Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tham khảo:
- Ai làm cho bể kia đầy
Cho ao kia cạn , cho gầy cò con
=> Đại từ phiếm chỉ "ai" chỉ một người, là sự trách móc của nhân vật trữ tình với người đã đẩy thân cò thêm vất vả, long đong.
a) Ai ơi có nhớ ai không
Trời mưa một mảnh áo bông che đầu
Nào ai có tiếc ai đâu
Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô
( Trần Tế Xương)
b) Chê đây lấy đấy sao đành
Chê quả cam sành lấy quả quýt khô
( ca dao)
-> Dùng để thay thế cho một thứ gì đó chỉ sự vật, con người.
c) Đấy vàng đây cũng đồng đen
Đấy hoa thiên lý đây sen Tây Hồ
( Ca dao)
-> Làm phụ ngữ cho CDT đồng thời dùng để xưng hô , chỉ vào một vật gì đó
Đại từ: In đậm
các bạn giúp mình với, mình sẽ tick cho những ai xong nhanh nhé![]()
_ Ai : + hỏi về người và sự vật
+ Người , sự vật ko xác định đc ; do đó " ai " là đại từ nói trống . ( phiếm chi )
a, Đại từ: ai
=> Dùng để trỏ (người)
b, Đại từ: người, bao nhiêu
=> Dùng để trỏ (người), số lượng
Ai ơi có nhớ ai không
Trời mưa 1 mảnh áo bông che đầu
Nao ai có tiếc ai đâu
Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô
Mở đầu không thấy kể về mình mà muốn biết ngay bạn đối với mình ra sao: “Ai ơi, có nhớ ai không?” Nhưng bạn ở đâu? Không biết nữa! Ngay bản thân mình đang hiện hữu, nhưng nói với người xa cách, dường như cũng hóa xa xôi, như có như không: “Ai ơi, có nhớ ai không?”. Đó là cảm giác trống trải lúc nhớ mong. Lấy gì bù đắp được? May ra còn có kỉ niệm xưa
"Nước non lận đận một mình,
Con cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.
Ai làm cho bể kia đầy,
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?"
a,Ẩn dụ nước non lận đận 1 mik.
Nhân Hóa chỗ cò lên thác, xuống ghềnh.
b,
Dưới chế độ phong kiến, nhân dân ta bị áp bức rất nặng nề. Người nông dân nói chung và người phụ nữ nói riêng tuy lao động cực nhọc mà vẫn cơ hàn đói rách. Có bao cảnh đời, bao bi kịch thương tâm, ca dao dân ca cũng có biết bao khúc hát ai oán thương tâm xúc động. Có thể than chính cho số phận hoặc than vàn cho số phận đồng loại.
Nước non lận đận một mình
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay
Ai làm cho bể kia đầy
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?
Bài ca dao là tiếng than thân tràn lệ. Thân cò và cò con trong bài ca dao này là ẩn dụ nói về người phụ nữ nông dân và con cái của họ. Hai thế hệ, hai kiếp người đau khổ. Người đàn bà nhà quê sống lẻ loi một mình quanh năm côi cút làm ăn toan lo nghèo khó, vất vả giữa cuộc đời. Suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời mà vẫn cơm không đủ ăn áo không đủ mặc.
Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao...
Ngày làm chẳng đủ ăn thì phải kiếm ăn cả đêm. Thật vất vả khổ cực bao nhiêu, đời sống của họ là những khó khăn triền miên.
Con cò đi đón cơn mưa
Tối tăm mù mịt ai đưa cò về
Tần tảo sớm hôm nuôi gia đình con cái nhưng ông trời có lẽ không công bằng, bởi nếu công bằng thì trước những lời ai oán đó ông trời sao không xúc động?
Lên thác xuống ghềnh - chỉ sự vất vả gian nan trong cuộc đời, lận dận mệt mình. Không phải là ngày một, ngày hai mà là bấy nay, kiếp người đằng đẵng bao năm giữa chốn nước non mênh mông này.
