Nhà văn Nga L. Tôn  xtôi nói "Lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lý tưởng thì k...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

31 tháng 7 2023

 

Bạo lực ngôn từ trong học đường là một vấn đề đang ngày càng gia tăng trong những năm gần đây. Đây là một hành vi sử dụng ngôn ngữ để làm tổn thương người khác, có thể là bằng cách nói những lời lăng mạ, xúc phạm, đe dọa, chê bai,... Bạo lực ngôn từ có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào, nhưng nó thường xảy ra ở trường học, nơi các em học sinh còn đang trong độ tuổi phát triển và dễ bị tổn thương.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực ngôn từ trong học đường, trong đó có thể kể đến:

Thiếu sự quan tâm của gia đình và nhà trường: Khi các em học sinh không được quan tâm, chăm sóc đúng mức, chúng sẽ dễ bị kích động và có những hành vi bạo lực, trong đó có bạo lực ngôn từ.Ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông: Các chương trình truyền hình, phim ảnh có nội dung bạo lực có thể tác động tiêu cực đến tâm lý của các em học sinh, khiến chúng trở nên hung hãn và có những hành vi bạo lực.Thiếu kỹ năng giải quyết xung đột: Khi các em học sinh không có kỹ năng giải quyết xung đột, chúng sẽ dễ dàng sử dụng bạo lực, trong đó có bạo lực ngôn từ để giải quyết vấn đề.

Bạo lực ngôn từ có thể gây ra những tác động tiêu cực đối với cả nạn nhân và thủ phạm. Đối với nạn nhân, bạo lực ngôn từ có thể khiến họ cảm thấy bị tổn thương, xấu hổ, tự ti, thậm chí dẫn đến trầm cảm và suy nghĩ tự tử. Đối với thủ phạm, bạo lực ngôn ngữ có thể khiến họ trở nên hung hãn, bạo lực và có những hành vi vi phạm pháp luật.

Để ngăn ngừa bạo lực ngôn từ trong học đường, cần có sự phối hợp của nhiều yếu tố, bao gồm gia đình, nhà trường và xã hội. Gia đình cần quan tâm, chăm sóc và giáo dục con cái về kỹ năng giải quyết xung đột. Nhà trường cần có các chương trình giáo dục về phòng chống bạo lực học đường, đồng thời tạo môi trường học tập lành mạnh cho học sinh. Xã hội cần lên án và xử lý nghiêm minh các hành vi bạo lực, trong đó có bạo lực ngôn ngữ.

Mỗi người chúng ta đều có thể góp phần ngăn ngừa bạo lực ngôn ngữ trong học đường bằng cách:

Tạo môi trường thân thiện, hòa đồng trong lớp học và trường học.Kiên quyết lên án và xử lý nghiêm minh các hành vi bạo lực, trong đó có bạo lực ngôn ngữ.Giáo dục con cái về kỹ năng giải quyết xung đột và cách ứng phó với bạo lực ngôn ngữ.

Hãy chung tay xây dựng một môi trường học đường an toàn, lành mạnh cho tất cả học sinh.

