và phát triển sự nghiệp.

Chảy máu chất xám tại các quốc gia nghèo đóng góp đáng kể vào khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia và gây ra những hậu quả khó lường cho các quốc gia đang phát triển. Việc mất mát nguồn nhân lực có kiến thức dẫn đến sự lãng phí nguồn đào tạo của quốc gia, đồng thời phải chi tiêu lớn để thuê chuyên gia từ nước ngoài. Ở châu Phi, chi phí này thậm chí chiếm tới 1/3 nguồn viện trợ đến từ nước ngoài. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khoa học không thể thực hiện do thiếu nhân lực, và các thành tựu khoa học và công nghệ không được áp dụng rộng rãi. Sự ra đi của các nhà khoa học cũng ảnh hưởng xấu đến cộng đồng và tri thức trong nước, đồng thời gây chậm trễ quá trình phát triển kinh tế.


(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:ÁO TẾT Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho: – Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó. Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:

– Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.

Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.

Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về Ngoại thì mùng Hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.

Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi sách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:

– Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?

– Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.

– Vậy mầy được mấy bộ?

– Có một bộ hà.

Con bé Em trợn mắt:

– Ít quá vậy?

– Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.

– Vậy à?

Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.

Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:

– Còn mầy?

– Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.

– Mầy sướng rồi.

Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:

– Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?

Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:

– Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.

Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó.

(Nguyễn Ngọc Tư, theo isach.info)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản “Áo Tết”?

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

45
14 tháng 12 2025


Câu 1.

Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).

Câu 2.

Đề tài của văn bản “Áo Tết” là:

→ Tình bạn hồn nhiên, trong sáng của trẻ em gắn với sự sẻ chia, cảm thông giữa những hoàn cảnh khác nhau trong dịp Tết.

Câu 3.

  • Sự thay đổi điểm nhìn:
    Đoạn trích chủ yếu được kể theo điểm nhìn của bé Em, nhưng có lúc chuyển sang thể hiện tâm trạng, suy nghĩ của con Bích.
  • Tác dụng:
    Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên chân thực, giàu cảm xúc, làm nổi bật sự đối lập hoàn cảnh và vẻ đẹp của tình bạn, sự thấu hiểu giữa hai nhân vật.

Câu 4

Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:

  • Với bé Em, chiếc áo là niềm vui, niềm háo hức ngày Tết nhưng em sẵn sàng không khoe, biết nghĩ cho bạn.
  • Với con Bích, chiếc áo là điều xa xỉ, gợi lên sự thiệt thòi nhưng em vẫn giữ lòng tự trọng, tình bạn chân thành.
    → Chi tiết này làm nổi bật tính cách hồn nhiên, nhân hậu của bé Em và sự hiền lành, đáng thương của con Bích, đồng thời thể hiện rõ thông điệp nhân văn của truyện.
  • Câu 5.

 Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra rằng tình bạn thật sự không được đo bằng vật chất hay quần áo đẹp. Bạn bè cần biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với nhau, nhất là khi hoàn cảnh khác biệt. Sự quan tâm chân thành sẽ giúp người khác bớt tủi thân và cảm thấy được trân trọng. Khi biết nghĩ cho bạn, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa hơn. Đó chính là vẻ đẹp đáng quý của tình bạn trong cuộc sống.


14 tháng 12 2025

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

Gợi ý: Nếu văn bản kể về một sự việc, nhân vật cụ thể (như bé Em, bé Bích), diễn ra trong một bối cảnh nhất định (như dịp Tết), thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật thì văn bản đó thường thuộc thể loại Truyện ngắn hoặc Truyện (Văn xuôi).

Câu 2. Xác định đề tài của văn bản "Áo Tết".

Gợi ý: Dựa vào tiêu đề "Áo Tết" và các nhân vật (bé Em, bé Bích), đề tài có thể là: Tình bạn và sự sẻ chia trong bối cảnh cuộc sống khó khăn, hoặc Kỷ niệm tuổi thơ và ý nghĩa của ngày Tết.

Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích? Nhận xét về tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản "Áo Tết".

Gợi ý:

Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản có thể bắt đầu bằng Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri) để giới thiệu bối cảnh, sau đó chuyển sang Ngôi thứ nhất (xưng "tôi" hoặc "cháu" - thường là bé Em hoặc bé Bích khi kể lại câu chuyện) để đi sâu vào nội tâm, cảm xúc.

