Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Hai bức chân dung Thúy Vân và Thúy Kiều, bức chân dung Thúy Kiều nổi bật hơn
- Đúng với dụng ý tác giả: tái hiện cuộc đời đầy đau khổ của nàng Kiều tài hoa mệnh bạc
- Số câu thơ dành miêu tả Thúy Kiều nhiều hơn
- Thúy Vân gợi tả về sắc, tính cách còn, Thúy Kiều gợi tả vẻ đẹp sắc, tài, tâm hồn
- Tả Thúy Vân trước làm nổi bật Thúy Kiều
- Khi miêu tả Thuý Kiều và Thuý Vân, Nguyễn Du đã dự báo số phận của hai người. Điều đó là đúng, vẻ đẹp của Thuý Vân là một vẻ đẹp “mây thua, tuyết nhường", một vẻ đẹp có chút gì đó hiền hoà, chưa có sự đố kị với thiên nhiên, điều đó có thể dự báo được cuộc thời Thuý Vân bình lặng, suôn sẻ, không sóng gió.
- Trái lại, vẻ đẹp của Thuý Kiều là vẻ đẹp sắc sảo, làm cho “nghiêng nước, nghiêng thành”, đẹp đến hoa phải “ghen”, liễu phải “hờn”. Tài của Kiều đạt tới mức lí tưởng theo quan niệm thậm mỹ phong kiến gồm đủ cả cầm, kì, thi, họa. Đặc biệt tài đàn của nàng đã là sở trường, năng khiếu đặt biệt, vượt lên trên mọi người.. Một vẻ đẹp vượt trội, ngạo nghễ, thách thức với tự nhiên. Sự đối kị ấy khiến ta nghĩ đến tai hoạ sẽ đến với nàng. Điều này dự báo về cuộc sống đầy sóng gió, biến cố trong tương lai.
- Nguyễn Du cho rằng: “hồng nhan bạc mệnh”, “chữ tài liền với chữ tai một vần” - Thuý Kiều không chỉ đẹp mà còn có tài. Vì vậy, cuộc đời Thuý Kiều sẽ khó bề yên ổn, bình lặng. Nàng luôn gặp nhừng bất hạnh, khổ đau. Thực tế sau đó đã chứng minh cuộc đời Thuý Vân êm đềm, suôn sẻ. Còn cuộc đời Thuý Kiều thì đầy nỗi tủi nhục.
A. Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
B. Hoa cười ngọc thốt đoan trang.
C. Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
D. So bề tài sắc lại là phần hơn
- Hai câu thơ trên, câu đầu nói về Thúy Vân, câu sau nói về Thuý Kiều.
- Giống nhau: Tả nhan sắc hai nàng như vậy là Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng, một bút pháp quen thuộc của thơ ca cổ điển – dùng để tả nhân vật chính diện – lấy cái đẹp của tự nhiên để so sánh hoặc ngầm ví với cái đẹp của nhân vật. Từ đó tôn vinh cái đẹp của nhân vật. Ta dễ dàng hình dung nhan sắc của mỗi người. Thúy Vân tóc mượt mà, óng ả hơn mây, da trắng hơn tuyết. Còn Thuý Kiều, vẻ tươi thắm của nàng đến hoa cũng phải ghen, đến liễu phải hờn.
- Khác nhau:
Tả Thúy Vân Tả Thúy Kiều
Tác giả miêu tả Thúy Vân cụ thể từ khuôn mặt, nét mày, màu da, nước tóc, miệng cười, tiếng nói Þ để khắc họa một Thúy Vân đẹp, đoan trang, phúc hậu. Nêu ấn tượng tổng quát (sắc sảo, mặn mà), đặc tả đôi mắt. Miêu tả tác động vẻ đẹp của Thuý Kiều. Vẻ đẹp sắc sảo, thông minh của Thuý Kiều làm cho hoa, liễu phải hờn ghen, làm cho nước, thành phải nghiêng đổ Þ tác giả miêu tả nét đẹp của Kiều là để gợi tả vẻ đẹp tâm hồn Thúy Kiều.
