Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: có mấy cách khởi động phần mềm Microsoft Word? Đó là những cách nào
Có 3 cách.
Cách 1: Nháy đúp chuột tại biểu tượng w trên màn hình Desktop.
Cách 2: Start \ All programs \ Microsoft Ofice \ Microsoft Word 2010.
Cách 3: Start, chọn hộp tìm kiếm, nhập chuỗi winword, nhấn Enter.
Câu 2: so sánh sự khác nhau giữa soạn thảo văn bản truyền thống và soạn thảo văn bản bằng máy tính ?
Soạn thảo văn bản bằng máy tính
+) Không tốn công sức
+) Không có nhiều lỗi sai
+) Thuận tiện khi làm việc
+) Có thể thay đổi hình ảnh,phông chữ,kiểu chữ tùy theo ý thích.
- VD: Một trận đấu bóng đá trên tivi; Đèn tín hiệu; Truyện tranh;...
- Máy tính điện tử (hay máy tính). VD:
+ Làm tính nhanh và chính xác.
+ Làm việc không cần nghỉ ngơi.
+ Lưu trữ được lượng thông tin rất lớn và tìm kiếm thông tin rất nhanh.
+ Truyền thông tin qua khoảng cách xa trong thời gian ngắn.
...
a. Khái niệm
Định dạng đoạn văn bản là làm thay đổi các tính chất sau đây của đoạn văn bản:
Kiểu căn lề
Vị trí của cả đoạn văn so với toàn trang văn bản
Khoảng cách lề của dòng đầu tiên
Khoảng cách đến đoạn văn trên hoặc dưới
Khoảng cách giữa các dòng trong đoạn văn
b. Các dạng căn lề đoạn văn
Căn thẳng lề trái
Căn thẳng lề phải Căn thẳng cả hai lề
Căn giữa Thụt lề dòng đầu tiên
Cả đoạn văn thụt lề
Câu 1:
-Điều khiển phần cứng và tổ chức thực hiện các chương trình máy tính
-Cung cấp giao diện cho người dùng.Giao diện là môi trường giao tiếp cho phép con người trao đổi thông tin với máy tính trong quá trình làm việc
Câu 2: Tập tin (File) là tập hợp các thông tin có liên quan với nhau được lưu trữ trên bộ nhớ ngoài.
Cách đặt tên luôn phải tuân thủ những nguyên tắc sau:
- Không bao giờ dùng dấu tiếng Việt (vì có thể gây lỗi kí tự, lỗi khi email, lỗi khi tìm kiếm)
- Không dùng khoảng cách giữa các chữ (vì có thể bị lỗi khi mở bằng một số app nhất định)
- Tên phải dễ hiểu, dễ nhớ, nói về nội dung chính của file
- Có thể đính kèm thêm mốc thời gian, địa điểm
1/Nhiệm vụ chính của hệ điều hành là :
-Điều khiển phần cứng và tổ chức thực hiện các chương trình máy tính
-Cung cấp giao diện cho người dùng
-Tổ chức và quản lí thông tin trong máy tính
2/Tệp tin là đơn vị cơ bản để lưu trữ thông in trên thiết bị lưu trữ.Tên tệp gồm phần tên và phần mở rộng được đặt cách nhau bởi dấu chấm.Ý nghĩa:Tên tệp dùng để phân biệt giữa tệp tin này với các tệp tin khác để khỏi bị lẫn lộn
3/Thư mục là phương thức tổ chức cất giữ các tệp tin có nội dung liên quan với nhau
4/Đường dẫn là dãy tên các thư mục trùng nhau đặt cách nhau bởi dấu \ bắt đầu từ 1 thư mục xuất phát nào đó và kết thúc bằng 1 thư mục hoặc tệp tin để chỉ ra đường tới thư mục hoặc tệp tin đó
-VD:C:\sach\khtn\sach_toan\lop6
5/Tệp hình ảnh:hình vẽ ,tranh ảnh,video
-Tệp văn bản :sách,tài liệu ,thư từ
-Tệp âm thanh:bản nhạc bài hát
- Tệp chương trình:phần mềm học tập
6/Thanh tiêu đề
- Thanh bảng chọn ( menu) : chứa các bảng chọn File, Edit,
- Thanh công cụ : chứa các nút lệnh
- Các thanh cuốn ( dọc, ngang )
- Vùng soạn thảo
- Con trỏ soạn thảo
Các thành phần cơ bản của văn bản là:
a, Kí tự : Là con chữ, số, kí hiệu...
b, Dòng : Là tập hợp các kí tự nằm trên cùng 1 đường ngang, từ lề trái sang lề phải.
c, Đoạn : Nhiều câu liên tiếp có liên quan với nhau, hoàn chỉnh về mặ ngữ, nghĩa tạo thành 1 đoạn văn bản. Kết thúc bằng phím Enter.
d, Trang: phần văn bản trên một trang in được gọi là trang văn bản.
