Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Thúy Kiều
Trong đoạn trích, Thúy Kiều hiện lên là một người con gái tài sắc vẹn toàn, tình cảm sâu sắc nhưng phải chịu nhiều bi kịch trong cuộc đời. Nhân vật vừa thể hiện vẻ đẹp nghiêm trang, dịu dàng, vừa toát lên sự thông minh, nhạy cảm, đặc biệt là trong cách đối nhân xử thế và cảm nhận nỗi đau, niềm vui. Thúy Kiều còn là biểu tượng của sự hy sinh, lòng trung hiếu và tình yêu chân thành, khi sẵn sàng chịu đựng gian truân để bảo vệ gia đình, trọn nghĩa với người thân và tình yêu. Qua đó, nhân vật phản ánh bi kịch của thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phải đối mặt với những éo le, bất công, dù bản thân đầy phẩm chất tốt đẹp. Đồng thời, Thúy Kiều còn khơi gợi ở người đọc cảm xúc thương cảm và ngưỡng mộ, khiến bà trở thành hình tượng nhân vật trường tồn trong văn học Việt Nam. Nhân vật không chỉ là biểu tượng của sắc đẹp và tài năng, mà còn là tấm gương về nhân cách, đức hy sinh và lòng trung trinh, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến về lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay
Trong xã hội hiện đại, lí tưởng sống là mục tiêu, phương hướng giúp mỗi người định hình hành động và phát triển bản thân. Đối với thế hệ trẻ hôm nay, lí tưởng không chỉ là thành công về vật chất, mà còn là giá trị tinh thần, đóng góp cho cộng đồng và đất nước. Một thanh niên có lí tưởng sống đúng đắn sẽ biết học tập, rèn luyện, sáng tạo, lao động và tôn trọng đạo đức, đồng thời nuôi dưỡng những ước mơ cao đẹp, như: trở thành người có ích, đóng góp cho xã hội, bảo vệ môi trường, lan tỏa những giá trị tích cực.
Lí tưởng còn giúp thanh niên vững vàng trước cám dỗ, thử thách và khó khăn, không bị lạc hướng bởi những trào lưu tiêu cực. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, thế hệ trẻ cần biết kết hợp kiến thức, kỹ năng và lòng nhân ái để vừa phát triển bản thân, vừa xây dựng cộng đồng tốt đẹp. Nhiều tấm gương thanh niên tiêu biểu như Nguyễn Nhật Ánh, Trần Lập hay những bạn trẻ tham gia hoạt động thiện nguyện đã chứng minh rằng lí tưởng sống đúng đắn sẽ tạo ra những hành động đẹp, ý nghĩa.
Từ đó, có thể thấy rằng lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay không chỉ là sự trưởng thành cá nhân, mà còn là sứ mệnh xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái và tiến bộ. Mỗi thanh niên cần xác định mục tiêu, nuôi dưỡng đam mê và hành động tích cực mỗi ngày, để biến lí tưởng thành thực tế cuộc sống. Chính lí tưởng sống cao đẹp sẽ giúp thế hệ trẻ khẳng định bản thân, cống hiến và lan tỏa những giá trị tốt đẹp, góp phần làm cho xã hội ngày càng văn minh, nhân văn.
Câu 1.
Thúy Kiều trong đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du hiện lên là một con người thấu tình đạt lí nhưng mang số phận mong manh, đau khổ. Trước hết, Kiều là người sống đàng hoàng, có ý thức đạo đức rõ ràng. Nàng chủ động khuyên Thúc Sinh trở về nhà, khuyên chàng phải nói rõ sự thật với Hoạn Thư, không nên “giấu ngược giấu xuôi”. Điều đó cho thấy Kiều không muốn dựa vào sự dối trá để níu giữ tình cảm, dù bản thân đang chịu nhiều thiệt thòi trong thân phận làm lẽ. Bên cạnh đó, qua những lời dặn dò, Kiều bộc lộ khát vọng hạnh phúc nhỏ bé: mong có một địa vị rõ ràng, một tình yêu được thừa nhận. Tuy nhiên, khát vọng ấy lại mong manh và đầy bất trắc, bởi chính Kiều cũng dự cảm về “sóng gió” đang chờ phía trước. Cảnh chia tay thấm đẫm nỗi buồn với hình ảnh “vầng trăng ai xẻ làm đôi” đã khắc sâu nỗi cô đơn, đau đớn của nàng. Qua nhân vật Thúy Kiều, Nguyễn Du bày tỏ sự cảm thương sâu sắc đối với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Câu 2.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, lí tưởng sống luôn đóng vai trò quan trọng đối với thế hệ trẻ. Trong cuộc sống hôm nay – khi xã hội phát triển nhanh chóng, cơ hội và thách thức đan xen – việc xác định lí tưởng sống đúng đắn càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Lí tưởng của thế hệ trẻ là những giá trị, mục tiêu tốt đẹp mà người trẻ hướng tới để sống, học tập và cống hiến. Đó có thể là khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, sống có trách nhiệm với cộng đồng, hay không ngừng hoàn thiện nhân cách, trí tuệ của bản thân. Lí tưởng không phải là những điều xa vời, mà được thể hiện qua từng hành động cụ thể trong đời sống hằng ngày.
