K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Trạng nguyên (chữ Hán: 狀元) là danh hiệu thuộc học vị Tiến sĩ của người đỗ cao nhất trong các khoa đình thời phong kiến ở Việt Nam của các triều nhà Lý, Trần, Lê, và Mạc, kể từ khi có danh hiệu Tam khôi dành cho 3 vị trí đầu tiên. Người đỗ Trạng nguyên nói riêng và đỗ tiến sĩ nói chung phải vượt qua 3 kỳ thi: thi hương, thi hội và thi đình.

Khoa thi đầu tiên được mở ra dưới thời Lý năm 1075, lúc đó vua nhà Lý chưa đặt ra định chế tam khôi nên người đỗ đầu khoa thi này là Lê Văn Thịnh chưa được gọi là Trạng nguyên. Danh sách cụ thể những người đỗ đầu các kỳ thi này xem bài Thủ khoa Đại Việt. Phải đến khoa thi năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 đời vua Trần Thái Tông (1247) mới đặt ra định chế tam khôi (3 vị trí đỗ đầu có tên gọi thứ tự là: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) thì mới có danh hiệu Trạng nguyên. Đến thời nhà Nguyễn thì không lấy danh hiệu Trạng nguyên nữa (danh hiệu cao nhất dưới thời nhà Nguyễn là Đình nguyên). Do đó Trạng nguyên cuối cùng là Trịnh Tuệ đỗ khoa Bính Thìn (1736) thời Lê-Trịnh.

30 tháng 9 2021

từ năm  1075 tơi năm 1919

lấy đỗ gần 3000 người  và có 185 khoa thi nha

30 tháng 9 2021

Trả lời :

Chế độ khoa cử ngày xưa là trụ cột xây nên lâu đài văn hoá và văn minh quốc gia, nó cũng là một mặt biểu hiện của tiến bộ xã hội. Khoa cử là đường công danh của con người trong xã hội phong kiến. Mỗi triều đại có các hình thức và chế độ đãi ngộ khác nhau, nhưng tựu trung lại là muốn phát hiện và thu nạp nhân tài phục vụ đất nước. Chế độ khoa cử đầu tiên của Việt Nam được tiến hành dưới triều vua Lý Nhân Tông, năm Ất mão (1075) và cáo chung vào năm Kỷ mùi (1919) dưới triều vua Khải Định nhà Nguyễn. Trong gần ngàn năm tồn tại và cải biến, chế độ khoa cử Việt Nam đã tuyển trạch được hàng vạn nhân tài cho đất nước. Phần nhiều trong số họ đã làm rạng danh non nước Việt Nam. Họ trở thành niềm tự hào dân tộc - Bia đá bảng vàng- và là những tấm gương sáng chói để hậu thế noi theo như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền, Nguyễn Trãi, Lê Văn Hưu, Lương Thế Vinh, Lê Quý Đôn...

Triều Lý đã tổ chức được 6 khoa thi; triều Trần được 14 khoa; triều Hồ được 2 khoa; triều Lê được 28 khoa, dưới triều Lê Trung Hưng hay Lê - Trịnh tổ chức thêm được 73 khoa; triều Mạc 22 khoa và triều Nguyễn tổ chức được 39 khoa. Vậy, trong suốt lịch sử khoa cử nước ta có tổng cộng là 184 khoa thi.

Dưới triều Lý, mỗi khoa thi cách nhau 12 năm, sau đó rút xuống còn 7 năm. Đến đời vua Lê Thái Tông thì 6 năm mở một khoa. Năm Quang Thuận thứ bảy (1466) triều Lê Thánh Tông thì khoảng cách giữa các khoa thi là 3 năm, và khoảng cách này được duy trì cho đến khoa thi cuối cùng ở nước ta. Thông thường thì khoa thi được tổ chức ở những năm cố định. Tuy nhiên, lịch sử Việt Nam vốn không phẳng lặng cho nên nhiều khi khoa thi không được tổ chức đúng vào hạn kỳ của nó, hoặc giả, do nhu cầu cần tài năng phục vụ nước nhà, nhà vua có thể cho tổ chức khoa thi sớm hơn thời gia đã định - đó gọi là Ân khoa.