Thông điệp nghệ thuật: Qua cái đẹp ấy, tác giả còn dự báo cho số phận của mỗi người. Thuý Vân đẹp đoan trang, phúc hậu, sẽ có một số phận may mắn, hạnh phúc. Còn Thuý Kiều đẹp sắc sảo, mặn mà sẽ có số phận đầy giông tố, bất hạnh.
câu đầu nói về Thúy Vân. Câu sau nói về Thúy Kiều
Giống : Đều miêu tả những nét đẹp chung của mỗi người rồi mới đến vẻ đẹp riêng của họ
Khác :
- Về hình thức : 4 câu đầu dành cho Thúy Vân, 12 câu còn lại miêu tả về Thúy Kiều
- Về cách miêu tả : qua cách miêu tả, tác giả đã đoán được số phận của họ
+ Thúy vân : Khuôn trăng đầy đặn là gương mặt ngời sáng, tròn như vầng trăng. Theo quan niệm người xưa, người con gái có gương mặt như vậy là hạnh phúc sau này. Không chỉ vậy, nhan sắc của Thúy Vân còn đến thiên nhiên phải khiêm nhường
+ Thúy kiều : Đôi mắt như làn nước mùa thu, tuy trong những nhìn vào thì nổi bật sự u buồn. Thiên nhiên không khiêm nhường nhưng lại ghen bộc lộ rõ những bản tính của con người. Nhờ vậy, ta thấy được những sự bất hạnh trong cuộc đời của nàng, khúc đàn của nàng cũng đã bộc lộ điều đấy
Em tham khảo nhé:
a,
Nhân hóa và ước lệ tượng trưng
Tác dụng:
Tăng sức gợi hình, gợi cảm, tạo nhịp điệu cho câu thơ
Nhấn mạnh vẻ đẹp dịu hiền, hài hòa của Vân
Tình cảm trân trọng ,yêu quý, dự cảm của tác giả về một tương lai êm đềm, hạnh phúc của Thúy Vân.
b,- BPTT
+ Ước lệ tượng trưng
+ Nhân hóa
+ Ẩn dụ
- Tác dụng
+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm
+ Nhấn mạnh vẻ đẹp của Thúy Kiều, một vẻ đẹp mà khiến cho cả hoa, liễu ( tượng trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên) phải "thua" phải "kém"
+ Dự báo một số phận cuộc đời của nàng.
Câu 1: Trích trong đoạn "Chị em Thúy Kiều". Câu đầu tiên nằm trong đoạn 2 (4 câu) tả Thúy Vân, câu thứ hai nằm trong đoạn 3 (6 câu) tả sắc của Thúy Kiều.
Câu 2: Câu đầu về Thúy Vân, câu sau về Thúy Kiều.
Tham khảo:
Câu 3:
Giống : Đều miêu tả những nét đẹp chung của mỗi người rồi mới đến vẻ đẹp riêng của họ
Khác :
- Về hình thức : 4 câu đầu dành cho Thúy Vân, 12 câu còn lại miêu tả về Thúy Kiều
- Về cách miêu tả : qua cách miêu tả, tác giả đã đoán được số phận của họ
+ Thúy vân : Khuôn trăng đầy đặn là gương mặt ngời sáng, tròn như vầng trăng. Theo quan niệm người xưa, người con gái có gương mặt như vậy là hạnh phúc sau này. Không chỉ vậy, nhan sắc của Thúy Vân còn đến thiên nhiên phải khiêm nhường
+ Thúy kiều : Đôi mắt như làn nước mùa thu, tuy trong những nhìn vào thì nổi bật sự u buồn. Thiên nhiên không khiêm nhường nhưng lại ghen bộc lộ rõ những bản tính của con người. Nhờ vậy, ta thấy được những sự bất hạnh trong cuộc đời của nàng, khúc đàn của nàng cũng đã bộc lộ điều đấy.
