Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
39. Điều kiện nào đã tạo thuận lợi cho nhân dân các nước Đông Nam Á nổi dậy giành chính quyền sau Chiến tranh thế giới thức hai?
A. Các nước Đồng minh tiến vào giải phóng.
B. Liên Xô giúp đỡ các nước Đông Nam Á.
C. Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện.
D. Được sự giúp đỡ của Mĩ.
Chọn câu C
40. Thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong cuộc đấu tranh chống chế độ A-pác-thai của nhân dân Nam Phi là gì?
A. Chủ nghĩa thực dân cũ bị xóa bỏ ở Châu Phi.
B. Chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi – sào huyệt cuối cùng đã bị xóa bỏ sau hơn ba thế kỉ tồn tại.
C. Chủ nghĩa thực dân mới bị xóa bỏ ở châu Phi.
D. Hệ thống thuộc địa bị xóa bỏ ở châu Phi.
Chọn câu B
Điều kiện nào tạo thuận lợi cho nhân dân Đông Nam Á nổi dậy giành chính quyền sau Chiến tranh thế giới thứ hai ? (1 Điểm)
Các nước đồng minh tiến vào giải phóng.
Liên Xô giúp đỡ các nước Đông Nam Á.
Phát xít Nhật đầu hàng đồng minh không điều kiện.
Được sự giúp đỡ của quân Mĩ.
Vào tối muộn ngày 8 tháng 8 năm 1945, căn cứ theo thỏa thuận Yalta nhưng vi phạm Hiệp ước Trung lập Nhật-Xô, Liên Xô đã tuyên chiến với Nhật Bản và ngay sau lúc nửa đêm vào ngày 9 tháng 8 năm 1945 Liên Xô đã tấn công chính quyền bù nhìn của Nhật ở Mãn Châu.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật là nước bại trận, đất nước bị chiến tranh tàn phá, kinh tế khó khăn, mất hết thuộc địa, nghèo tài nguyên, thất nghiệp, thiếu nguyên liệu, lương thực và lạm phát. Sản xuất công nghiệp năm 1946 chỉ bằng 1/4 so với trước chiến tranh. Nhật phải dựa vào "viện trợ" kinh tế của Mỹ dưới hình thức vay nợ để phục hồi kinh tế.
Quá trình phát triển kinh tế Nhật trải qua các giai đoạn+ 1945 - 1950: Thời kỳ phục hồi kinh tế: kinh tế phát triển chậm chạp và phụ thuộc chặt chẽ vào kinh tế Mỹ.
+ Từ tháng 6-1950, sau khi Mỹ phát động chiến tranh xâm lược Triều Tiên, kinh tế Nhật phát triển nhanh chóng nhờ những đơn đặt hàng quân sự của Mỹ.
+ Từ những năm 60: do Mỹ sa lầy trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, kinh tế Nhật có cơ hội phát triển "thần kỳ", đuổi kịp rồi vượt các nước Tây Âu, vươn lên đứng hàng thứ 2 sau Mỹ trong thế giới TBCN.
+ Từ những năm 70 trở đi: Nhật trở thành một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới, trở thành một siêu cường kinh tế. Nhiều người gọi là "Thần kỳ Nhật Bản".
Biểu hiện của sự phát triển kinh tế
- Về tổng sản phẩm quốc dân: năm 1968 đạt 183 tỉ USD, vươn lên đứng thứ hai trên thế giới (sau Mĩ). Năm 1990, thu nhập bình quân theo đầu người đạt 23796 USD, đứng thứ hai trên thế giới (sau Thụy Sĩ).
- Về công nghiệp:
+ Trong những năm 1950 - 1960, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 15%;
+ Những năm 1961 - 1970 là 13,5%.
- Về nông nghiệp: cung cấp được hơn 80% nhu cầu lương thực trong nước, 2/3 nhu cầu thịt, sữa và nghề đánh cá rất phát triển, đứng thứ hai trên thế giới (sau Pê-ru).