Khoa cử dưới các triều đại phong kiến được tổ chức rất nghiêm túc và chia làm ba kỳ thi là thi Hương, thi Hội và thi Đình. Danh hiệu của các tân khoa đỗ đạt cũng khác nhau giữa các triều đại. Thi Hương có nhiều trường thi, mỗi tỉnh có khả năng thì được mở một trường thi, nhưng phổ biến là nhiều tỉnh lân cận cùng khu vực gộp lại thành một trường. Các trường thi này cũng khác nhau giữa các thời kỳ, các triều đại. Thi Hội và thi Đình thì được tổ chức tập trung ở kinh đô.

Thí sính đỗ đạt trong kỳ thi Hương được chia làm hai loại (lấy người đỗ từ trên xuống dưới theo danh sách chấm thi):

- Tốp đầu bảng (số lượng lấy đỗ bao nhiêu do nhà vua quy định và khác nhau ở từng khoa thi, thường là khoảng 50 người cho một trường thi) có danh hiệu là Cống sĩ hoặc Hương cống, đến đời Minh Mệnh triều Nguyễn thì đổi thành Cử nhân [chúng tôi gọi chung là Cử nhân], và những người này được phép thi Hội. Người đỗ đầu trong kỳ thi Hương (đứng đầu bảng) được tuyên dương danh hiệu Giải nguyên (Cử nhân đệ nhất cấp).

- Tốp sau đó gọi là Sinh đồ, đến đời Minh Mệnh triều Nguyễn thì đổi thành Tú tài [chúng tôi gọi chung là Tú tài], những người đỗ tốp này không được đi thi Hội. Họ có thể dự các khoa thi Hương sau đó để cải thiện vị trí, nếu được lên tốp đầu bảng và đạt danh hiệu Cử nhân họ sẽ được thi Hội. Được thị Hội thì đường công danh mới thực sự mở đối với kẻ sĩ khoa trường.

  Con đường khoa cử của một người không hề đơn giản, có thể nói đó là sự nghiệp của cả một đời người. Khi lên 6 hoặc 7 tuổi thì được đi học, chương trình học của lứa tuổi này gồm: Sơ học vấn văn, Tam tự kinh, Tứ tự kinh và Ngũ ngôn để người học làm quen với chữ Hán; tập làm câu đối 2 chữ, 4 chữ; biết phân biệt vần trắc, vần bằng. Khoảng 10 tuổi thì đước huấn đạo kỹ lưỡng hơn - Tiên học lễ, hậu học văn - chương trình học gồm: Tứ thư, Ngũ kinh, Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Trung Quốc; tập là câu đối 5 chữ, 7 chữ; tập làm thơ phú... Và họ phải tự chui rèn chữ nghĩa, văn phong của mình, tự nâng cao kiến thức của mình qua sách vỡ trong suốt cuộc đời.

Người đi thi Hương không giới hạn về độ tuổi, nhưng phải dự kỳ thi Tiền ích được tổ chức trước đó khoảng một năm nhằm kiểm tra trình độ. Trước khoa thi Hương 4 tháng lại sát hạch một lần nữa, lần này quy mô khá giống với thi Hương cho sĩ tử làm quen và ‘cấp giấy phép’ dự thi. Học tài thi phận, trong hàng nghìn sĩ tử lều chõng đi thi mà lấy đỗ có vài mươi người, nên kẻ khóc người cười sau mỗi khoa thi là chuyện thường. Khi đến dự thi Hương sĩ tử phải mang theo lều chõng, phải đến trường thi từ tờ mờ sáng để nghe xướng danh (gọi tên), đến tên mình thì tiến lên nhận quyển (giấy bút) rồi vào trường dựng lều. Khi nhận được đề thi thì sĩ tử bắt đầu làm bài, thời gian làm bài là cả ngày, làm bài xong trước có thể nộp quyển và dở lều về, chờ kì thi tiếp theo. Dĩ nhiên là muốn dự kỳ thi tiếp theo sĩ tử phải đậu trong kỳ thi trước đó. Và cảnh tượng chen nhau xem kết quả thi cũng là một cảnh tượng náo nhiệt, đáng nhớ trong đời sĩ tử. Chúng ta có thể tìm hiểu cảnh tượng thi cử, nhất là khoa thi Hương trong tác phẩm Lều chõng của nhà văn Ngô Tất Tố.