9 tháng 6 2016

Thoạt đọc qua, ta sẽ cảm thấy câu nói trên hơi khó hiểu. “Lí tưởng” là gì? Đó chính là cái đích của cuộc sống mà mỗi con người khát khao đạt được. Còn “ngọn đèn”, đó là một vật dùng để thắp sáng vào ban đêm, nhờ có nó mà ta thấy được rõ đường đi và những vật xung quanh. “Phương hướng kiên định” chính là mục tiêu, là đường lối xác định sẽ thực hiện một cách quyết tâm và không thay đổi. "Cuộc sống" là cuộc đời thực tiễn của mỗi người, nhưng đó sẽ là cuộc đời có ý nghĩa, cuộc đời tươi đẹp khi mà con người sống chứ không phải tồn tại. Cuộc sống đó là thành quả rực rỡ của một cuộc sống có lí tưởng. Qua đó, ta thấy câu nói của Lép Tôn-xtôi mang một ‎nghĩa rất rõ ràng: sống trên đời, mỗi con người cần phải có riêng cho mình một lý tưởng sống, đó chính là ngọn đèn chỉ phương rõ ràng nhất. “Lý tưởng” rất quan trọng với chúng ta. Vì nếu sống mà không có lí tưởng thì chúng ta sẽ khó mà xác định những việc nên làm, còn nếu có xác định được thì cũng không có quyết tâm để thực hiện cho tới nơi chốn. Như trong học tập, nếu không chắc chắn mục tiêu học để làm gì thì khi gặp khó khăn, ta dễ buông xuôi và không chịu cố gắng. Bên cạnh đó, khả năng thực hiện sai hướng hay cảm thấy khó khăn hơn khi không xác định được lý tưởng là rất lớn. Chẳng hạn ta muốn trở thành bác sĩ nhưng không xác định được là sẽ trở thành bác sĩ gì, thì khi dấn thân vào con đường học vấn ta sẽ cảm thấy lạc lõng với chính mục tiêu mình đề ra. Và cuộc sống sẽ tẻ nhạt biết bao khi con người ta sống thiếu “lí tưởng”. Thiếu lí tưởng, ta dễ nản chí, ta dễ cảm thấy buồn chán với chính cuộc đời của mình. Vậy một người có lý tưởng là người như thế nào? Đó chính là người luôn xác định rõ mục tiêu sống và tận tuỵ với những việc mà mình cần hoàn thành, thể hiện rõ thái độ quyết tâm vươn tới sự hoàn thiên bản thân, mong muốn cống hiến cho sự nghiệp chung. Hơn thế nữa đó là một người sẵn sàng hi sinh cho lí tưởng của mình, chấp nhận sự thất bại và khó khăn để đạt đến cái đích cuối cùng của cuộc đời. Đôi khi lí tưởng của một người chỉ là kiếm được việc làm ổn định và có một gia đình đầm ấm nhưng để thực hiện được thì người đó cũng phải trải qua nhiều khó khăn. Và dù cho đó chỉ là một lí tưởng tưởng chừng như rất đơn giản nhưng vẫn xứng đáng nhận được sự tôn trọng từ những người xung quanh. Vì người đó đã có được lí tưởng riêng để thực hiên chứ không như nhiều người sống hơn nửa cuộc đời vẫn chưa biết đâu là lí tưởng của đời mình và vẫn còn đang quẩn quanh…Ngày 5-6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi với một lí tưởng suốt đời “tìm ra con đường giải phóng đất nước, quyết tâm vì Tổ quốc độc lập, vì dân tộc Việt Nam tự do và bền vững”. Đó cũng chính là lí tưởng của tất cả thanh niên trong thời chiến. Nhưng ngày nay khi đất nước ta đã hoàn toàn độc lập và đang trên đà phát triển nhanh thì lí tưởng của thanh niên đã khác đi rất nhiều. Tất nhiên mỗi thanh niên sẽ có cho mình một lí tưởng riêng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh sống, địa vị và cách sống của mỗi người nhưng nếu lí tưởng đó chỉ phục vụ cho lợi ích của bản thân thì đó không hoàn toàn là lý tưởng mà đó chính là lối suy nghĩ ích kỉ và cá nhân. Vì thế thanh niên ngày nay cần có mộtlý tưởng chung là: không ngừng phấn đấu vì một đất nước Việt Nam “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”. Mà muốn có được những lí tưởng có ‎ nghĩa cho bản thân và cho xã hội như vậy thì mỗi người nhất là thanh niên học sinh ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường đã xác định được cho mình mục đích của việc học tập, phân biệt được mục đích đó là đúng hay sai và xác định xem khả năng của mình có thực hiện được hay không. Bên cạnh đó cần biết lắng nghe lời khuyên của những người xung quanh như cha mẹ, thầy cô để có một “phương hướng kiên định” cho chính mình. Một xã hội sẽ phát triển vững bền khi có những con người có chung một lí tưởng cao đẹp là sống vì Tổ quốc, vì mọi người.