Trong thực tế, lí tưởng của thế hệ trẻ hôm nay có nhiều biểu hiện tích cực. Nhiều bạn trẻ nỗ lực học tập, rèn luyện kĩ năng, làm chủ khoa học – công nghệ để đóng góp cho xã hội. Không ít người tích cực tham gia hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường, hỗ trợ cộng đồng, thể hiện tinh thần trách nhiệm và lòng nhân ái. Bên cạnh đó, người trẻ ngày nay cũng mạnh dạn khẳng định bản thân, dám nghĩ, dám làm, dám theo đuổi ước mơ chính đáng của mình.
So với thế hệ trẻ trong quá khứ, lí tưởng của người trẻ hôm nay vừa có sự tiếp nối vừa có sự thay đổi. Nếu thế hệ trẻ trước đây sống và chiến đấu vì lí tưởng độc lập, tự do của dân tộc, thì thế hệ trẻ ngày nay tiếp nối tinh thần ấy bằng việc xây dựng và phát triển đất nước trong thời bình. Dù hoàn cảnh khác nhau, điểm gặp gỡ lớn nhất vẫn là khát vọng sống có ích và cống hiến cho xã hội.
Lí tưởng có vai trò vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ. Lí tưởng là động lực thôi thúc người trẻ vượt qua khó khăn, là ngọn đuốc soi đường giúp họ không lạc lối giữa những cám dỗ của đời sống hiện đại. Một người trẻ sống có lí tưởng sẽ biết trân trọng thời gian, sống có trách nhiệm và biết hướng đến những giá trị bền vững.
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận thanh niên sống thiếu lí tưởng, chạy theo hưởng thụ, sống thực dụng. Điều đó đặt ra yêu cầu mỗi người trẻ cần tự nhận thức và tự rèn luyện, đồng thời gia đình, nhà trường và xã hội cần có vai trò định hướng đúng đắn.
Tóm lại, việc xác định lí tưởng sống đúng đắn chính là nền tảng để thế hệ trẻ khẳng định giá trị bản thân và góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. Tuổi trẻ chỉ thực sự có ý nghĩa khi được sống, học tập và cống hiến vì những mục tiêu cao đẹp.
Văn học hiện đại Việt Nam có rất nhièu bài thơ viêt về Bác Hồ kính yêu, trong đó bài thơ Đêm nay Bác không ngủ của nhà thơ Minh Huệ đã gây xúc động cho bao người đọc. Bài thơ đã đọng lại cho tôi niềm kính yêu Bác vô hạn.
Hình tượng Bác Hồ trong bài văn thật thiêng liêng, cao cả. Bác lo cho việc nước việc quân. Bác không ngần ngại hy sinh gian khổ để trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Bác đã thức suốt đêm trầm ngâm, đăm chiêu, lặng lẽ,... trong lúc mọi người đang say giấc ngủ. Bác thức vì thương chiến sĩ trong khói lửa chiến tranh, thương đoàn dân công đang ngủ ngoài rừng ướt lạnh. Hình tượng Bác - hình tượng người cha của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam thật giàu lòng nhân ái. Bác xem từng chiến sĩ như những đứa con thân yêu của mình: Bác đốt lửa sưởi ấm cho anh chiến sĩ, Bác rón rén đi dém chăn cho từng người, từng người một. Bác đã đót ngọn lửa yêu thương từ nơi trái tim mình để truyền hơi ấm cho con cháu. Người lính nào cuãng được Bác chăm lo, chia phần yêu thương, một tình yêu thương đằm thắm, dịu dàng tựa như lòng mẹ đối với những đứa con thơ. Tình thương của Bác đã làm cho bao người hạnh phúc. Sự chăm chút của Bác đã làm anh đội viên mơ màng trong giây phút thần tiên, cảm xúc dâng lên dạt dào trong lòng, anh cảm thấy tự hào, sung sướng, thấy mình được truyền thêm tự tin sức mạnh để đi tới ngày mai. Người chiến sĩ cảm thấy Bác thật vĩ đại, tìh yêu thương của Bác thật bao la, sâu thẳm, Bác lo cho mọi người còn hơn Bác lo cho chính mình. Bác là một vị lãnh tụcua3 đất nước với bao nỗi lo toa, lại là tuổi đã cao nhưng Bác vẫn tham gia chiến dịch. Đáng lẽ Bác phải ngủ sớm để còn lo cho công việc ngày mai. Vậy mà Bác không ngủ, thức suốt đêm chăm sóc, lo lắng cho người khác.