Phép thi Hương được quy định chặt chẽ từ đời vua Lê Thánh Tông gồm bốn kỳ. Người đỗ kỳ thi thứ nhất mới được dự kỳ thi thứ hai, người đỗ kỳ thi thứ hai được gọi là Tú kép và được dự kỳ thi thứ ba, Người đỗ kỳ thi thứ ba được gọi là Tú Mền và được dự kỳ thi thứ tư. Kỳ thi thứ tư là kỳ thi cuối cùng trong thi Hương nhằm phân định hạng: danh hiệu Cử nhân cho tốp đầu bảng, Tú tài cho tốp kế đó, còn lài là Tú mền cả vì đã đỗ kỳ thi thứ ba trước đó. Mỗi một kỳ thi cách nhau 7 - 10 ngày, nên mỗi khoa thi Hương kéo dài khoảng 45 ngày. Nội dung ở mỗi kỳ thi được quy định chặt chẽ như sau:

Kỳ 1: Bài thi gồm 5 đề về Tứ thư và Ngũ kinh.

Kỳ 2: Bài thi gồm chiếu, chế, biểu được viết theo lối cổ thể.

Kỳ 3: Làm một bài thơ Đường luật, một bài phú theo lối cổ thể trên 300 chữ.

Kỳ 4: Làm một bài văn, gọi là văn sách, đề tài là các ý tưởng được rút ra từ kinh sách, là ý thức giúp đời, giúp nước... Một bài văn sách trong khoa thi Hương phải viết trên 1000 chữ.

Khoa thi Hương được tổ chức nghiêm túc không chỉ quy định điều kiện dự thi, nội dung thi, mà công tác tổ chức, chấm thi cũng cực kỳ nghiêm túc. Triều đình cắt cử các quan cho một trường thi bao gồm: 1 chánh chủ khảo, 1 phó chánh chủ khảo, 1 tri cống tử, 2 viên chánh phó đề điệu, 2 viên giám đằng lục và quan giám thí để giữ trật tự trường thi.

~ HT ~

30 tháng 9 2021

Tổ chức vào năm 1442 và khoa thi cuối cùng tổ chức vào năm 1779

Lấy đỗ gần 3000 tiến sĩ

Tổng cộng 185 khoa thi

#chucbanhoctotnha

30 tháng 9 2021

cảm ơn các bạn nha !

16 tháng 10 2021

185 khoa thi

17 tháng 10 2021

185 SGK TV 5 TRANG 15 16

18 tháng 2 2022

3.dãy Bạch Mã

4.Miền Nam có 2 mùa,miền Bắc có 4 mùa

20 tháng 10 2021

Tháng 8 năm 1858

HT

22 tháng 12 2021

lên gu gồ tìm í

23 tháng 12 2021

ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ LỚP 5.

Câu 1: Triều đình nhà Nguyễn kí hòa ước, nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kì cho thực dân Pháp vào năm nào?

A: Khi Pháp vừa đánh Gia Định                                             B: 1863

C: Khi Trương Định chiêu mộ nghĩa binh đánh Pháp.           D: 1862

Câu 2: Phong trào kháng chiến chống Pháp lớn nhất ở Nam Kì khi Pháp xâm lược nước ta do ai lãnh đạo?

A. Nguyễn Trung Trực                         B. Trương Định

C. Nguyễn Hữu Huân                           D. Hồ Xuân Nghiệp

Câu 3: Đứng trước sự phát triển khoa học kĩ thuật của Châu Âu và tư tưởng bảo thủ của triều đình nhà Nguyễn, ai là người có chủ trương đổi mới đất nước?