            Câu nói của Lép Tôn-xtôi đã để lại nhiều ‎nghĩa thật sâu sắc và đầy tính nhân văn khi ông đã nhấn mạnh sự quan trọng của lý tưởng đối với mỗi người qua việc ví lý tưởng với phương hướng kiên định và cuộc sống. Cuộc sống ngày càng khác đi, mỗi người chúng ta cần có một lý tưởng để thực hiện trong cuộc đời, em cũng vậy, em sẽ luôn phấn đấu để hoàn thành lý tưởng của mình: trở thành một công dân có ích cho xã hội, đóng góp sức mình vì sự nghiệp chung của dân tộc. Để mỗi ngày trôi qua, sẽ có thêm một ngày mới được chiếu sáng bởi lý tưởng cuộc đời..

12 tháng 6 2016

Thoạt đọc qua, ta sẽ cảm thấy câu nói trên hơi khó hiểu. “Lí tưởng” là gì? Đó chính là cái đích của cuộc sống mà mỗi con người khát khao đạt được. Còn “ngọn đèn”, đó là một vật dùng để thắp sáng vào ban đêm, nhờ có nó mà ta thấy được rõ đường đi và những vật xung quanh. “Phương hướng kiên định” chính là mục tiêu, là đường lối xác định sẽ thực hiện một cách quyết tâm và không thay đổi. "Cuộc sống" là cuộc đời thực tiễn của mỗi người, nhưng đó sẽ là cuộc đời có ý nghĩa, cuộc đời tươi đẹp khi mà con người sống chứ không phải tồn tại. Cuộc sống đó là thành quả rực rỡ của một cuộc sống có lí tưởng. Qua đó, ta thấy câu nói của Lép Tôn-xtôi mang một ‎nghĩa rất rõ ràng: sống trên đời, mỗi con người cần phải có riêng cho mình một lý tưởng sống, đó chính là ngọn đèn chỉ phương rõ ràng nhất. “Lý tưởng” rất quan trọng với chúng ta. Vì nếu sống mà không có lí tưởng thì chúng ta sẽ khó mà xác định những việc nên làm, còn nếu có xác định được thì cũng không có quyết tâm để thực hiện cho tới nơi chốn. Như trong học tập, nếu không chắc chắn mục tiêu học để làm gì thì khi gặp khó khăn, ta dễ buông xuôi và không chịu cố gắng. Bên cạnh đó, khả năng thực hiện sai hướng hay cảm thấy khó khăn hơn khi không xác định được lý tưởng là rất lớn. Chẳng hạn ta muốn trở thành bác sĩ nhưng không xác định được là sẽ trở thành bác sĩ gì, thì khi dấn thân vào con đường học vấn ta sẽ cảm thấy lạc lõng với chính mục tiêu mình đề ra. Và cuộc sống sẽ tẻ nhạt biết bao khi con người ta sống thiếu “lí tưởng”. Thiếu lí tưởng, ta dễ nản chí, ta dễ cảm thấy buồn chán với chính cuộc đời của mình. Vậy một người có lý tưởng là người như thế nào? Đó chính là người luôn xác định rõ mục tiêu sống và tận tuỵ với những việc mà mình cần hoàn thành, thể hiện rõ thái độ quyết tâm vươn tới sự hoàn thiên bản thân, mong muốn cống hiến cho sự nghiệp chung. Hơn thế nữa đó là một người sẵn sàng hi sinh cho lí tưởng của mình, chấp nhận sự thất bại và khó khăn để đạt đến cái đích cuối cùng của cuộc đời. Đôi khi lí tưởng của một người chỉ là kiếm được việc làm ổn định và có một gia đình đầm ấm nhưng để thực hiện được thì người đó cũng phải trải qua nhiều khó khăn. Và dù cho đó chỉ là một lí tưởng tưởng chừng như rất đơn giản nhưng vẫn xứng đáng nhận được sự tôn trọng từ những người xung quanh. Vì người đó đã có được lí tưởng riêng để thực hiên chứ không như nhiều người sống hơn nửa cuộc đời vẫn chưa biết đâu là lí tưởng của đời mình và vẫn còn đang quẩn quanh…Ngày 5-6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi với một lí tưởng suốt đời “tìm ra con đường giải phóng đất nước, quyết tâm vì Tổ quốc độc lập, vì dân tộc Việt Nam tự do và bền vững”. Đó cũng chính là lí tưởng của tất cả thanh niên trong thời chiến. Nhưng ngày nay khi đất nước ta đã hoàn toàn độc lập và đang trên đà phát triển nhanh thì lí tưởng của thanh niên đã khác đi rất nhiều. Tất nhiên mỗi thanh niên sẽ có cho mình một lí tưởng riêng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh sống, địa vị và cách sống của mỗi người nhưng nếu lí tưởng đó chỉ phục vụ cho lợi ích của bản thân thì đó không hoàn toàn là lý tưởng mà đó chính là lối suy nghĩ ích kỉ và cá nhân. Vì thế thanh niên ngày nay cần có mộtlý tưởng chung là: không ngừng phấn đấu vì một đất nước Việt Nam “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”. Mà muốn có được những lí tưởng có ‎ nghĩa cho bản thân và cho xã hội như vậy thì mỗi người nhất là thanh niên học sinh ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường đã xác định được cho mình mục đích của việc học tập, phân biệt được mục đích đó là đúng hay sai và xác định xem khả năng của mình có thực hiện được hay không. Bên cạnh đó cần biết lắng nghe lời khuyên của những người xung quanh như cha mẹ, thầy cô để có một “phương hướng kiên định” cho chính mình. Một xã hội sẽ phát triển vững bền khi có những con người có chung một lí tưởng cao đẹp là sống vì Tổ quốc, vì mọi người.