Tác dụng:

• Tạo sự khách quan khi mô tả bối cảnh và sự kiện.

• Tăng tính chân thực, xúc động khi đi sâu vào nội tâm, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật chính (nhất là sự day dứt, niềm vui hay sự hy sinh).

• Làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và giàu tính truyền cảm hơn.

Câu 4. Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu nhất trong văn bản. Em hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết này trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật?

Gợi ý (Giả định về ý nghĩa chiếc áo):

Ý nghĩa: Chiếc áo đầm hồng là ước mơ, là niềm khao khát về một cái Tết đủ đầy, tươi mới, là biểu tượng của niềm vui và sự thiếu thốn (vì chỉ có một chiếc để chia sẻ).

Bộc lộ tính cách nhân vật:

Bé Em/ Bé Bích: Chiếc áo bộc lộ sự ngây thơ, hồn nhiên khi yêu thích cái đẹp, nhưng cũng bộc lộ lòng thương yêu, nhường nhịn, và sự sẻ chia (vì cả hai đều muốn nhường chiếc áo cho người kia).

Người lớn (Nếu có): Chiếc áo có thể thể hiện sự khó khăn, nghèo túng của gia đình (vì không thể mua đủ cho cả hai), từ đó làm nổi bật lòng nhân ái của trẻ thơ.

Câu 5. Từ câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra được bài học gì về tình bạn và sự sẻ chia? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

Bài học:

• Tình bạn đích thực được xây dựng trên sự thấu hiểu và nhường nhịn.

• Sự sẻ chia không chỉ là cho đi vật chất mà còn là sự hy sinh niềm vui cá nhân vì hạnh phúc của người khác.

• Trong những hoàn cảnh khó khăn, sự sẻ chia càng trở nên quý giá và có khả năng kết nối, làm ấm lòng con người hơn bất cứ thứ gì.

• Hạnh phúc thực sự không nằm ở việc sở hữu trọn vẹn, mà nằm ở niềm vui được nhìn thấy người bạn yêu quý của mình hạnh phúc.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. ANH BÉO VÀ ANH GẦY     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi....
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

ANH BÉO VÀ ANH GẦY

     Trên sân ga của tuyến đường sắt Ni-cô-lai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào va-li, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài − đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại − đó là con trai anh ta.

     − Pơ-phi-ri đấy à? − anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. − Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi!

     − Trời! − anh gầy sửng sốt. − Mi-sa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?

     Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.

     − Cậu ạ, − anh gầy bắt đầu nói sau khi hôn xong. − Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy... Đây, vợ mình đây, Lui-đa, nguyên họ là Van-xen-bắc, theo đạo Luy-te(1)... Còn đây là con trai mình, Na-pha-na-in, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây.

     Na-pha-na-in ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.

    − Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! − anh gầy nói tiếp − À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gê-rô-xtrát(2) vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là E-phi-an(3) vì mình hay mách. Hô... hô... Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Na-pha-na-in! Con lại gần bác chút nữa nào... Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Van-xen-bắc... theo đạo Luy-te...

    Na-pha-na-in suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.

    − Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? - anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. - Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?

   − Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay Xta-ni-xláp(4). Lương lậu chẳng đáng là bao... nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi... Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?

    − Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, − anh béo nói. − Mình là viên chức bậc ba rồi... có hai mề đay của Nhà nước.

    Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...

    − Dạ, bẩm quan trên, tôi... tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn... nghĩa là bạn... từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế. Hì hì hì.

    − Thôi, cậu đừng nói thế đi! - anh béo cau mặt. − Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ − việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế.

    − Dạ bẩm quan... Quan lớn dạy gì kia ạ... − anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn. − Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ... Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Na-pha-na-in... và vợ là Lui-đa, theo đạo Luy-te đấy ạ...

    Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.

    Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Na-pha-na-in kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống.

    Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.

(Sê-khốp, theo docsach24)

Chú thích:

(1) Đạo Luy-te: một trong những biến dạng của đạo Tin lành (cùng với đạo Thiên Chúa và Chính giáo là ba nhánh chính của Ki-tô giáo). Ra đời trong thế kỷ XVI, do những nỗ lực của Luy-te (1483-1546) và những tông đồ của ông ở nước Ðức.

(2) Gê-rô-xtrát: người Hy Lạp, năm 356 trước công nguyên đã đốt đền Ác-tê-mi-đa E-phe-xcai-a để tên mình trở thành bất tử.