Câu 4:
Khác với Thúy Vân, Thúy Kiều mang một vẻ đẹp sắc sảo mặn mà cả về cả tài lẫn sắc. Chỉ khắc họa đôi mắt nàng Kiều, Nguyễn Du đã mở ra cho bạn đọc thấy cả một thế giới tâm hồn phong phú của nàng. Đôi mắt ấy, trong trẻo, sâu thẳm như nước mùa thu "làn thu thủy”:, lông mày mượt mà, tươi tắn, thanh thanh như dáng núi mùa xuân "nét xuân sơn”. Vẻ đẹp ấy Khiến tạo hóa phải ghen hờn “hoa ghen”, “liễu hờn”. Đây là những cảm xúc tiêu cực, thể hiện tâm lí oán trách, muốn trả thù, sự ghen ghét đố kị của tao hóa. Không chỉ đẹp, Kiều còn có đủ tài cầm kì thi họa, trong đó nổi bật nhất là tài đàn. Nàng tự mình sáng tác khúc nhạc mang tên "Bạc mệnh" khiến người nghe xúc động. Vẻ đẹp của Kiều đã đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến. Tất cả biểu hiện của sự đa sầu, đa cảm, của một tâm hồn tinh tế và lãng mạn, một tâm hồn phong phú. Nguyễn Du đã rất ưu ái khi miêu tả chân dung Thúy Kiều. Nàng tiêu biểu cho số phận của người phụ nữ “hồng nhan bạc phận”. Vì vậy trong “Truyện Kiều” Nguyễn Du đã hơn một lần thốt lên “Hồng nhan quen thói má hồng đánh ghen”; người con gái ấy, càng đẹp, càng tài lại càng truân chuyên.
Câu 1: Trích trong đoạn "Chị em Thúy Kiều". Câu đầu tiên nằm trong đoạn 2 (4 câu) tả Thúy Vân, câu thứ hai nằm trong đoạn 3 (6 câu) tả sắc của Thúy Kiều.
Câu 2: Câu đầu về Thúy Vân, câu sau về Thúy Kiều.
Tham khảo:
Câu 3:
Giống : Đều miêu tả những nét đẹp chung của mỗi người rồi mới đến vẻ đẹp riêng của họ
Khác :
- Về hình thức : 4 câu đầu dành cho Thúy Vân, 12 câu còn lại miêu tả về Thúy Kiều
- Về cách miêu tả : qua cách miêu tả, tác giả đã đoán được số phận của họ
+ Thúy vân : Khuôn trăng đầy đặn là gương mặt ngời sáng, tròn như vầng trăng. Theo quan niệm người xưa, người con gái có gương mặt như vậy là hạnh phúc sau này. Không chỉ vậy, nhan sắc của Thúy Vân còn đến thiên nhiên phải khiêm nhường
+ Thúy kiều : Đôi mắt như làn nước mùa thu, tuy trong những nhìn vào thì nổi bật sự u buồn. Thiên nhiên không khiêm nhường nhưng lại ghen bộc lộ rõ những bản tính của con người. Nhờ vậy, ta thấy được những sự bất hạnh trong cuộc đời của nàng, khúc đàn của nàng cũng đã bộc lộ điều đấy.