            Câu nói của Lép Tôn-xtôi đã để lại nhiều ‎nghĩa thật sâu sắc và đầy tính nhân văn khi ông đã nhấn mạnh sự quan trọng của lý tưởng đối với mỗi người qua việc ví lý tưởng với phương hướng kiên định và cuộc sống. Cuộc sống ngày càng khác đi, mỗi người chúng ta cần có một lý tưởng để thực hiện trong cuộc đời, em cũng vậy, em sẽ luôn phấn đấu để hoàn thành lý tưởng của mình: trở thành một công dân có ích cho xã hội, đóng góp sức mình vì sự nghiệp chung của dân tộc. Để mỗi ngày trôi qua, sẽ có thêm một ngày mới được chiếu sáng bởi lý tưởng cuộc đời..

19 tháng 1 2018

Phương pháp trên là cách lập ý của nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học.

Đáp án cần chọn là: B

Mọi ng cho em ý kiến vs ạHiện tg: đừng đổ lỗi cho hoàn cảnhMỗi đứa trẻ sinh ra và trong quá trình lớn lên đều bị ảnh hưởng từ phía gia đình và xã hội. Trong đó gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách. Hành động của cha và mẹ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ, cách sống và hành động trong tương lai của trẻ. Và câu chuyện sau đây chính là minh...
Đọc tiếp

Mọi ng cho em ý kiến vs ạ

Hiện tg: đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh

Mỗi đứa trẻ sinh ra và trong quá trình lớn lên đều bị ảnh hưởng từ phía gia đình và xã hội. Trong đó gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách. Hành động của cha và mẹ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ, cách sống và hành động trong tương lai của trẻ. Và câu chuyện sau đây chính là minh chứng của điều đó. Vậy bạn và tôi hãy cùng nhau phân tích để hiểu rõ hơn về vấn đề này. 