A. Nguyễn Lộ Trạch                             B. Phạm Phú Thứ.

C. Nguyễn Trường Tộ.                          D. Cả A, B, C đều đúng.

Câu 4: Thông qua bản điều trần, Nguyễn Trường Tộ mong muốn điều gì cho đất nước?

A. Muốn nhân dân thoát khỏi cảnh nghèo đói.

B. Muốn đất nước cải cách, phải tiếp cận với khoa học tiên tiến trên thế giới lúc bấy giờ.

C. Ông mong muốn xóa bỏ chế độ phong kiến đương thời.

D. Cả A và B đúng.

Câu 5: Năm 1884, sau khi triều đình Huế kí hiệp ước công nhận quyền đô hộ của thực dân Pháp trên toàn bộ nước ta, trong nội bộ triều đình Huế đã nảy sinh những quan điểm nào?

A. Hòa hoãn, thương thuyết với Pháp.

B. Cương quyết cùng nhân dân tiếp tục chiến đấu chống Pháp, giành lại độc lập dân tộc.

C. Cầu cứu nhà Thanh đưa quân sang đánh Pháp.

D. Cả A và B đúng.

Câu 6: Được tin Tôn Thất Thuyết chuẩn bị lực lượng đánh Pháp. Thực dân Pháp đã sử dụng âm mưu nào để đối phó với Tôn Thất Thuyết?

A. Mời Tôn Thất Thuyết cộng tác với Pháp.

B. Mời Tôn Thất Thuyết đến giả vờ họp rồi bắt ông.

C. ám sát Tôn Thất Thuyết để loại trừ nguy cơ "tạo phản"

D. Bắt cóc những người thân nhằm gây sức ép với ông.

Câu 7: Từ cuối thế kỉ XIX, ở Việt Nam ta đã xuất hiện ngành kinh tế mới nào?

A. Nền công nghiệp khai khoáng.

B. Ngành dệt.

C. Ngành sản xuất xi măng, điện, nước.

D. Cả A, B và C đúng.

Câu 8: Những thay đổi kinh tế đã tạo ra giai cấp, tầng lớp mới nào trong xã hội?

A. Địa chủ

B. Công nhân, chủ xưởng, nhà buôn, viên chức, trí thức...

C. Nông dân

D. Quan lại phong kiến.

Câu 9: Khi Phan Bội Châu gặp gỡ một số người Nhật Bản. Tại đây họ hứa giúp đỡ những gì?

A. Hứa cung cấp lương thực.

B. Cam kết đầu tư xây dựng một số căn cứ quân sự ở Việt Nam

C. Hứa giúp đỡ đào tạo về kĩ thuật, quân sự cho thanh niên yêu nước Việt Nam.

D. Hứa xây dựng một số trường tại Việt Nam

Câu 10: Tại sao sống trong điều kiện khó khăn thiếu thốn ở Nhật, nhóm thanh niên Việt Nam vẫn hăng say học tập?

A. Vì mong muốn học tập xong để trở về cứu nước.

B. Vì mong muốn học tập xong để trở về nước phục vụ cho chính quyền thực dân.

C. Vì mong muốn học tập xong để mau chóng sang Pháp làm việc

D. Vì mong muốn xin được một công việc ổn định tại Nhật.

Câu 11. Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước vào năm nào, từ đâu?

A. 1911, tại cảng Nhà Rồng.

B. 1912, tại ga Sài Gòn.

C. 1913, tại nhà anh Lê.

Câu 12. Tại sao Nguyễn Tất Thành quyết ra đi tìm đường cứu nước ?

A. Muốn đánh đuổi giặc Pháp, giải phóng đồng bào.

B. Thấu hiểu tình cảnh đất nước và nỗi thống khổ của nhân dân.

C. Cả hai ý kiến trên đều đúng.

Câu 13: Hội nghị hợp nhất các đảng tiến hành vào thời gian nào?