Câu 4:
Khác với Thúy Vân, Thúy Kiều mang một vẻ đẹp sắc sảo mặn mà cả về cả tài lẫn sắc. Chỉ khắc họa đôi mắt nàng Kiều, Nguyễn Du đã mở ra cho bạn đọc thấy cả một thế giới tâm hồn phong phú của nàng. Đôi mắt ấy, trong trẻo, sâu thẳm như nước mùa thu "làn thu thủy”:, lông mày mượt mà, tươi tắn, thanh thanh như dáng núi mùa xuân "nét xuân sơn”. Vẻ đẹp ấy Khiến tạo hóa phải ghen hờn “hoa ghen”, “liễu hờn”. Đây là những cảm xúc tiêu cực, thể hiện tâm lí oán trách, muốn trả thù, sự ghen ghét đố kị của tao hóa. Không chỉ đẹp, Kiều còn có đủ tài cầm kì thi họa, trong đó nổi bật nhất là tài đàn. Nàng tự mình sáng tác khúc nhạc mang tên "Bạc mệnh" khiến người nghe xúc động. Vẻ đẹp của Kiều đã đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến. Tất cả biểu hiện của sự đa sầu, đa cảm, của một tâm hồn tinh tế và lãng mạn, một tâm hồn phong phú. Nguyễn Du đã rất ưu ái khi miêu tả chân dung Thúy Kiều. Nàng tiêu biểu cho số phận của người phụ nữ “hồng nhan bạc phận”. Vì vậy trong “Truyện Kiều” Nguyễn Du đã hơn một lần thốt lên “Hồng nhan quen thói má hồng đánh ghen”; người con gái ấy, càng đẹp, càng tài lại càng truân chuyên.![]()
Câu đầu nói về Thúy Vân, câu sau nói về Thúy Kiều
Thúy Vân: ngòi bút thơ của Nguyễn Du làm hiển thị một Thúy Vân từ khuôn mặt, nét mày, màu da, mái tóc đến nụ cười của một cô gái xinh đẹp, thùy mỵ, nết na, dịu dàng, đoan trang, phúc hậu và khiêm nhường . Biện pháp tu từ ẩn dụ ước lệ, đặc biệt là các từ “trang trọng, đầy đặn, đoan trang, thua, nhường” đã phác hoạ ra một Thúy Vân phúc hậu, đẹp người đẹp nết và nhất là đã ngầm dự báo một tương lai sáng sủa của nàng.
Thúy Kiều: Nhan sắc đó đã làm cho hoa, liễu vô tri kia cũng muốn ganh tị, hờn ghen:
“Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
Nhan sắc ấy đã làm cho tạo hoá phải ghét lây, các vẻ đẹp khác phải đố kỵ phải chăng để ngầm dự
báo cho một tương lai u ám, đầy éo le đau khổ của Kiều ?
Đúng là như vậy. Bởi vì trong sắc đẹp của Thúy Vân có " thua và nhường", còn Thúy Kiềi thì toàn "ghen và kém".
đúng vì qua cái đẹp ấy , tác giả còn dự báo số phận của mỗi người , thúy vân đẹp hài hòa với thiên nhiên "thua, nhường" cho nên sẽ có số phận may mắn , hạnh phúc , êm đềm . còn thúy kiều đẹp sắc sảo , mặn mà khiến thiên nhiên phải đố kị ghen ghét "ghen , hờn " sau này sẽ có cuộc sống đầy dông tố bất hạnh
bạn phân tích rõ hơn cho mình được không ạ ! Cảm ơn nhìu nạ
#TrươngKhiếtBăng
-Khi miêu tả Thuý Kiều và Thuý Vân, Nguyễn Du đã dự báo số phận của hai người. Điều đó là đúng, vẻ đẹp của Thuý Vân là một vẻ đẹp “mây thua, tuyết nhường", một vẻ đẹp có chút gì đó hiền hoà, chưa có sự đố kị với thiên nhiên, điều đó có thể dự báo được cuộc thời Thuý Vân bình lặng, suôn sẻ, không sóng gió.
-Trái lại, vẻ đẹp của Thuý Kiều là vẻ đẹp sắc sảo, làm cho “nghiêng nước, nghiêng thành”, đẹp đến hoa phải “ghen”, liễu phải “hờn”. Tài của Kiều đạt tới mức lí tưởng theo quan niệm thậm mỹ phong kiến gồm đủ cả cầm, kì, thi, họa. Đặc biệt tài đàn của nàng đã là sở trường, năng khiếu đặt biệt, vượt lên trên mọi người.. Một vẻ đẹp vượt trội, ngạo nghễ, thách thức với tự nhiên. Sự đối kị ấy khiến ta nghĩ đến tai hoạ sẽ đến với nàng. Điều này dự báo về cuộc sống đầy sóng gió, biến cố trong tương lai.