Câu chuyện kể về hai anh em song sinh có cùng một hoàn cảnh: có một người cha nghiện ngập nặng. Họ luôn phải chứng kiến những khung cảnh bạo lực của cha mẹ. Sau này người anh trưởng thành giống hoàn toàn người cha, còn người em thì trở thành người đi đầu trong phong trào phòng chống tệ nạn xã hội. Với câu hỏi được đặt ra là:" điều gì khiến anh trở nên như thế ? " Bất ngờ cả hai cùng một câu trả lời:" có một người cha như vậy đương nhiên tôi phải trở thành người như thế rồi. " Ta có thể thấy chỉ với một mẫu truyện nhỏ thôi nhưng đã lột trần ra bao hiện tượng như: bạo lực và tệ nạn xã hôi, sự ảnh hưởng của cha mẹ đến con cái hay là hiện tượng đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh là nổi bật hơn cả. Hiện tượng trên muốn cho người đọc biết rằng hãy biết vươn lên, chống lại hoàn cảnh mà đừng để hoàn cảnh vùi dập để rồi chỉ biết đổ lỗi ngược lại. 

Vậy thì tại sao hiện tượng đổ lỗi cho hoàn cảnh lại xảy ra phổ biến như vậy? Liệu đây là một hiện tượng mới xảy ra hay là đã xảy ra từ trước đó? Và điều gì làm xuất hiện hiện tượng này? Trước đó ta hãy hiểu rõ về gia đình- một nhân tố quan trọng trong việc hình thành nên tính cách này. Con người sinh ra và trưởng thành trong một nơi gọi là "gia đình". Đó chính là nơi mà bạn được yêu thương, hạnh phúc, được chở che... Cho dù sau này bạn đã bước chân ra ngoài xã hội gặp phải nhiều khó khăn không thể tự mình vượt qua thì vẫn có gia đình là hậu phương vững chắc, luôn âm thành tạo điều kiện, bảo vệ và cùng bạn vượt qua. Thế nhưng lại có nhiều gia đình hoàn toàn ngược lại, đó không còn là một nơi ấm áp nữa mà đã trở thành nơi gieo rắt những hạt giống suy tàn, đồi bại tuy nhiên vẫn có những hạt giống vươn lên tìm được ánh sáng cho chính mình. Chính vì thế mà ta có thể nói gia đình rất quan trọng. 

Đổ lỗi cho hoàn cảnh là một hiện tượng khá phổ biến và xuất hiện từ xưa đến nay chưa bao giờ chấm dứt. Như trong trường học, học sình thường đổ lỗi cho việc chưa học bài hay làm bài tập bằng lí do bài quá khó, quá dài, giáo Viên giảng không hiểu. Khi ta đạt kết quả thi không như mong muốn thì lại có thêm hàng trăm lí do để đổ lỗi. Hay trong công việc khi mà bạn không hoàn thành các công việc được giao bạn lại viện cớ vì số lượng công việc, vì không đủ thời gian hay bất cứ điều gì mà bạn có thể nghĩ ra. Trong cuộc sống bạn cũng có thể lấy đổ lỗi cho hoàn cảnh để che dấu cho sự thật rằng bạn yếu đuối, gục ngã, không đủ sức mạnh lí trí để vượt qua như hoàn cảnh người anh trong câu chuyện. Thế đấy, con người hầu như dùng hoàn cảnh để làm lí do che dấu, vậy ai cũng như thế ư? Ai cũng trốn tránh không dám đối mặt, vươn lên ư? Song song với những người tiêu cực thì vẫn có những con người biết vươn lên, biết đấu tranh với nghịch cảnh, họ còn lấy hoàn cảnh để làm động lực cho bước tiến đầu tiên - bước đầu đến con đường trải hoa hồng. Nơi mà họ nhận được thành quả sau khi trải qua bao gian khổ, vượt qua bao chông gai, đối mặt với hàng thử thách. Vì vậy những người tiến lên phía trước là những người muốn tìm hoàn cảnh mà họ khao khát, nếu không thấy hãy tự tạo ra nó, đừng từ bỏ. 

