Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Vì sao đến những năm 70 của thế kỷ XX nền kinh tế Mỹ bị suy giảm nhưng chỉ là sự suy giảm tương đối ?
Nền kinh tế Mỹ bị suy giảm là do :
- Sự vươn lên mạnh mẽ của các nước Tây Âu và Nhật Bản đã trở thành những trung tâm kinh tế-tài chính ngày càng cạnh tranh gay gắt với Mĩ.
- Sự khủng hoảng có tính chất chu kì của nền kinh tế Mĩ.
- Những chi phí khổng lồ cho việc chạy đua vũ trang và các cuộc chiến tranh xâm lược...
- Sự chênh lệch giữa các tầng lớp xã hội, nhất là các nhóm cư dân - tầng lớp lao động bậc thấp, dẫn đến sự không ổn định về kinh tế, xã hội ở Mĩ.
=> Tuy nói những năm 70 của thế kỷ XX nền kinh tế Mỹ bị suy giảm nhưng Mĩ vẫn là trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất trên thế giới nên sự suy giảm này chỉ là sự suy giảm tương đối
Tìm dẫn chứng chứng minh về kinh tế Mỹ chiếm ưu thế tuyệt đối trong thế giới tư bản sau chiến tranh thế giới thứ hai?
- Sau chiến tranh thế giới thứ hai , nền kinh tế Mĩ phát triển mạnh mẽ. Biểu hiện :
+ Tổng sản xuất quốc dân tăng bình quân hàng năm là 9%.
+ Sản lượng công nghiệp chiếm hơn một nửa sản lượng toàn thế giới
+ Sản lượng nông nghiệp tăng 27% so với trước chiến tranh.
+ Mĩ có hớn 50% tàu bè đi lại trên biển, chiếm 3/4 trữ lượng vàng thế giới...
- Trong khoảng 20 năm sau chiến tranh, Mĩ trở thành trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới.
- Nguyên nhân cơ bản có tính chất nội tại giúp Nhật bản một nc bị tổn thất và chịu hậu quả nặng nề sau chiến tranh vươn lên phát triển 1 cách thần kì chính là con người NB.
-Từ những yếu tố tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử và môi trường xã hội đã hình thành nên con người NB với giá trị truyền thống được đề cao. Họ cần cù lao động yêu thiên nhiên. Họ biết tìm ra cái hay của người khác để học hỏi và áp dụng và công việc của mình. Người NB có tính kỉ luật và có ý thức rõ ràng về nghĩa vụ và bổn phận của mình đối với đất nc. Họ luôn trung thành với các bậc quyền uyvà luôn giữ trọn chữ tín. Họ biết chịu đựngvà giữu phét lịch sự, biết tiết kiệm và biết lo xa.
1.Giống nhau:
- Cạnh tranh đế quốc: Các cường quốc đế quốc (Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật) tranh giành thuộc địa và ảnh hưởng trên toàn cầu.
- Quân sự hóa: Các quốc gia đều chuẩn bị quân sự mạnh mẽ, gia tăng vũ khí và quân đội, làm tăng nguy cơ chiến tranh.
- Chủ nghĩa dân tộc: Cả hai cuộc chiến đều liên quan đến sự đối đầu giữa các dân tộc, với các nhóm dân tộc muốn bảo vệ hoặc mở rộng lãnh thổ.
Khác nhau:
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914–1918):
- Nguyên nhân trực tiếp: Ám sát Archduke Franz Ferdinand (người thừa kế ngai vàng của Áo-Hung) bởi một người Serbia, kích động căng thẳng quốc tế.
- Hệ thống liên minh: Hai liên minh lớn — Liên minh Entente (Anh, Pháp, Nga) và Liên minh Trung tâm (Đức, Áo-Hung, Ý) — đã dẫn đến một cuộc chiến toàn cầu khi các quốc gia liên quan bị kéo vào xung đột theo các nghĩa vụ liên minh.
- Căng thẳng tại Balkans: Khu vực Balkans (đặc biệt là Serbia và Áo-Hung) là tâm điểm của xung đột, với các cuộc tranh giành lãnh thổ và quyền lực giữa các quốc gia nhỏ và các đế chế lớn.
Chiến tranh thế giới thứ hai (1939–1945):
- Nguyên nhân trực tiếp: Đức dưới sự lãnh đạo của Adolf Hitler xâm lược Ba Lan vào năm 1939, dẫn đến Anh và Pháp tuyên chiến.
- Hiệp ước Versailles: Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Hiệp ước Versailles đã trừng phạt Đức quá nặng nề (mất lãnh thổ, đền bù chiến tranh, giới hạn quân đội), tạo ra sự bất mãn sâu sắc và là điều kiện để Hitler lợi dụng sự tức giận này.
- Chủ nghĩa phát xít và quân phiệt: Các chính quyền phát xít ở Đức, Ý và Nhật Bản theo đuổi chính sách đối ngoại bành trướng, xâm lược các quốc gia khác để mở rộng lãnh thổ.
