Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
1. Gắn với lễ hội Tây Sơn – Đống Đa (Bình Định – đất Tây Sơn) “Ai về Bình Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.” “Bình Định có núi Vọng Phu Có đầm Thị Nại, có vua Quang Trung.” “Rủ nhau xem hội Đống Đa Cờ bay phấp phới, nhà nhà vui xuân.” (Câu dân gian truyền miệng)
2. Gắn với lễ hội Cầu Ngư (vùng biển Quy Nhơn – Nhơn Hải – Nhơn Lý) “Tháng Giêng xem hội Cầu Ngư Ngư dân cầu biển yên bờ, tôm cá đầy khoang.” (Dân gian địa phương) “Biển Quy Nhơn sóng xanh rờn Cầu Ngư mở hội, chúc mùa tốt tươi.” (Dân gian)
3. Gắn với lễ hội Đồi Trọc – Hội Bà (Phù Cát, Phù Mỹ) “Hội Bà làng tấp nập người Cầu cho mưa thuận, đúng thời được mùa.” “Mùng Sáu tháng Hai hội Bà Dân làng trẩy hội, chan hòa niềm vui.”
4. Câu dân gian nói về văn hóa Bình Định (gắn với lễ hội & nét truyền thống) “Đất Võ trời văn, Bình Định anh hùng.” “Bình Định đất võ trời văn Trai thì đánh võ, gái thì cầm roi.” “Đất Tây Sơn gió nồm lồng lộng Hội mở tưng bừng nhớ đấng Quang Trung.”
b. Xác định mục đích văn bản
c. Xác định nội dung và tên loại văn bản
d. Xác định đối tượng nhận văn bản
- Kể tên những nghề truyền thống ở nước ta mà em biết: nghề dệt vải, nghề làm gốm, đan giỏ, nghề làm nón, tráng bánh…
- Nghề truyền thống có những hoạt động đặc trưng: Làm việc tập thể, theo một khuân mẫu, đề cao chất lượng sản phẩm.
- Nghề truyền thống có vai trò đối với người dân và xã hội: là bản sắc văn hóa dân tộc tạo công ăn việc làm cho nhiều người, giúp có thu nhập ổn định, tạo nên làng nghề truyền thống cho dân tộc…
- Liên hệ thực tế: Ở địa phương em có nghề truyền thống: làm đậu, tráng bánh, đan giỏ
Chia sẻ với các bạn trong nhóm về những nghề truyền thống ở quê hương mình.
Trong thời kỳ Lý-Trần-Hồ, di dân là một hiện tượng phổ biến và có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của cộng đồng dân cư Thừa Thiên Huế. Cụ thể, di dân đã góp phần đưa đến sự đa dạng về văn hóa, kinh tế và xã hội của vùng đất này.
Về mặt văn hóa, di dân đã đưa đến sự pha trộn giữa các nền văn hóa khác nhau, tạo nên sự đa dạng và phong phú trong văn hóa địa phương. Điều này được thể hiện qua các nét văn hóa đặc trưng của Thừa Thiên Huế như âm nhạc, múa rối, múa xòe, văn hóa ẩm thực, trang phục, nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc, v.v.
Về mặt kinh tế, di dân đã đưa đến sự phát triển của các ngành nghề truyền thống như nghề dệt, nghề gốm, nghề mộc, nghề thủ công, v.v. Điều này đã tạo ra sự đa dạng trong sản phẩm và đưa đến sự phát triển của thương mại và kinh tế địa phương.
Về mặt xã hội, di dân đã đưa đến sự đa dạng về dân tộc, tôn giáo và phong tục tập quán. Điều này đã tạo ra sự đa dạng và phong phú trong văn hóa và xã hội địa phương.
Tóm lại, di dân đã góp phần đưa đến sự đa dạng và phong phú trong văn hóa, kinh tế và xã hội của Thừa Thiên Huế trong thời kỳ Lý-Trần-Hồ.