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đổ lỗi cho hoàn cảnh, từ nguyên nhân nhỏ đến lớn. Như đã nhắc đến ở trên "gia đình" là một phần nguyên nhân tác động trực tiếp đến nhân cách con người. Gia đình tốt, có gia giáo, có đạo đức chuẩn mực có thể hình thành cho bạn một nhân cách tốt tuy nhiên điều đó chưa hẳn là đúng bởi vẫn có nhiều trường hợp trái ngược lại, nên nó còn phụ thuộc vào ý thức cá nhân của mỗi người. Tiếp đó là nhà trường- nơi mà bạn được dạy về đạo đức, lối sống... Và do chính bản thân bạn, khi mà sau những lần sai bạn lại viện cớ lí do, nếu bạn cứ lặp lại điều này thì nó sẽ dần trở thành một vũ khí hủy hoại chính bạn. Đừng để bản thân sa vào vùng lẫy do chính mình tạo ra. 

Nếu con người cứ tiếp tục tiếp diễn hiện tượng này thì một ngày không xa sẽ trở thành những người vô trách nhiệm chỉ biết trối bỏ mọi thứ, buông xuôi cho bản thân sống không có tương lai và sẽ tạo thành một thói quen nguy hiểm, nhân cách xấu xa. Nếu ai cũng như thế này thì xã hội sẽ trở nên thoái hoá, không phát triển, yếu kém

Để thay đổi tình trạng này thì đầu tiên mỗi người trong gia đình hãy là tấm gương sáng cho con noi theo, biết giáo dục con đúng cách, theo chiều hướng tốt, biết dạy trẻ nhận sai khi phạm sai lầm, biết tự đứng dậy sau mỗi lần gục ngã. Đồng thời cần có những buổi tuyên truyền, giáo dục hướng trẻ đến một lí tưởng. 

 

 

 

 

 

2
11 tháng 8 2021

còn cái nịt

20 tháng 10 2022

Hảo hán

Tác động của Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đến việc làm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở tỉnh Thái Nguyên.1. Đặt vấn đề Lý do chọn đề tài: Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang thay đổi mạnh mẽ mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có thị trường lao động và hoạt động của các DNNVV, một khu vực kinh tế quan trọng ở tỉnh Thái Nguyên. Việc nghiên cứu tác động này sẽ...
Đọc tiếp

Tác động của Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đến việc làm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở tỉnh Thái Nguyên.

1. Đặt vấn đề

Lý do chọn đề tài: Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang thay đổi mạnh mẽ mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có thị trường lao động và hoạt động của các DNNVV, một khu vực kinh tế quan trọng ở tỉnh Thái Nguyên. Việc nghiên cứu tác động này sẽ giúp hiểu rõ hơn về những thay đổi, thách thức và cơ hội để từ đó đề xuất giải pháp phù hợp

Mục đích nghiên cứu

-Phân tích các công nghệ cốt lõi của Cách mạng Công nghiệp 4.0 và những ứng dụng phổ biến trong các DNNVV.

-Đánh giá tác động của các công nghệ này đến việc làm trong các DNNVV ở Thái Nguyên (về nhu cầu lao động, kỹ năng, cơ cấu việc làm).

-Đề xuất các giải pháp giúp DNNVV thích ứng và tận dụng lợi thế của Công nghiệp 4.0, đồng thời giảm thiểu những rủi ro về lao động

Đối tượng nghiên cứu

-Về không gian: Các DNNVV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

-Về thời gian: Giai đoạn 5 năm gần đây, khi các công nghệ 4.0 bắt đầu có ảnh hưởng rõ rệt.

-Về nội dung: Tập trung vào các công nghệ như Trí tuệ nhân tạo (AI), Dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), Điện toán đám mây

-Tổng quan nghiên cứu

-Cơ sở lý thuyết: Trình bày các khái niệm về Công nghiệp 4.0, các công nghệ nền tảng (AI, Big Data, IoT, Cloud Computing), và các lý thuyết về sự chuyển đổi số, tác động của công nghệ đến thị trường lao động.

-Các nghiên cứu liên quan: Tóm tắt những nghiên cứu trước đó về tác động của Công nghiệp 4.0 đến việc làm, đặc biệt là đối với khu vực DNNVV và bối cảnh Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

*Phương pháp thu thập dữ liệu:

-Phỏng vấn sâu: Thực hiện với lãnh đạo các DNNVV, các chuyên gia về công nghệ và nhân sự tại Thái Nguyên.