A: Năm 1929                         B: Mùa thu năm 1929

C: Năm 1931                         D: Đầu xuân năm 1930

Câu 14: Ngày nào đã trở thành ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam:

A: Ngày 2 tháng 9                   B: Ngày 3 tháng 2

C: Ngày 19 tháng 5                 D: Ngày 19 tháng 8

Câu 15: Cuộc biểu tình ngày 12 - 3 - 1930 do giai cấp, tầng lớp nào tiến hành?

A. Nông dân.

B. Công nhân.

C. Nông dân và công nhân.

D. Các tầng lớp nhân dân lao động.

Câu 16: Sau cuộc biểu tình ngày 12 - 9 - 1930, làn sóng đấu tranh ở Nghệ Tĩnh như thế nào?

A. Càng thêm mạnh.

B. Nông dân tiếp tục nổi dây.

C. Đánh phá huyện lị, đồn điển...

D. Nhân đân cử ra người lãnh đạo.

Câu 17. Đảng và Bác Hồ ra lệnh toàn dân khởi nghĩa vào lúc nào?

A. Tháng 3- 1945.

B. Giữa tháng 8- 1945

C. Ngày 18-3 8- 1945.

D. Ngày 19- 8- 1945.

Câu 18. Chiều ngày 19-8-1945 cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên đâu?

A. Sở mật thám

B. Trại Bảo an bình

C. Phủ Khâm sai

D. Sở Cảnh Sát

Câu 19: Ý nghĩa lịch sử của Tuyên ngôn độc lập là:

A. Chấm dứt triều đại phong kiến nhà Nguyễn

B. Khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

C. Xác định quyền độc lập tự do dân tộc

D. Cả ba ý đều sai

Câu 20: Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày nào?

A. Ngày 19 tháng 8 năm 1945

B. Ngày 5 tháng 9 năm 1945

C. Ngày 2 tháng 9 năm 1945

D. Ngày 30 tháng 4 năm 1945

Câu 21: Vì sao nói: “Ngay sau cách mạng tháng Tám, nước ta ở trong tình thế Nghìn cân treo sợi tóc”

A. Nạn đói xảy ra khắp nơi khiến hơn 2 triệu người chết, nông nghiệp đình đốn.

B. Hơn 90% dân số mù chữ, không biết viết chữ.

C. Thực dân Pháp tiếp tục xâm lược Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

D. Tất cả các ý trên

Câu 22: Những khó khăn của nước ta sau cách mạng tháng Tám là?

A. "giặc ngoại xâm"

B. "giặc đói"

C. "giặc dốt"

D. cả ba ý kiến trên

Câu 23: Mở đầu cho cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai, thực dân Pháp làm gì?

A. đánh chiếm Sài Gòn.

B. mở rộng xâm lược Nam Bộ.

C. đánh chiếm Hải Phòng.

D. đánh chiếm Sài Gòn, Hải Phòng.

Câu 24: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát trên đài tiếng nói Việt Nam lúc nào?

A. Sáng 18 - 12 - 1946

B. Sáng 19- 12- 1946

C. Sáng 20- 12- 1946.

D. Đêm 19 - 12 - 1946

Câu 25: Ta quyết định mở chiến dịch biên giới thu đông 1950 nhằm mục đích gì?

A. Giải phóng một phần biên giới Việt Trung

B. Mở rộng căn cứ địa Việt Bắc

C. Khai thông đường liên lạc quốc tế

D. Cả ba ý trên

Câu 26: Trong chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947 địch chết bao nhiêu tên?

A. 3000 tên

B. hơn 3000 tên

C. hàng trăm tên

D. 300 tên

Câu 27: Khi địch tấn công Việt Bắc, Trung ương Đảng đã quyết định như thế nào?

A. Chặn đánh địch

B. Bố trí trận đại mai phục

C. Phải phá tan cuộc tấn công của giặc

D. Chặn đánh quân rút lui

Câu 28: Quân ta chiếm cụm cứ điểm Đông Khê vào ngày nào? 