OpenOffice,Kingsoft Office Suite Professional,Microsoft Office 2010, Microsoft Office 2013
Olm chào em, với dạng này em chỉ cần làm lần lượt từng câu một, sau đó nhấn vào kiểm tra. Em cứ làm lần lượt như vậy cho đến khi hết câu của bài kiểm tra tức là em đã hoàn thành bài kiểm tra rồi em nhé. Cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm.
hay bn gửi nhầm box rồi nha
có thể đăng lại vào box văn ,mn sẽ giúp đỡ bn !
ý chết, ko lẽ lại đánh lại =.=''
ak ko lộn sr
Câu 1:
Luận điểm:
Là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn được nêu ra dưới hình thức câu khẳng định hay phủ định, thường có các từ là, có, không thể, chẳng hạn…được diễn đạt dễ hiểu, sáng tỏ và nhất quán.
Luận điểm là linh hồn của bài viết, nó thống nhất các đoạn văn thành một khối. Để có sức thuyết phục, luận điểm cần phải đúng đắn, chân thực và đáp ứng nhu cầu thực tế.
Trong một bài văn nghị luận, luận điểm có thể có các cấp độ khác nhau. Tùy nội dung vấn đề và cách lập luận của người viết mà bài văn có thể có một luận điểm chính, luận điểm trung tâm và các luận điểm phụ. Việc xác định được hệ thống, các cấp độ của luận điểm trong văn bản là một yêu cầu cấp thiết chứng tỏ khả năng thâu tóm, hiểu sâu vấn đề à kỹ năng tư duy logic của người đọc.
Luận cứ:
Luận cứ cũng là một yếu tố không thể thiếu khi nhắc tới đặc điểm của văn nghị luận.
Luận cứ là những lí lẽ, dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm.
Để bài viết có sức thuyết phục cao, người viết phải đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng để người đọc tin vào vấn đề người viết nêu ra.
Lí lẽ là những đạo lí, lí lẽ phải được thừa nhận, nêu ra là được đồng tình. Dẫn chứng là sự vật, sự việc, nhân chứng, bằng chứng để chứng minh làm sáng tỏ, xác nhận cho luận điểm.
Dẫn chứng đưa ra phải xác thực, tiêu biểu, đáng tin và không thể bác bỏ. Lí lẽ và dẫn chứng phải đáng tin cậy mới làm cho luận cứ vững chắc.
Luận cứ phải chân thực, đúng đắn, tiêu biểu mới làm cho luận điểm có sức thuyết phục.
Trong quá trình tìm hiểu văn bản nghị luận, để tìm hiểu, phân tích đánh giá được tính đúng đắn của luận điểm thì việc phân tích luận cứ là một thao tác hết sức quan trọng và cần thiết.
Lập luận:
Nếu như lí lẽ của bài văn nghị luận thể hiện ở hệ thống luận điểm thì lập luận là cách thức trình bày lí lẽ. Nên đặc điểm của văn nghị luận là Lập luận
Lập luận: là cách tổ chức vận dụng lí lẽ, dẫn chứng sao cho luận điểm được nổi bật và có sức thuyết phục. Lập luận bao gồm các cách suy lý, quy nạp, diễn dịch, so sánh, phân tích, tổng hợp sao cho luận điểm đưa ra là hợp lý, không thể bác bỏ. Lập luận có ở khắp trong bài văn nghị luận.
Để đánh giá cái hay, sức thuyết phục của văn bản nghị luận cần phải phân tích, đánh giá, chứng minh được mức độ chặt chẽ sắc bén của lập luận và sự hợp lí của cách thức lập luận mà tác giả lựa chọn.
Nghệ thuật lập luận phụ thuộc rất nhiều vào cách nêu vấn đề, cách dẫn dắt người đọc, người nghe với nhiều thủ pháp như so sánh, đối chiếu, đưa số liệu, nêu dẫn chứng thực tế…
Nghệ thuật lập luận còn phụ thuộc vào cách hành văn, giọng văn, cách dùng từ, đặt câu. Do nhu cầu lập luận, trong văn nghị luận thường phải dùng đến những từ như: tuy nhiên, giả sử, nếu như, tóm lại, nói chung…gọi là hệ thống từ lập luận
Để viết được một bài văn nghị luận hay là rất khó, vì tạo nên một bài văn nghị luận cần nhiều yếu tố khác nhau. Luận điểm, luận cứ và lập luận đều là những yếu tố không thể thiếu khi nói tới đặc điểm của văn nghị luận, quyết định hàng đầu đến chất lượng bài văn. Thiếu các yếu tố này không thể tạo nên một bài văn nghị luận đích thực. Hy vọng bài viết đem đến cho các bạn những thông tin hữu ích về đặc điểm của văn bản nghị luận.
