Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Đáp án C
Những hoạt động ngoại giao của Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong năm 1946 cho thấy thiện chí giải quyết những xung đột bằng biện pháp hòa bình, chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng khi cả hai không thể tiếp tục thương lượng được nữa. Những biện pháp ngoại giao này được thể hiện cụ thế đối với Trung Hoa Dân quốc và Pháp:
- Từ ngày 2-9-1945 đến 6-3-1946: hòa hoãn với Trung Hoa Dân quốc để tập trung đánh Pháp ở miền Nam. Cụ thể là nhượng cho quân Trung Hoa Dân quốc một số quyền lợi về chính trị và kinh tế.
- Từ ngày 6-2-1946 đến trước ngày 19-12-1946:
+ Kí với Pháp bản Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) nhằm hòa với Pháp để đuổi quân Trung Hoa Dân quốc ra khỏi nước ta.
+ Kí với Pháp bản Tam ược ước (14-9-1946) nhượng cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hóa.
Chào em, Dưới đây là phân tích ngắn gọn về sáu truyền thống quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam theo chương trình Lịch sử 12: 1. Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng. Trong suốt sự nghiệp, Đảng ta luôn giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, không dao động trước mọi khó khăn, nguy cơ. Cùng với sự kiên định, Đảng chú trọng rèn luyện đội ngũ cán bộ về bản lĩnh và lập trường chính trị. 2. Tinh thần dân tộc, độc lập, tự chủ và sáng tạo. Đảng luôn nâu cao tinh thần dân tộc, tự lực tự cường; đồng thời sáng tạo vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, linh hoạt trong đường lối, biện pháp, vượt qua thách thức. 3. Kiên định với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động của Đảng. Chủ nghĩa Mác-Lênin cung cấp cơ sở lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh giúp Đảng vận dụng sáng tạo và bổ sung theo thực tiễn Việt Nam, bảo đảm con đường cách mạng đúng đăn. 4. Trung thành với lợi ích dân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của nhân dân, quyền lợi của dân tộc. Sức mạnh của Đảng đến từ sự gắn bó với quần chúng và sự tin yêu của nhân dân. 5. Kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ. Đây là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng: bàn bàn dân chủ rộng rãi rồi thống nhất quyết định và chấp hành nghiêm túc. Hồ Chí Minh khẳng định "Tập trung trên nền tảng dân chủ; dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung". Mỗi đảng viên được nói, được bàn nhưng khi đã quyết định thì phải tuân thủ nghiêm. 6. Giữ gìn đoàn kết nội bộ và đoàn kết quốc tế. Đoàn kết là nguồn sức mạnh của Đảng. Đảng coi trọng đoàn kết trong nội bộ, xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân, đàn kết dân tộc và hợp tác quốc tế vì hoà bình và phát triển. Tóm lại, sáu truyền thống trên là nền tảng giúss Đảng Cộng sản Việt Nam vượt qua mọi thữa thách và làm nên những thắng lợi lịch sử của dân tộc.
Đáp án D
Cách mạng tháng Tám để lại bài học về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân: Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 là một minh chứng hùng hồn trong thực tiễn, khẳng định vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cách mạng, của khối đại đoàn kết: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công", với các hình thức vận động, tập hợp và quy tụ quần chúng phù hợp, hoạt động hiệu quả. Đặc biệt, các hình thức Mặt trận, trong đó Mặt trận Việt Minh "coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do độc lập”, với các tổ chức quần chúng như Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc…. đã không chỉ quy tụ, mà còn là nơi các tầng lớp nhân dân tham gia tham đóng góp sức mình vào công việc của của nước nhà.
Với ý nghĩa đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay phải tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phải đổi mới phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức tổ chức, để phát huy vai trò, nhất là giám sát và phản biện xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đáp án B
- Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, xã hội Việt Nam có các giai cấp: công nhân, nông dân và địa chủ phong kiến. Tư sản và tiểu tư sản mới chỉ hình thành các bộ phận, nhỏ về số lượng.
- Đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, hai bộ phận tư sản và tiểu tư sản phát triển nhanh về số lượng và thế lực, hình thành hai giai cấp mới
Đáp án B
Kể từ khi ra đời năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam đã giương cao hai ngọn cờ chiến lược là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (chống Pháp, Mĩ giành độc lập dân tộc và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội). Thực tiễn quá trình đấu tranh để giành, bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay đều dựa trên nguyên tắc cơ bản này.