(3) E-phi-an: (khoảng 500 đến 461 trước công nguyên) - nhà hoạt động chính trị của A-ten thời cổ. Năm 480 trước công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phen-nô-pin-xki. Toán dân binh Xpác-ta ở Hy Lạp cổ bảo vệ khe núi này, đã hy sinh một cách anh hùng.

(4) Mề đay Xta-ni-xláp: thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản. 

Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy.

Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?

Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản. 

45
16 tháng 9 2025

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.


Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:

“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”

Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.


Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.


Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo

  • Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
  • Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.

Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.

19 tháng 12 2025

Câu 1

Thể loại: truyện ngắn.

Câu 2

Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:

"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."

Câu 3.

Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.

Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Câu 4.

Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:

+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.

+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.

Cầu 5.


Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.       NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,     Cây đàn sum họp đứt từng dây.     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...     Có lần tôi thấy hai cô bé,     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.     Hai bóng chung lưng thành một bóng,     “− Đường về nhà chị...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

      NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA

     Những cuộc chia lìa khởi tự đây,
     Cây đàn sum họp đứt từng dây.
     Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc,
     Lần lượt theo nhau suốt tối ngày...

     Có lần tôi thấy hai cô bé,
     Sát má vào nhau khóc sụt sùi.
     Hai bóng chung lưng thành một bóng,
     “− Đường về nhà chị chắc xa xôi?”

     Có lần tôi thấy một người yêu,
     Tiễn một người yêu một buổi chiều,
     Ở một ga nào xa vắng lắm!
     Họ cầm tay họ, bóng xiêu xiêu.

     Hai chàng tôi thấy tiễn chân nhau,
     Kẻ ở sân toa, kẻ dưới tàu,
     Họ giục nhau về ba bốn bận,
     Bóng nhoà trong bóng tối từ lâu.

     Có lần tôi thấy vợ chồng ai,
     Thèn thẹn đưa nhau, bóng chạy dài,
     Chị mở khăn giầu, anh thắt lại:
     “− Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”

     Có lần tôi thấy một bà già,
     Đưa tiễn con đi trấn ải xa.
     Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng,
     Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.

     Có lần tôi thấy một người đi,
     Chẳng biết vì đâu, nghĩ ngợi gì!
     Chân bước hững hờ theo bóng lẻ,
     Một mình làm cả cuộc phân ly.

     Những chiếc khăn mầu thổn thức bay,
     Những bàn tay vẫy những bàn tay,
     Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt,
     Buồn ở đâu hơn ở chốn này?

                                  (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Xác định vần và kiểu vần được gieo trong khổ cuối của văn bản.

Câu 3. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng xuyên suốt bài thơ và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.

Câu 4. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.

Câu 5. Theo em, yếu tố tự sự được thể hiện trong bài thơ này như thế nào? Hãy phân tích tác dụng của yếu tố ấy trong việc thể hiện cảm xúc, tư tưởng của bài thơ.

45
15 tháng 12 2025

!!

20 tháng 12 2025

Câu 1:

Thể thơ: Thơ bảy chữ

Câu 2:

Vần: Vần "ay" (bay - tay).

Kiểu vần: Vần chân, vần liền.

Câu 3:


Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc "Có lần tôi thấy...".

• Tác dụng:

• Tạo nhịp điệu đều đặn, như những chuyến tàu nối đuôi nhau đến rồi đi.

• Nhấn mạnh sự quan sát tỉ mỉ và nỗi ám ảnh của tác giả trước những cảnh chia ly lặp đi lặp lại nơi sân ga.

• Góp phần khắc họa sâu đậm vẻ đẹp đượm buồn và sự đa dạng của các cung bậc cảm xúc trong lúc tiễn biệt.

Câu 4:


-Đề tài: Cảnh chia ly nơi sân ga.

-Chủ đề: Thể hiện nỗi buồn nhân thế, sự cảm thông sâu sắc của tác giả trước những bóng hình đơn chiếc và những cuộc phân ly đầy lưu luyến trong xã hội cũ.

Câu 5:


-Yếu tố tự sự: Được thể hiện qua việc kể lại các câu chuyện ngắn, những mảnh đời riêng biệt gặp gỡ rồi chia xa: hai cô bé khóc, cặp tình nhân chia tay, người vợ tiễn chồng, bà mẹ tiễn con đi lính....

- Tác dụng:

+ Giúp cảm xúc của bài thơ trở nên cụ thể, chân thực qua những hình ảnh sống động.