Bác đã làm cho người chiếc sĩ xúc động
Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
Càng nhìn Bác, người chiến sĩ còn khám phá ở Bác bao điều kì diệu. Ánh lửa rừng Bác nhóm lên để sưởi ấm cho anh chiến sĩ đã sáng rực lên lòng nhân ái của Bác. Cử chỉ của
Bài 1
Bác thật gần gũi, thiêng liêng chẳng khác nào tình cha con ruột thịt. Tầm vóc lớn lao của lãnh tụ đã vượt ra ngoài trí tưởng tượng của anh chiến sĩ. Bác không chỉ lo cho những người chiến sĩ ở trong lều mà còn bồn chồn lo lắng cho đoàn dân công đang ở ngoài rừng ướt lạnh. Dù đã ba lần người đội viên thiết tha mời bác ngủ nhưng Bác vẫn thức . Bác còn động viên anh chiến sĩ
Chú cư việc ngủ ngon
Ngày mai đi đánh giặc
Việc làm cao đẹp của Bác đã làm cho an đội viên cảm phục. Hiểu được tấm lòng của Bác, anh tràn ngập niềm vui sướng. Anh muốn chia sẻ nỗi lo toan của Bác nên đã thức luôn cùng Bác.
Tình cảm của Bác đối với đồng bào và các anh chị chiến sĩ đã đạt lên tới đỉnh cao. Tình cảm ấy cũng được đáp lại bằng tình yêu. Người chiến sĩ xem Bác như người cha ruột thịt của mình. Đây là bức tranh hài hòa về tình yêu giữa lãnh tụ và quần chúng, giữa người chiến sĩ và lãnh tụ.
Hình tượng của Bác trong bài thơ Đêm nay Bác không ngủ ta tưởng chừng đó chỉ là một hình tượng văn học, nhưng nó lại là một hình tượng thật, một sự kiện có thật trong lịch sử. Hình tượng của Bác đã làm trái tim muôn triệu con người rung động. Tấm guơng đạo đức của Bác luôn soi sáng cho muôn đời, soi sáng cho bao thế hệ.
Nội dung chính: Đoạn 1: Nói về hình ảnh thông qua con cò, và các loài chim để thể hiện phẩm chất con người.
Đoạn 2: Nói về con trâu hình ảnh thân thuộc với con người Việt
Đoạn 3: Lời ru của người mẹ, hình ảnh quê mẹ
Tất cả 3 đoạn đề hướng tới 1 ý chính đó là hình ảnh thể hiện qua các câu ca dao, tục ngữ thông qua hình ảnh đó ta thấy được nét đẹp bên trong từng câu nói.
a. Ngôn ngữ nói trong đoạn trích văn bản Vợ nhặt – Kim Lân: leo lẻo cái mồm, ăn miếng giầu đã, hở, đấy…
- Ngôn ngữ nói ở đây xuất hiện trong tình huống giao tiếp cụ thể: trong buổi gặp lại thị lần thứ hai.
+ Tiếp xúc trực tiếp.
+ Nhân vật giao tiếp trực tiếp, phản hồi tức khắc, có sự đổi vai (thị và Tràng).
- Phương tiện ngôn ngữ: âm thanh
- Phương tiện hỗ trợ: ngữ điệu, nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ: cong cớn trước mặt hắn, thị đon đả….
- Hệ thống các yếu tố ngôn ngữ: Từ ngữ, câu (khẩu ngữ, từ ngữ địa phương, biệt ngữ).
b. Ngôn ngữ nói trong đoạn trích văn bản Chí Phèo – Nam Cao: đứng ỳ ra, đấy thôi, biết chừng, con ngóe đâu…
- Ngôn ngữ nói ở đây xuất hiện trong tình huống giao tiếp cụ thể: Chí Phèo đến nhà bá Kiến rạch mặt ăn vạ
+ Tiếp xúc trực tiếp.
+ Nhân vật giao tiếp trực tiếp, phản hồi tức khắc, có sự đổi vai (Chí Phèo và bá Kiến).
- Phương tiện ngôn ngữ: âm thanh
- Phương tiện hỗ trợ: ngữ điệu, nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ: rên lên, đang xưng xỉa chực tâng công…
- Hệ thống các yếu tố ngôn ngữ: Từ ngữ, câu (khẩu ngữ, từ ngữ địa phương, biệt ngữ).
Suy nghĩ về tình bạn của học sinh thời nay.
- Ở câu này, giám khảo chấm điểm linh hoạt. Chỉ cho điểm tối đa khi học sinh viết thành một đoạn văn hoàn chỉnh; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
- Học sinh trình bày suy nghĩ của mình với thái độ chân thành, nghiêm túc, có thể theo định hướng sau:
+ Quan niệm về tình bạn, biết phân biệt các biểu hiện tốt và chưa tốt trong tình cảm bạn bè ở tuổi học sinh...
+ Thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa của tình bạn...
+ Bản thân phải làm gì để có tình bạn đẹp, có những người bạn tốt ...
Trong câu nói của bác Siêu:
- Nghĩa sự việc do các thành phần chính biểu hiện “họ không phải đi gọi”
- Nghĩa tình thái biểu hiện: Từ “đâu” thể hiện ý phân trần, bác bỏ ý nghĩa mong muốn của chị Tí rằng họ sẽ ở trong huyện ra
+ Từ “dễ” thể hiện sự phỏng đoán chưa chắc chắn về sự việc (tương đương với từ có lẽ, hẳn là, chắc hẳn”)