- Khủng hoảng kinh tế: Đại suy thoái (1929) khiến nhiều quốc gia bị khủng hoảng kinh tế và xã hội. Điều này đã tạo ra cơ hội cho các chính quyền độc tài như Hitler và Mussolini lên nắm quyền, sử dụng chiến tranh để giải quyết khủng hoảng nội bộ và bành trướng quyền lực
2.Em đồng ý với nhận xét này, vì Anh và Pháp – hai cường quốc lớn thời bấy giờ – đã có những hành động và chính sách thiếu kiên quyết, góp phần tạo điều kiện cho Đức phát xít trỗi dậy và phát động chiến tranh.
Thứ nhất, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Hiệp ước Versailles do Anh và Pháp đóng vai trò chính đã trừng phạt Đức quá nặng nề, khiến người dân Đức rơi vào cảnh khốn khó và oán giận. Điều này tạo cơ hội cho Hitler lợi dụng tâm lý bất mãn để tuyên truyền, kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan và từng bước xây dựng chế độ phát xít.
Thứ hai, trong những năm 1930, Anh và Pháp theo đuổi chính sách nhượng bộ (appeasement) trước các hành động xâm lược và bành trướng của Đức, Ý, và Nhật. Ví dụ, khi Hitler tái vũ trang, chiếm vùng Rheinland (1936), sáp nhập Áo (1938), và chiếm Tiệp Khắc (1939), Anh – Pháp không có hành động cứng rắn, mà ngược lại còn ký Hiệp định Munich, cho phép Đức chiếm vùng Sudetenland của Tiệp Khắc với hy vọng duy trì “hòa bình”. Chính sự nhân nhượng này đã khiến Đức ngày càng lấn tới và tin rằng có thể mở rộng lãnh thổ mà không gặp trở ngại.
Tóm lại, mặc dù Đức phát xít là thủ phạm chính gây ra chiến tranh, nhưng Anh và Pháp cũng phải chịu một phần trách nhiệm vì chính sách sai lầm, mềm yếu của họ đã không ngăn chặn sớm mối đe dọa từ chủ nghĩa phát xít, để rồi dẫn đến sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai.
3. Tác động đến cục diện chiến tranh:
- Kết thúc nhanh chóng Chiến tranh thế giới thứ hai tại châu Á: Hai vụ ném bom đã khiến Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện vào ngày 15/8/1945, chấm dứt hoàn toàn Chiến tranh thế giới thứ hai.
- Tiết kiệm nhân lực cho Mỹ và Đồng minh: Việc dùng bom nguyên tử giúp Mỹ tránh được một cuộc tấn công đường bộ vào Nhật Bản vốn được dự báo sẽ gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên.
- Tạo ưu thế cho Mỹ trên bàn đàm phán: Mỹ khẳng định vị thế siêu cường của mình trong việc kết thúc chiến tranh, từ đó chiếm ưu thế trong việc định hình trật tự thế giới sau chiến tranh.
2. Tác động đến thế giới sau chiến tranh:
- Bắt đầu cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân: Sự kiện này mở đầu cho kỷ nguyên vũ khí hạt nhân, khiến các nước lớn (đặc biệt là Liên Xô) tăng tốc nghiên cứu và chế tạo bom nguyên tử.
- Khơi mào Chiến tranh Lạnh: Việc Mỹ sử dụng bom nguyên tử không chỉ nhắm vào Nhật Bản mà còn là lời cảnh báo với Liên Xô. Điều này làm gia tăng căng thẳng giữa hai cường quốc và dẫn đến Chiến tranh Lạnh.
- Gây tranh cãi về mặt đạo đức và nhân đạo: Việc sử dụng bom nguyên tử đã khiến hàng trăm nghìn dân thường thiệt mạng và bị ảnh hưởng phóng xạ, dẫn đến tranh luận gay gắt về tính hợp pháp và đạo đức của hành động này.
1.
-Giống nhau: đều có mâu thuẫn về chính trị, thị trường và thuộc đia
-Khác nhau: Nguyên nhân của Thế Chiến 1 bùng nỏ từ mâu thuẫn đế quốc, còn nguyên nhân của Thế Chiến 2 là do chủ nghĩa phát xít lên ngôi và các cường quốc phương Tây yếu đi, đẩy cuộc chiến với mục tiêu diệt chủ nghĩa phát xít và bảo vệ hoà bình thế giới
2.