Nước non lận đận một mình
Thân cò lèn thác xuống ghềnh bấy nay
Trong khung cảnh nước non mênh mông bao la ấy, cái cò chỉ có một mình. Cảnh đời nghèo khổ về vật chất và tinh thần khiến cho họ chỉ biết kêu, kêu mà chẳng biết kêu ai. Nghèo vẫn hoàn nghèo họ cố tìm cách thay đổi cảnh ngộ mà không sao thoát khỏi:
Cây khô xuống nước cũng khô
Phận nghèo đi đến nơi mô càng nghèo
Cái vòng luẩn quẩn, bế tắc ấy người nông dân muốn vượt ra ngoài nhưng không thể thoát được. Do vậy mà lời ai oán của thân cò - người mẹ đau khổ cất lên như thấm đẫm nước mắt.
Ai làm cho bể kia đầy
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con
Cảnh đời ngang trái, loạn lạc bể đầy, ao cạn. Ai làm là lời ám chỉ, tố cáo bọn thống trị gây ra bao cảnh ngang trái làm cho gầy cò con. Đời mẹ đã gian nan lận đận, đời con càng đói rét đau thương. Lời thơ như tiếng nấc, như lời nguyền đay nghiến lên án bọn thống trị tham quan. Thân phận nhỏ bé như con tằm, con kiến. Mà con tằm, con kiến thì:
Con kiến mà leo cành đa
Leo phải, cành cụt leo ra leo vào...
Cuộc đời là cái vòng luẩn quẩn, họ hoàn toàn không làm chủ được bản thân, cuộc đời. Ai làm cho họ khổ, thật bi đát họ chỉ biết than thân trách phận kêu trời. Niềm cay đắng, bị áp bức bóc lột biết bao giờ cho hết nỗi oan khiên. Đời cái cò gian lao điêu đứng rồi đời cò con cũng điêu đứng lao đao. Trong họ niềm khao khát cháy bỏng được sống hạnh phúc, được thoát khỏi nghèo nàn cho chính họ và kiếp sau của họ. Bài ca dao chứa chan tình nhân đạo và giá trị tố cáo phản kháng sâu sắc. Đây cũng chính tiếng nói tập thể của những người dân lao động trong xã hội áp bức bất công. Đọc bài ca dao chúng ta càng đồng cảm hơn với những con người khốn khổ một thời trong xã hội ấy.
học tốt
1. Ai làm cho bể kia đầy
Cho ao kia cạn cho gầy cò con.
=> Đại từ phiếm chỉ "ai" chỉ một người, là sự trách móc của nhân vật trữ tình với người đã đẩy thân cò thêm vất vả, long đong.
2. Ai ơi có nhớ ai không
Trời mưa một mảnh áo bông che đầu
Nào ai có tiếc ai không
Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô.
=> Đại từ phiếm chỉ "ai" chỉ 2 người. "Ai ơi" là người kia, "ai không" chỉ nhân vật trữ tình, là tôi, tác giả. Trên đường gặp mưa, nhà thơ đã lấy áo bông của mình che đầu cho bạn. Giờ bạn đã đi xa, tác giả ghi nhớ lại việc cũ. Đại từ "ai" là sự tự vấn không biết người bạn có còn nhớ tới kỉ niệm đó không.