-Khảo sát bảng hỏi: Gửi bảng hỏi cho các nhà quản lý và nhân viên trong các DNNVV để thu thập thông tin về việc ứng dụng công nghệ và những thay đổi trong việc làm.

*Phương pháp phân tích dữ liệu

-Phân tích định tính các nội dung phỏng vấn để tìm ra các xu hướng và xu hướng chung.

-Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích dữ liệu khảo sát.

Kết quả dự kiến

-Xác định các công nghệ 4.0 nào đang được ứng dụng phổ biến trong các DNNVV ở Thái Nguyên.

-Phân tích những thay đổi cụ thể trong cơ cấu việc làm, yêu cầu kỹ năng lao động.

-Đề xuất các giải pháp thiết thực cho các DNNVV, chính quyền địa phương để nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên số. 


0
13 tháng 5 2017

+ Tạo tác: sự sáng tạo của dân tộc.

+ Đồng hóa: tiếp thu một cách chủ động, có sàng lọc những giá trị văn hóa bên ngoài.

- Khẳng định của tác giả: có cơ sở và căn cứ.

+ Dân tộc ta trải qua thời gian dài bị đô hộ, đồng hóa, nhiều giá trị văn hóa bị mai một, xóa nhòa => không thể chỉ trông cậy vào sự tạo tác.

+ Chúng ta tiếp thu văn hóa bên ngoài những không rập khuôn và máy móc mà có sự chọn lọc và biến đổi cho phù hợp.

Ví dụ:

- Trong chữ viết, thơ ca:

+ Tiếp thu chữ Hán và dùng trong thời gian dài => sau đó sáng tạo ra chữ Nôm.

+ Tiếp thu các thể loại văn học của Trung Quốc: thơ thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú ... => sáng tạo ra song thất lục bát, những biến thể trong thơ bát cú....

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU: GIÁ TRỊ NỘI DUNG TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO CỦA NAM CAOI. ĐẶT VẤN ĐỀ1. Lý do chọn đề tài:- Tác phẩm chứa đựng những giá trị nội dung có ý nghĩa thời sự và lâu dài, góp phần quan trọng trong việc giáo dục nhận thức và bồi dưỡng tâm hồn cho người đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ.- Nghiên cứu giá trị nội dung giúp hiểu rõ hơn về tư tưởng, nghệ thuật của Nam Cao...
Đọc tiếp