Câu 1: Cho biết luận điểm, luận cứ và cách lập luận trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta ( Hồ Chí Minh). Nhận xét về sức mạnh thuyết phục của bài văn ấy.
Luận điểm : “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta”
Những luận điểm được đưa ra:
• Tinh thần yêu nước trong lịch sử các triều đại.
• Tinh thần yêu nước trong kháng chiến chống Pháp.
> Các dẫn chứng trên được đưa ra theo trình tự thời gian (quá khứ – hiện tại), không gian (miền ngược – miền xuôi, trong nước – nước ngoài), …
Lập luận :
Bố cục chặt chẽ.
• Dẫn chứng chọn lọc, trình bày theo trình tự thời gian, dẫn chứng giàu sức thuyết phục.
• Cách diễn đạt trong sáng, hình ảnh so sánh độc đáo.
Luận cứ:
- Dân ta có một --> Truyền thống quý báu --> cứ mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng... lũ cướp nước
- Lịch sử ta có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại --> Bà Trưng, Bà Triệu,...--> chúng ta phải ghi nhớ
- Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng--> từ...đến...-->đều giống nhau nơi lòng yêu nước
- Bổn phận của chúng ta--> giải thích, tuyên truyền, tổ chức lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước...kháng chiến
Câu 1 :
NX : Bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta là đoạn trích trong văn kiện Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại Đại hội lần thứ II của Đản lao động Việt Nam họp tại Việt Bắc tháng 2 năm 1951, trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.
Qua đoạn trích này, tác giả khẳng định lòng yêu nước là một truyên thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Lòng yêu nước đó được thể hiện rõ ràng và rực rỡ nhất trong những cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. Đoạn trích cũng phản ánh thái độ trân trọng, tự hào của tác giả trước truyên thống ấy.
Phần mở bài nêu lên vấn đề được đưa ra nghị luận : Dân ta có lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta… nó nhấn chìm tát cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Trong cuộc sống chiến đấu và xây dựng, biểu hiện của lòng yêu nước rất phong phú và đa dạng. Ở bài viết này, tác giả nhấn mạnh đến lòng yêu nước trong các cuộc kháng chiến chống xâm lăng bởi nó bởi nó được bộc lộ mạnh mẽ nhất, cụ thể nhất. Đặc điểm lịch sử của đất nước ta là luôn phải đương đầu với giặc nên rất cần lòng yêu nước và tinh thần xả thân vì nước. Trên thực tê, cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra quyết liệt, đòi hỏi phải phát huy cao độ tinh thần thi đua yêu nước của toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiệt liệt biểu dương những gương sáng về lòng yêu nước.
Để khẳng định sức mạnh vĩ đại của lòng yêu nước, tác giả đã mượn một hình ảnh hoành tráng có tính chất tượng trưng để so sánh : … lòng yêu nước kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mội sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Lòng yêu nước được nhắc lại nhiều lần (bằng đại từ thay thế nó), kết hợp các động từ có khả năng gợi cảm lớn như : kết thành, lướt qua, nhấn chìm… làm nổi bật sức mạnh không gì ngăn cản nổi của lòng yêu nước. Âm hưởng hào hùng của câu văn làm rung động trái tim muôn người. Cảm xúc sôi nổi, nhiệt thành, khâm phục và rất đỗi tự hào của Chủ tịch Hồ Chí Minh bộc lộ rõ trong từng câu từng chữ.
Ở phần thân bài, để chứng minh cho nhận định trên,tác giả đã đưa ra những chứng cứ hùng hồn trong lịch sử giữ nước và trong thực tế cuộc kháng chiến chống Pháp để chứng minh.Đó là những tấm gương yêu nước sáng soi muôn đời của các vị anh hùng dân tộc nổi tiếng:
Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta.Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng,Bà Triệu,Trần Hưng Đạo,Quang Trung,Lê Lợi… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc,vì các vị ấy là tiêu biều của một dân tộc anh hùng.
Bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước cùa dân tộc ta là bốn ngàn năm kế thừa và phát huy liên tục truyền thống yêu nước.Lòng yêu nước như một mạch ngầm thiêng liêng không bao giờ cạn trong dòng máu mỗi người dân tộc Việt.Giờ đây,nó được biểu hiện thành những hành động thiết thực.
Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước.Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ,từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vù tạm chiến,từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi,ai cũng một lòng mồng nàn yêu nước ghét giặc.Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc,đến những công chức ở địa phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội,từ những phụ nữ khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải,cho đến các bà mẹ chiến sĩ và nhân dân thi đua tăng gia sản xuất,không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến,cho đến những đồng bào miền chủ quyên đồng bảo bào cho chính phủ,… Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi làm việc nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước.
Trong đoạn cuối văn bản tác giả đã sử dụng nghệ thuật so sánh đặc sắc để cụ thể hóa khái niệm trừu tượng,giúp người đọc người nghe hiểu được một cách dễ dàng:
Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý được trưng bày trong tủ kính,trong bình pha lê,rõ ràng dễ thấy.Nhưng cũng có khi cất giấu kính đáo trong rương trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày.Nghĩa ra là phải ra sức giải thích tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công cuộc yêu nước,công việc kháng chiến.
Bác đã phân tích rõ hai trạng thái của tinh thần yêu nước là tiềm tàng.kín đáo và sôi nổi mãnh liệt.
Bằng nghệ thuật lập luận chặt chẽ,bố cục rõ ràng và hệ thống dẫn chứng chân thực,bài văn có sức thuyết phục rất lớn.Nhiều thủ pháp nghệ thuật tác giả sử dụng nhưng so sáng,liệt kê,lập cấu trúc và hàng loạt động từ có khả năng gợi cảm cao… Làm cho câu văn trở nên nhịp nhàng,cân đối,khỏe khoắn.Do vậy mà âm hưởng bài văn hào hùng như âm hưởng của một lời hịch kêu gọi,khích lệ toàn dân đoàn kết một lòng đánh đuổi xâm lăng bảo vệ chủ quyền độc lập thiêng liêng cuả Tổ quốc.
Bài văn đã thổi bùng ngọn lửa yêu nước trong lòng mỗi người dân.Truyền thống anh dũng,bất khuất là cơ sở vững chắc bảo đảm cho cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi cuối cùng.Ngày nay,bài văn trên vẫn còn nóng bỏng tính thời sự,có tác dụng động viên nhân dân Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng và bảo vệ đất nước thân yêu.
BẠN CÓ THỂ LỌC RA NHỮNG SỐ ĐOẠN NHA! MK CHÉP TỪ GIÁO ÁN RA NÊN CŨNG KO BT LỌC THẾ NÀO CHO HAY NÊN MÌNH CHÉP HẾT VÀO
HƠI DÀI THÔNG CẢM NHA BẠN !
Câu 2: Nê các bước lập ý cho bài văn nghị luận.
-Muốn lập dàn ý bài văn nghị luận, cần nắm chắc yêu cầu của đề bài, từ đó tiến hành các bước: tìm hệ thống luận điểm, luận cứ; sắp xếp, triển khai hệ thống ý đó theo một trật tự hợp lí, có trọng tâm.
-Dàn ý của một bài văn nghị luận cũng được triển khai thành ba phần:
+ Mở bài: Giới thiệu và định hướng triển khai vấn đề.
+ Thân bài: Triển khai lần lượt các luận điểm, luận cứ.
+ Kết bài: Nhấn mạnh ý nghĩa hoặc mở rộng vấn đề.
Câu 3: Tìm hiểu đề và lập ý cho đề bài: Chớ nên tự phụ.
Tìm hiểu đề văn chớ nên tự phụ:
Để làm một bài văn nghị luận cần xác định đúng vấn đề, phạm vi, tính chất của bài văn nghị luận để không làm sai đề
Bài làm:
1. Xác định luận điểm:
Cho đề bài: Chớ nên tự phụ.
Em tán thành ý kiến tự phụ là một thói xấu của con người. Chúng ta không nên tự phụ mà nên khiêm tốn, thật thà, tạo nên cái đẹp cho nhân cách con người.
Những luận điểm phụ tương đồng:
2. Tìm luận cứ:
Tự phụ tức là tự đánh giá quá cao tài năng thành tích của mình, do đó coi thường mọi người, kể cả người trên mình.
Người ta khuyên chớ nên tự phụ bởi làm như vậy:
Tự phụ có hại:
Tự phụ có hại cho:
Các dẫn chứng:
3. Xây dựng lập luận:
Nên bắt đầu tự việc định nghĩatự phụ là gì. Tiếp đó làm nổi bật một số nét tích cách cơ bản của kẻ tự phụ. Sau đó mới nói tác hại của nó.
ok bạn,thanks