-Nguyễn Du cho rằng: “hồng nhan bạc mệnh”, “chữ tài liền với chữ tai một vần” - Thuý Kiều không chỉ đẹp mà còn có tài. Vì vậy, cuộc đời Thuý Kiều sẽ khó bề yên ổn, bình lặng. Nàng luôn gặp nhừng bất hạnh, khổ đau. Thực tế sau đó đã chứng minh cuộc đời Thuý Vân êm đềm, suôn sẻ. Còn cuộc đời Thuý Kiều thì đầy nỗi tủi nhục.
1. Về cách hiểu các từ thua, nhường, hờn ghen phổ biến hiện nay
Về các từ này, Sách giáo khoa Ngữ Văn 9 tập 1, năm 2012 trong phần “Đọc - hiểu văn bản” có câu hỏi số 5* (câu hỏi có dấu * dành cho HS khá giỏi) như sau: “Người ta thường nói: Sắc đẹp của Thuý Vân “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”, còn sắc đẹp của Thuý Kiều “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” là dự báo số phận của hai người. Theo em có đúng không? Tại sao lại như vậy?”. Sách cũng lưu ý: “Để trả lời câu hỏi này, cần lưu ý sắc thái biểu cảm khác nhau của các từ thua, nhường khi nói về Thuý Vân với các từ ghen, hờn khi nói về Thuý Kiều”(1).
Từ câu hỏi và sự gợi ý này, Sách giáo viên Ngữ Văn 9 viết: “Chân dung Thuý Vân là chân dung mang tính cách, số phận. Vẻ đẹp của Vân tạo sự hoà hợp, êm đềm với xung quanh, “mây thua”, “tuyết nhường” nên nàng sẽ có cuộc đời bình lặng, suôn sẻ”(2); “Chân dung Thuý Kiều cũng là chân dung mang tính cách, số phận. Vẻ đẹp của Kiều làm cho tạo hoá phải ghét ghen, vẻ đẹp khác phải đố kị- “hoa ghen”, “liễu hờn”- nên số phận nàng sẽ éo le, đau khổ.”(3)
Trước đó, Sách Văn học lớp 9 năm 2001 dù không trực tiếp nêu những từ “thua, nhường, hờn, ghen” nhưng cũng có định hướng tương tự. Sách giáo khoa đưa ra câu hỏi: “Người ta thường nhận xét: “Vẻ đẹp của Thuý Vân là vẻ đẹp của một người con gái phúc phận. Em hãy phân tích điều đó qua cách miêu tả của tác giả?”(4). Sách giáo viên hướng dẫn bình giảng: “Đoạn trích miêu tả hai bức chân dung xinh đẹp của Thuý Vân, Thuý Kiều, đặc biệt là Thuý Kiều, nhân vật trung tâm của tác phẩm, đồng thời cũng dự báo tương lai sáng sủa của Thuý Vân và đặc biệt số phận “hồng nhan bạc mệnh” của Thuý Kiều”(5); “Thuý Vân tất sẽ có trong tương lai một cuộc sống yên vui, hạnh phúc”(6).