Ai làm cho bể kia đầy
Cho ao kia cạn , cho gầy cò con
Ai ơi có nhớ ai không
Trời mưa một mảnh áo bông che đầu
Nào ai có tiếc ai không
Aó bông ai ướt khăn đầu ai khô
->Đại từ''ai'':để hỏi về người
->mang sắc thái biểu cảm, bộc lộ thái độ
Trong bài thơ Đây thôn Vĩ dạ của Hàn mặc tử, từ "ai" đã được lặp lại bốn lần. "Ai" là đại từ phiếm chỉ, ko chỉ cụ thể một ng nào cả, tất cả các giả thuyết về một ng cụ thể nào đó đều là gượng ép và làm mất đi ý nghĩa sâu xa, cao đẹp của thi nhân. Trong khổ thơ đầu tiên - bức tranh về cõi thực trong con mắt của hàn mặc tử, từ "ai" xuất hiện trong câu thơ: "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc". Trong bức tranh cõi thực này, hàn mặc tử đã miêu tả thiên nhiên thôn Vĩ đẹp đẽ, ngọc ngà, non tơ, óg chuốt với "Nắg hàng cau", với nhà vườn xứ Huế "mướt quá", "xanh như ngọc", với con người thôn Vĩ vừa trung hậu vừa e lệ. Tuy nhiên, chỉ với một chữ "ai", ng đọc có thể cảm nhận nỗi niềm của Hàn mạc tử. Tất cả những cái non tơ, óng chuốt, ngọc ngà, tinh khôi, tươi tắn ấy giờ đã thuộc về ai khác chứ ko phải thi nhân. Thi nhân Hàn Mạc Tử - con người ngồi trong tấm rèm lạnh nhìn ra cuộc đời thực ngoài kia, cảm nhận những vẻ đẹp của cđời ngoài kia nhưng cđời càng đẹp càng làm cho thi nhân đau đớn vì bức tranh đẹp đẽ ấy đã vĩnh viễn ko còn thuộc về thi nhân nữa.
Khổ thơ thứ hai có thể coi là bức tranh cõi mơ trong tâm tư thi nhân. Bức tranh cõi mơ ấy hiện lên lai láng ánh trăng - ánh trăng cứu rỗi. Tràn ngập ko gian là truyền trăng, sông trăg. Hai câu thơ: "thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay" là trùng điệp, chồng chất những câu hỏi. Thi nhân như một con người tội nghiệp đứng trong thế giới âm u, tràn ngập bóng tối của riêng mình, đứng trong lãnh cung lạnh lẽo, nơi "Không có niềm trăng và ý nhạc / Có ng cung nữ nhớ thương vua" để hỏi vọng ra bên ngoài vô số những câu hỏi tội nghiệp, gấp gáp, thúc giục. Thi nhân coi con thuyền trăng là thứ duy nhất có thể bám víu lấy để quay về thế giới thực nhưng niềm hi vọng của thi nhân là một hi vọng tuyệt vọng, ko những ko thể trở về thế giới thực mà thi nhân còn càng rơi sâu xuống cõi hư vô...
Ở khổ thơ cuối, từ "ai" xuất hiên 2 lần trong câu thơ: "Ai biết tình ai có đậm đà". Từ "ai" đầu tiên có thể hiểu là chỉ tất cả những con người ngoài kia, thì từ "ai" thứ hai được hiểu là thi nhân. Như vậy câu thơ có thể hiểu là những con ng trong thế giới thực đẹp đẽ, trong cuộc đời đẹp đẽ ngoài kia có biết rằng thi nhân ở đây vẫn luôn khắc khoải, luôn đau đáu một tình yêu mãnh liệt với đời, với ng. Còn nếu hiểu từ "ai" đầu tiên là một đại từ phiếm chỉ, từ "ai" thứ hai là những con ng ngoài kia thì câu thơ có thể hiểu là câu hỏi trong lòng thi nhân: ko biết rằng ngoài cđời kia, có ai thương, có ai nhớ, có ai còn chút tình vs thi nhân - con ng tội nghiệp ở sau tấm rèm lạnh này ko. Cho dù hiểu theo cách nào thì câu thơ vẫn đem lại cảm giác đau đớn, thương cảm vô cùng cho ng đọc.
Ng đọc càng thấy thương xót hơn cho số phận của nhà thơ Hàn mặc tử - một niềm yêu đời mãnh liệt nhưng phải chia lìa vs đời, một số phận tài hoa nhưng bất hạnh, một hồn thơ vừa trong sáng, tinh khôi vừa thê lương, đau đớn.