+ Yếu tố kể làm nền tảng để khơi gợi dòng cảm xúc xót xa, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước cảnh "biệt ly".

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.                     TƯƠNG TƯ     Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,Một người chín nhớ mười mong một người.     Gió mưa là bệnh của giời,Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.     Hai thôn chung lại một làng,Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?     Ngày qua ngày lại qua ngày,Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.     Bảo rằng...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

                    TƯƠNG TƯ

     Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
     Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
     Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
     Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
     Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
     Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...

     Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
     Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

     Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
     Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

                                           Hoàng Mai, 1939

                                 (Nguyễn Bính, theo thivien.net)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. 

Câu 2. Cụm từ "chín nhớ mười mong" diễn tả nỗi nhớ như thế nào? 

Câu 3. Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

Câu 4. Những dòng thơ Bao giờ bến mới gặp đò? / Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau? đem đến cho em cảm nhận gì?

Câu 5. Từ tâm trạng tương tư tha thiết trong bài thơ, em có suy nghĩ gì về giá trị của tình yêu trong cuộc sống? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 – 7 dòng)

63
14 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.


Câu 2.

Cụm từ “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ rất da diết, thường trực, tăng cấp, nhớ nhiều hơn mong, nhấn mạnh mức độ sâu nặng của tình cảm.


Câu 3.


  • Biện pháp tu từ: Nhân hoá (kết hợp ẩn dụ).
  • Tác dụng: Gán cho “thôn Đoài” cảm xúc của con người (“ngồi nhớ”), qua đó mượn cảnh để nói tình, làm nổi bật nỗi tương tư thầm kín, e ấp mà sâu sắc của nhân vật trữ tình.



Câu 4.

Hai dòng thơ gợi cảm giác mong chờ, khắc khoải và bế tắc. Hình ảnh “bến – đò”, “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ đẹp nhưng buồn, thể hiện ước mong được gặp gỡ, sum vầy mà vẫn còn xa vời.


Câu 5.

Bài thơ cho thấy tình yêu là một giá trị tinh thần đẹp đẽ, giúp con người sống có cảm xúc và biết rung động trước cuộc đời. Tình yêu chân thành khiến con người biết nhớ thương, chờ đợi và hi vọng. Dù có thể mang theo buồn đau, nhưng chính tình yêu làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và giàu chất nhân văn hơn.


14 tháng 12 2025

Câu 1.

Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát

Câu 2.

Cụm từ " chín nhớ mười mong " diễn tả một nỗi thương nhớ thương khắc khoải, da diết và sâu sắc.

Câu 3.

Biện pháp tu từ được sử dụng là hoán dụ: " thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ những nguowif sống trong thôn đó

Câu 4.

- Trong văn học giân gian, hình ảnh bến, hoa biểu trưng cho người con trai. Nguyễn Bính đã thổi vào những hình ảnh ấy chất lãng manj của thời đại.

- Hai dòng thơ này diễn tả sự vô vọng của nhân vật trũ tình trước mộng tưởng xa xôi về tình yêu.

Câu 5.

Giá trị của cuộc sống là:

- Tình yêu mang lại hạnh phúc, niềm vui và sự ấm áp cho cuộc sống.

- Là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách.

- Giúp con người biết quan tâm, chia sẻ và sống nhân ái hơn.

- Góp phần xây dựng những mỗi quan hệ gắn bó bền chặt, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XUÂN

Thế là tháng củ mật sắp hết, tháng mà mỗi ngày "chưa cười đã tối" vì mùa đông, mặt trời thích ẩn vào mây cho ấm sớm mà cũng vì cái Tết đang xình xịch đến sau lưng, tháng mà ai cũng phải vội vàng hối hả, tất bật như vội ra ga không thì con tàu mình đi sắp chuyển bánh khởi hành, mau lên kẻo lỡ chuyến tàu đời...

Người xa quê ơi, sao đến hôm nay sắp năm cùng tháng tận mà người mãi chưa về, còn mải mê vui thú đường xa hay đang ê chề nỗi gian lao vất vả không dám về quê vì vẫn chỉ bộ quần áo tàng tàng rung rúc, không được ai xênh xang xe, ngựa, có cành hoa giấy trang kim, có gói bánh cốm lá xanh lạt đỏ biếu cô dì chú bác, không có đồng tiền cho vợ may cái yếm mới đón xuân... nên người tủi phận, tự mình lần tránh thân mình, tự mình lừa hồn mình, khất lần ngày về nơi chôn rau cắt rốn.