Em đồng ý vì:
-Thứ nhất, hiệp ước Véc-sai do Anh và Pháp áp dụng lênh trừng phạt kinh tế quá nặng, đẩy kinh tế Đức rơi vào tình trạng kiệt quệ, tạo cơ hội cho Hít-le lợi dụng tâm lý bất mãn của người dân để tuyên truyền, kích đọng người dân theo chủ nghĩa cực đoan, rồi từng bước xây dựng chủ nghĩa phát xít
-Thứ 2, Anh và Pháp đã thi hành chính sách nhượng bộ. Sau khi Đức Quốc Xã chiếm Áo và Tiệp Khắc, Anh và Pháp đã thi hành chính sách nhượng bộ, cho phép Hít-le chiếm nốt Sudetenland của Tiệp Khắc, tuy nhiên chính sách nhượng bộ đã tạo điều kiện cho Hít-le càng làm cho chủ nghĩa phát xít mạnh hơn
-Tóm lại, Đức là người khơi mào chiến tranh, tuy nhiên Anh và Pháp cũng có lỗi sai khi vô tình tạo điều kiện cho Đức Quốc Xã mạnh hơn, dẫn đến Thế Chiến 2
3.
Tác động đến cục diện thế giới sau khi thả bom xuống 2 thành phố của Nhật Bản:
-Mở ra cuộc đua chạy vũ trang, hạt nhân: Mở ra kỷ nguyên chế taọ vũ khí hạt nhân ( tiêu biểu là Liên Xô) đẩy mạnh nghiên cứu và tạo bom nguyên tử
-Dẫn đến Chiến Tranh Lạnh: Việc Mỹ thả bom xuống 2 thành phố của Nhật Bản không chỉ là lời đe doạ đến Nhật Bản và cũng là lời đe doạ đến Liên Xô, dẫn đến mâu thuẫn và nảy ra Chiến Tranh Lạnh
-Sự tranh cãi về mặt đạo đức: Việc Mỹ thả bom xuống 2 thành phố của Nhật Bản cũng làm nảy ra những tranh luận khác nhau khi có người đồng tình với hành động của Mỹ vì nễu không làm như vậy rất có thể chiến tranh vẫn sẽ tiếp tục. Tuy nhiên lại có người cho rằng việc làm của Mỹ quá ác độc khi đã thả bom giết chết hàng chục nghìn người dân vô tội
Đáp án: B
Giải thích:
- Những năm 60 của thế kỉ XX, nền kinh tế Nhật Bản đạt được sự tăng trưởng “thần kì”, vượt qua các nước Tây Âu, vươn lên đứng thứ hai trong giới tư bản.
* Sự phát triển kinh tế :
- Sau chiến tranh thế giới thứ hai , nền kinh tế Mĩ phát triển mạnh mẽ. Biểu hiện :
+ Tổng sản xuất quốc dân tăng bình quân hàng năm là 9%.
+ Sản lượng công nghiệp chiếm hơn một nửa sản lượng toàn thế giới
+ Sản lượng nông nghiệp tăng 27% so với trước chiến tranh.
+ Mĩ có hớn 50% tàu bè đi lại trên biển, chiếm 3/4 trữ lượng vàng thế giới...
- Trong khoảng 20 năm sau chiến tranh, Mĩ trở thành trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới.
* Nguyên nhân :
- Lãnh thổ Mĩ rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, trình độ kỹ thuật cao, năng động, sáng tạo.
- Mĩ lợi dụng chiến tranh để làm giầu, thu lợi nhuận từ buôn bán vũ khí.
- Mĩ áp dụng thành tựu khoa học- kĩ thuật để nâng cao năng suất lao động.
- Các tổ hợp công nghiệp - quân sự, các công ty, tập đoàn tư bản lũng đoạn Mĩ có sức sản xuất, cạnh tranh lớn và có hiệu quả trong và ngoài nước.
- Các chính sách và biện pháp điều tiết của Nhà nước đóng vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế Mĩ phát triển.
* Phân tích :
- Nguyên nhân quyết định cho sự phát triển kinh tế của Mĩ sau chiến tranh thế giới thứ hai đó là Mĩ áp dụng thành tựu khoa học - kĩ thuật để nâng cao năng suất lao động. Mĩ là nước khởi sướng đầu tiên cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại của thế giới. Việc áp dụng thành công những thành tựu của cuộc cách mạng này đã cho phép Mĩ nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và điều chỉnh hợp lí cơ cấu sản xuất.
- Trong những năm 1945-1950 ,nước Mĩ chiếm hơn một nửa sản lượng công nghiệp toàn thế giới (56,47% năm 1948)
- Sản lượng nông nghiệp của Mĩ gấp 2 lần sản lượng nông nghiệp của năm nước Anh , Pháp, Đức, Italia và Nhật Bản cộng lại.
- Mĩ nắm trong tay 3/4 trữ lượng vàng của thế giới (24,6 tỉ USD),là chủ nợ duy nhất trên thế giới.
- Về quân sự,Mĩ có lực lượng mạnh nhất thế giới tư bản và độc quyền vũ khí nguyên tử.
Chúc bạn hk tốt nha
Đáp án: C
Giải thích:
Những năm 60 và 70 của thế kỉ XX, nền kinh tế Đức vươn lên đứng thứ ba thế giới tư bản, sau Mĩ và Nhật Bản.