A. sáng 18 - 9- 1950

B. sáng 16 - 9 - 1950.

C. sáng ngày 22-9-1950

D. sáng ngày 11-8-1950

Câu 29:  Bị trúng đạn, nát một phần cánh tay phải nhưng anh La Văn Cầu vẫn làm gì?

A. Dừng chiến đấu

B. Hi sinh tại chỗ

C. Nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay để tiếp tục chiến đấu

Câu 30:  Kết thúc chiến dịch Biên giới thu - đông 1950 ta đã tiêu diệt và bắt sống bao nhiêu tên địch?

A: Hơn 8000 tên địch

B. 750 tên địch

C. Không có tên địch nào

D. 3000 tên địch

Cái này là môn lịch sử nha 

Chúc bn thi tốt !

có gì sai thì bn bỏ qua cho mik nha 

2 tháng 1 2022

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 8 tháng 2 năm 1930 tại Hương Cảng (Hồng Kông), Trung Quốc. Người chủ trì hội nghị là Nguyễn Ái Quốc, với chức vụ là phái viên của Quốc tế Cộng sản.

1 tháng 11 2021

Ngày 5-6-1911, trên con tàu Amiral Latouche Tréville, từ cảng Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, bắt đầu cuộc hành trình 30 năm tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Vào thời điểm đó, không ai biết rằng vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã gắn liền với quyết định ra đi của một con người mà lịch sử đã chứng tỏ là sáng suốt, phi thường ấy.

Với một sự nhạy cảm đặc biệt, Nguyễn Tất Thành không đi sang nước Nhật, không tìm về châu Á mà Người sang nước Pháp, đến tận nơi nước đang cai trị mình, đến tận châu Âu, nơi đang có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, về văn hóa, về chính trị để tìm hiểu xem người ta làm như thế nào rồi trở về cứu giúp đồng bào. Bác ra đi, hành trang chỉ là lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, quyết tâm tìm con đường cứu nước mới .

Sau thời gian ở Pháp, Nguyễn Tất Thành tiếp tục cuộc hành trình đi qua nhiều châu lục khác. Suốt chặng đường bôn ba, cuộc sống đầy gian khổ nhưng không làm Người chùn bước, trái lại, càng tôi luyện, hun đúc lòng yêu nước nồng nàn với mục tiêu giải phóng dân tộc kiên định. Người tranh thủ mọi thời cơ để học hỏi, nghiên cứu các học thuyết cách mạng, hòa mình vào thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản và thuộc địa.

Chính chủ nghĩa yêu nước cùng với những năm tháng tìm tòi không mệt mỏi về lý luận và hoạt động trong phong trào công nhân quốc tế, người thanh niên Việt Nam Nguyễn Tất Thành bất chấp mọi hiểm nguy, đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trở thành nhà hoạt động quốc tế xuất sắc Nguyễn Ái Quốc.

14 tháng 11 2021

1911 đến 1941

Bác đã trải qua gần 20 công việc

30 tháng 5 2021

Nhà Nguyễn được thành lập sau khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và chấm dứt khi vua Bảo Đại thoái vị năm 1945,trải tổng cộng 143 năm, 13 vị vua thuộc 7 thế hệ. Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn năm 1804 dưới triều vua Gia Long.

30 tháng 5 2021

13 đời vua và kéo dài 143 năm 

17 tháng 8 2021

Trả lời:

Uneco công nhận vẻ đẹp của vịnh hạ long vào năm 1994 (lần thứ nhất) và năm 2000 (lần thứ hai)

Hc tốt

@nth

Trả lời:

Cách đây tròn 20 năm, ngày 2/12/2000, Vịnh Hạ Long đã vinh dự được UNESCO công nhận là Di sản tự nhiên thế giới lần thứ 2 bởi giá trị ngoại hạng toàn cầu về địa chất địa mạo.

HT

17 tháng 1 2022

Việt nam bị pháp xâm lược năm:1884 (ko nhớ)

việt nam thắng pháp:1945

11 tháng 2 2022

bạn trả lời đúng rồi :

Việt Nam đánh thắng Pháp năm 1954

Việt Nam bị Pháp xâm chiếm năm 1858