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU: GIÁ TRỊ NỘI DUNG TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO CỦA NAM CAO
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
- Tác phẩm chứa đựng những giá trị nội dung có ý nghĩa thời sự và lâu dài, góp phần quan trọng trong việc giáo dục nhận thức và bồi dưỡng tâm hồn cho người đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ.
- Nghiên cứu giá trị nội dung giúp hiểu rõ hơn về tư tưởng, nghệ thuật của Nam Cao và tầm vóc của tác phẩm.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Giá trị nội dung của truyện ngắn "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao.
- Phạm vi: Tập trung phân tích các tầng nghĩa, tư tưởng mà tác phẩm truyền tải, xoay quanh số phận con người, hiện thực xã hội, và triết lý sống được nhà văn gửi gắm.
. Mục đích nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ những giá trị nội dung nổi bật của tác phẩm "Chí Phèo"
- Phân tích cách Nam Cao xây dựng nội dung và nhân vật
- Khẳng định ý nghĩa, tầm vóc của tác phẩm trong nền văn học Việt Nam và giá trị giáo dục, nhận thức đối với người đọc ngày nay.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học.
- Phương pháp thống kê, phân loại.
- Phương pháp so sánh, tổng hợp.
Phương pháp tiếp cận theo hướng loại hình văn học (truyện ngắn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa nhân đạo).
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TIỀN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Giới thiệu chung về tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo:
* Tác giả Nam Cao: Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, quan điểm nghệ thuật, phong cách văn học (đặc biệt là giai đoạn hiện thực phê phán và chủ nghĩa nhân đạo).
* Tác phẩm Chí Phèo:
* Hoàn cảnh ra đời, vị trí trong sự nghiệp của Nam Cao và trong nền văn học dân tộc.
* Tóm tắt cốt truyện chính.
1.2. Các khái niệm cơ bản:
* Giá trị nội dung: Bao gồm các ý nghĩa về hiện thực, tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ mà tác phẩm mang lại.
* Chủ nghĩa hiện thực phê phán: Đặc điểm, vai trò trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945.
* Chủ nghĩa nhân đạo: Biểu hiện, ý nghĩa trong các tác phẩm văn học.
1.3. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về "Chí Phèo":
* Tổng quan về các bài phê bình, nghiên cứu, luận văn đã có về giá trị nội dung của tác phẩm.
* Nhận diện những khía cạnh đã được khai thác sâu và những vấn đề còn có thể tiếp tục tìm hiểu.
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ NỘI DUNG TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO
2.1. Giá trị hiện thực: Bức tranh chân thực về xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
* Bức tranh về tầng lớp nông dân:
* Số phận bi thảm, bị lưu manh hóa, tha hóa trong xã hội cũ. Phân tích quá trình biến đổi của Chí Phèo từ người nông dân lương thiện thành kẻ lưu manh.
* Cuộc sống cùng quẫn, bế tắc, không lối thoát của người nông dân dưới ách thống trị của giai cấp cường hào, ác bá và nhà tù thực dân.
* Bức tranh về xã hội:
* Sự tàn bạo, bất công của xã hội phong kiến thực dân. Vai trò của bọn cường hào, ác bá (Bá Kiến) trong việc đẩy con người vào bước đường cùng.
* Luận điệu về sự tha hóa, hủy hoại nhân hình, nhân tính của con người trong xã hội đó.
2.2. Giá trị nhân đạo: Tấm lòng yêu thương và niềm tin vào bản chất con người.
* Tố cáo tội ác của xã hội:
* Sự lên án gay gắt đối với xã hội đã "trù úm" con người, "bóp chết" nhân hình và nhân tính của họ.
* Phân tích những chi tiết thể hiện sự tàn bạo của xã hội đối với Chí Phèo.
* Đồng cảm, xót thương cho số phận con người:
* Cảm thông sâu sắc với bi kịch của Chí Phèo, một con người "trước hết là nạn nhân".
* Phân tích những khát vọng lương thiện, chính đáng của con người ngay cả khi họ đã sa ngã.
* Khẳng định, trân trọng vẻ đẹp, bản chất tốt đẹp của con người:
* Niềm tin mãnh liệt vào "cái thiện còn ẩn náu" trong con người, dù bị vùi dập. Phân tích sự thức tỉnh lương tri của Chí Phèo khi gặp Thị Nở.
* Hình ảnh Thị Nở - một biểu tượng của vẻ đẹp tâm hồn bình dị, tình người.
* Khẳng định khát vọng được sống, được làm người lương thiện là điều cốt lõi, thiêng liêng nhất.
* Lời cảnh tỉnh về tương lai:
* Ý nghĩa cảnh báo về số phận của những người nông dân nếu xã hội không thay đổi.
2.3. Ý nghĩa tư tưởng và nghệ thuật của giá trị nội dung:
* Thông điệp nhân văn sâu sắc mà tác phẩm gửi gắm.
* Tầm quan trọng của việc trân trọng, bảo vệ giá trị làm người.
* Sự gắn kết giữa giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật (nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, miêu tả tâm lí, ngôn ngữ...).
KẾT LUẬN
1. Khái quát lại những giá trị nội dung chính của tác phẩm "Chí Phèo".
2. Nhấn mạnh ý nghĩa, tầm vóc của tác phẩm trong nền văn học và đối với người đọc hiện nay.

3. Định hướng những vấn đề có thể để nghiên cứu sâu hơn.

0