=> Từ những năm 70 của thế kỉ XX, cùng với Mĩ và Tây Âu, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới.
Nguyên nhân của sự phát triển
- Truyền thống văn hoá, giáo dục lâu đời của người Nhật - sẵn sàng tiếp thu những giá trị tiến bộ của thế giới nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc;
- Hệ thống tổ chức quản lí có hiệu quả của các xí nghiệp, công ti Nhật Bản;
- Vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc đề ra các chiến lược phát triển, nắm bắt đúng thời cơ và sự điều tiết cần thiết để đưa nền kinh tế liên tục tăng trưởng;
- Con người Nhật Bản được đào tạo chu đáo, có ý chí vươn lên, cần cù lao động, đề cao kỉ luật và coi trọng tiết kiệm.
- Nhật Bản biết tận dụng tốt những yếu tố bên ngoài: viện trợ của Mĩ, các cuộc chiến tranh Việt Nam (1945-1975), chiến tranh Triều Tiên (1950-1953),...
Từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX, kinh tế Nhật Bản lâm vào tình trạng suy thoái kéo dài chưa từng thấy.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút liên tục: những năm 1991 - 1995 là 1,4%, năm 1996 nhích lên 2%, nhưng đến năm 1997 lại xuống âm 0,7%, năm 1998 - âm 1,0%, năm 1999 - âm 1,19%.
- Nhiều công ti bị phá sản, ngân sách thâm hụt.
- Những biện pháp khắc phục của chính phủ đã không thu được kết quả như mong muốn.
Câu 26. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, lực lượng Đồng minh kéo vào Việt Nam giải giáp quân đội phát xít Nhật gồm quân đội của các nước
A. Anh, Mĩ.
B. Pháp, Trung Hoa dân quốc.
C. Anh, Trung Hoa dân quốc.
D. Liên Xô, Trung Hoa dân quốc.
Sau khi tin tức về việc phát xít Nhật đầu hàng sau Chiến tranh thế giới thứ 2 lan truyền, nhân dân các nước Đông Nam Á đã trải qua một số sự kiện và hành động quan trọng:
Tổ chức đấu tranh độc lập : Sau khi Nhật Bản đầu hàng, các phong trào đấu tranh độc lập và giành lại quyền tự chủ của các quốc gia Đông Nam Á đã nổi lên. Các nhóm dân tộc và chính trị đã bắt đầu tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh chống lại sự chiếm đóng và áp bức từ các thực thể đế quốc trước đây.
Tuyên bố độc lập : Nhiều quốc gia Đông Nam Á đã tuyên bố độc lập và thành lập chính phủ riêng sau khi Nhật Bản đầu hàng. Ví dụ như Indonesia tuyên bố độc lập vào ngày 17 tháng 8 năm 1945, Philippines vào ngày 4 tháng 7 năm 1946 và Việt Nam vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Xây dựng lại và phục hồi : Các quốc gia Đông Nam Á đã phải đối mặt với những thách thức về hậu quả chiến tranh và sự phá hủy do cuộc chiến. Họ đã tập trung vào việc xây dựng lại cơ sở hạ tầng, phục hồi kinh tế và tái thiết lập các cơ quan chính phủ để đảm bảo sự ổn định và phát triển.
Đấu tranh chống lại thực thể mới : Trong một số trường hợp, sau khi Nhật Bản đầu hàng, các quốc gia Đông Nam Á đã phải đối mặt với sự can thiệp và áp bức từ các thực thể mới như Pháp và Anh Quốc. Các cuộc đấu tranh giành độc lập tiếp tục diễn ra để đảm bảo quyền tự chủ và chủ quyền của các quốc gia này.
Xây dựng liên minh khu vực : Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, các quốc gia Đông Nam Á đã bắt đầu hợp tác và xây dựng các liên minh khu vực như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) để thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển kinh tế trong khu vực.
Những sự kiện và hành động này đã định hình lại bức tranh chính trị và xã hội của các quốc gia Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ 2 và mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử của khu vực này.