Tết ơi, giá mỗi năm có mười cái Tết thì chắc con người phải bạc đầu từ trẻ, nhưng nếu mười năm mới có một Tết thì chắc hồn người cũng sẽ ủ ê không biết nhường nào [...].

Phiên chợ cuối năm đã họp kín người, xế chưa tan. Đắt hàng thế là chị bán hàng vàng hương, vàng hồ, vàng hoa, mũ ông Công, ông Táo, hương đen, hương vàng, hương trầm, hương sạ, hương sào, hương vòng, nến trắng, nến đỏ. Không hiếu sao ngồi cạnh chị ngay ngoài đầu chợ, bao giờ cũng có bà trầu vỏ kèm bên. Bà cụ đã móm, hình như bà ngôi đây đã mấy trăm cái Tết, nên chiếc vồ chặt vỏ, nguyên là cả khúc gỗ mít, gỗ nhãn đã xơ ra, tướp hết, thành cái chày thắt ngẵng, như sắp gãy ở quãng giữa ấy. Những thanh vỏ chay ngon lành thế, cô con gái biếu mẹ, vì lấy chồng xa, chị con dâu hiền thảo mua cho mẹ chồng ăn Tết, mỗi thanh còn vỏ au đỏ mỏng tang như làm bằng giấy bản nhuộm hồng, những thanh vỏ quạch, từng khúc nâu xỉn, như từng khúc lưng con rắn rừng nằm chờ thân phận được quyết định về với Tết nhà ai, nghèo khó nơi bìa làng, thiếu thốn nơi ngõ trại,...

[…] Ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được mặc tấm áo trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét, càng kéo cái Tết đến gần, như đã sờ thấy nó, nó đã vào đến làng, đến cổng rồi kìa... Hình như từ sâu thẳm tâm can, mỗi con người đều được cái Tết thúc gọi, cấy vào đấy chiếc mầm cây mới, gieo vào đấy cái hạt nở ra cây hi vọng. Bận rộn mà vui, hối hả vẫn tươi cười... để có niềm hạnh phúc chờ mong mơ ước. Đôi câu đối giấy hồng điều trên cột, đôi cây mía tím, mía voi làm gậy ông vải hai bên bàn thờ, tờ tranh ông Phúc, ông Lộc dán hai bên cánh cửa, con gà mắt trong veo, con lợn gặm cây khoai ráy, chị tốc váy hứng dừa, anh đánh ghen rúc rích thứ tranh Đông Hồ bán đầy chợ Tết, bày la liệt mặt đất,... cho đến tranh y môn, mâm bồng ngũ quả bán ngoài thành phố,... bức tranh lụa hay sơn dầu quý phái bạn họa sĩ tặng ta treo Tết,... chẳng là hi vọng cái mới sẽ sang đấy sao?

[...] Ta trở về những nẻo đường xuân ríu rít, càng nhận ra cần phải trở thành con người hữu ích ra sao, chí ít là cho bản thân bé nhỏ của ta không phải phiền nhiễu đến bao người khác, mong sao ông chánh án thất nghiệp, anh công an nhàn rồi mà rong xuân, bà thẩm phán cứ dắt con đi công viên, và cái tháng củ mật ngàn năm mịt mùng kia yên bình bất chấp mưa kim châm hay gió cắt thịt... Hàn những giây phút này đây, ông Táo trên trời đã trở về trái đất. Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,... Thành phố nơi ta ở, làng xa nơi mẹ ta chờ,... xuân đã sang ở cả hai nơi. Giờ này, những nẻo đường xuân, bao nhiêu con tàu đang hối hả đích tới, chở theo những trái tim hồi hộp, những cành hoa và những gói quà Tết, mứt sen hay rượu cúc, bánh cốm hay trà sen,... tàu cứ đi đi, mùa xuân còn dài, còn dài như đời ta, như đất nước, như vũ trụ...

(Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016, trang 40 - 47)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.

Câu 2. Thời điểm nào trong năm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả?

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về được miêu tả trong văn bản như thế nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: "Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...".

Câu 5. Nội dung chính của văn bản này là gì?

4
16 tháng 12 2025

Câu1 Thể loại: Tùy bút.

Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.

Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về

Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.

Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.

Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...

tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.

Câu 5.

Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân

Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau

17 tháng 12 2025

Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3.  Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như