14.1. Chính quyền địa phương cần làm gì? Làm như thế nào? Chính quyền địa phương cần xây dựng môi trường sống an toàn cho trẻ em bằng việc ban hành các quy định phòng chống xâm hại, giám sát chặt chẽ những điểm nguy hiểm và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. UBND và HĐND huyện phải phối hợp với Phòng Giáo dục, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức tuyên truyền, tập huấn kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ em và cha mẹ. Đồng thời, cần mở đường dây nóng, tiếp nhận thông tin và can thiệp kịp thời khi xảy ra bạo lực hoặc xâm hại trẻ em.
14.2. Công an huyện và công an xã phải làm gì? Làm như thế nào? Công an phải tăng cường kiểm tra, giám sát khu dân cư, đặc biệt tại những nơi dễ xảy ra xâm hại như khu trọ, công viên, bãi đất trống. Họ cần tiếp nhận và xử lý nhanh các tin báo, bảo vệ nạn nhân, điều tra minh bạch để răn đe. Ngoài ra, công an có thể trực tiếp tổ chức các buổi nói chuyện ở trường học, hướng dẫn học sinh cách nhận biết nguy hiểm và cách cầu cứu khi bị xâm hại.
14.3. Nhà trường và thầy cô cần làm gì? Làm như thế nào? Nhà trường phải tạo môi trường học tập an toàn, nói không với bạo lực và kỳ thị giới tính. Thầy cô cần lồng ghép giáo dục giới tính, kỹ năng phòng vệ vào các tiết học hoặc hoạt động ngoại khóa. Đồng thời, thầy cô phải quan tâm đến học sinh, kịp thời phát hiện dấu hiệu bất thường để phối hợp với gia đình và chính quyền xử lý, giúp học sinh được bảo vệ tốt nhất.
14.4. Cha mẹ và người thân cần làm gì? Làm như thế nào? Cha mẹ cần gần gũi, lắng nghe con, dạy con kiến thức về giới tính và cách tránh xa nguy hiểm. Gia đình nên theo dõi việc đi lại, bạn bè và môi trường sống của con, không để con tiếp xúc với người lạ thiếu an toàn. Quan trọng nhất là cha mẹ phải tạo sự tin tưởng để trẻ dám nói khi gặp chuyện, từ đó kịp thời bảo vệ con.
14.5. Các đoàn thể quần chúng cần làm gì? Làm như thế nào? Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ và các tổ chức xã hội cần tổ chức tuyên truyền về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực, tạo sân chơi lành mạnh để trẻ em tham gia. Họ cũng có thể thành lập nhóm tình nguyện hỗ trợ trẻ bị bạo lực, phối hợp với chính quyền để phát hiện và ngăn chặn sớm các hành vi xâm hại trong cộng đồng.
15. Trẻ em chúng mình có thể làm gì để tự bảo vệ bản thân và các bạn khác? Trẻ em cần học cách nhận biết hành vi xâm hại, không đi theo người lạ, không đến nơi vắng vẻ một mình và phải nói “không” khi ai đó cố ý đụng chạm vào vùng nhạy cảm. Chúng ta phải mạnh dạn báo cho thầy cô, cha mẹ hoặc công an khi thấy mình hoặc bạn bè bị xâm hại hay bạo lực. Ngoài ra, trẻ em nên đoàn kết, giúp đỡ nhau và biết bảo vệ bạn yếu thế hơn để cùng nhau xây dựng môi trường sống an toàn.
Từ đầu Công nguyên cho đến thế kỷ XVII, trên dải đất miền Trung Việt Nam đã hình thành một Nhà nước Cổ đại, đó là Nhà nước Chămpa. Nhà nước Chămpa được xây dựng trên một nền tảng được kế thừa thành tựu văn hóa Sa Huỳnh trước đó, đồng thời tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa cùng nhiều yếu tố của các nền văn hóa khác trong khu vực. Dân tộc Chăm trong suốt 16 thế kỷ, khởi nguồn từ năm 192 và kết thúc vai trò lịch sử của nó đã để lại một nền văn hóa riêng, độc đáo, góp phần làm giàu kho tàng văn hóa của nhân loại và cũng như cộng đồng các dân tộc Việt Nam sau này.