Cách hiểu và bình giảng như vậy là dựa trên hai căn cứ. Một là nghĩa của các từ “thua, nhường, hờn, ghen” trong từ điển và hai là từ việc xét tổng thể ở bề nổi của cuộc đời nhân vật. Về nghĩa của các từ “thua, nhường, hờn, ghen”, từ điển giải thích:
- “Thua: 1. Chịu để đối phương thắng: địch thua trận, thua bạc, thua kiện; 2. Kém, không bằng khi so đọ với đối tượng nào đó: Sức học của nó thua xa bạn bè”(7)
- “Nhường: Để cho người khác hưởng những quyền lợi của mình đang hưởng hoặc sẽ được hưởng: nhường cơm sẻ áo, nhường vé cho bạn đi xem.”(8)
- “Hờn: Tỏ thái độ không bằng lòng bằng hành động, thái độ ấm ức, giận dỗi: cháu bé ngủ dậy không ai dỗ, hờn mãi; Nỗi uất ức, căm giận sâu sắc: ngậm tủi, nuốt hờn; quyết rửa hờn”.(9)
- “Ghen: Tức tối, bực dọc vì thấy người khác hơn mình hoặc vì vợ hay chồng, người yêu thiếu chung thuỷ: ghen ăn tức ở, thấy nó làm ăn khá giả đâm phát ghen, đánh ghen, ghen bóng ghen gió, ghen lồng ghen lộn, cô ta hay ghen lắm.”(10)
Các tác giả soạn sách căn cứ vào nghĩa đen của các từ này để bình về mức độ khác biệt về thái độ của thiên nhiên với hai chị em nàng Kiều. Các từ “thua, nhường” chỉ thái độ thoải mái nhường nhịn, còn “hờn, ghen” chỉ sự tức giận, đố kị gay gắt. Như vậy, sắc đẹp của Thuý Vân hài hoà, dung dị hơn sắc đẹp của Thuý Kiều, cho nên, thái độ của thiên nhiên với nàng là sẵn sàng “thua”, “nhường”. Còn với Thuý Kiều, cô đẹp đến mức thiên nhiên nổi giận, đố kị. Do đó, cuộc đời của hai cô cũng “mỗi người mỗi vẻ” như các nhà soạn sách đã viết: Thuý Vân phúc phận, còn Thuý Kiều bạc mệnh.
Về tổng thể ở bề nổi của cuộc đời nhân vật, chị em Thuý Kiều mỗi người mỗi phận. Thuý Kiều “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, sáu lần lấy chồng vẫn không xong, đi tu hai lần vẫn không trọn, hai lần tự tử mà không được chết… Còn Thuý Vân có cuộc sống phẳng lặng, không bị sóng gió đoạn trường thanh lâu, thanh y. Nàng được tất cả: làm vợ quan, có một đàn con đông đúc (Một cây cù mộc, một sân quế hoè), có cuộc sống sang giàu hơn người (Vinh hoa phú quý ai bì).
Từ hai căn cứ trên, các tác giả soạn sách đều khẳng định khi miêu tả nhan sắc của nhân vật, Nguyễn Du đã ngầm dự báo số phận của nhân vật qua cách dùng các từ “thua, nhường, hờn, ghen”. Thuý Vân được thiên nhiên "thua", "nhường" nên có cuộc đời êm đềm, phúc phận; Thuý Kiều bị "ghen", "hờn" nên thống khổ cả cuộc đời. Hiểu như vậy thực có thoả đáng hay không?
2. Hiểu đúng nghĩa của các từ thua, nhường, hờn, ghen
Phải nói rằng người đọc dễ thấy sự hợp lí của việc định hướng giảng bình các từ “hờn, ghen, thua, nhường” trong sách giáo khoa hiện hành.Tuy nhiên, chúng tôi còn băn khoăn vì nhiều lẽ.
Thứ nhất, mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết:
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Bỉ sắc tư phong và má hồng đánh ghen là quan niệm của người xưa. Bỉ sắc tư phong (Cái kia ít, cái này nhiều) là cách nói khác từ câu Phong vu bỉ, sắc vu thử (Nhiều về cái kia, ít về cái này), đều có nghĩa khái quát là "được cái này mất cái kia", thể hiện luật bù trừ. Giáo sư Đào Duy Anh trong Từ điển Truyện Kiều cũng giải nghĩa: BỈ SẮC TƯ PHONG: Do câu "Phong vu bỉ sắc vu thử", nghĩa là dồi dào về cái này thì kém cỏi về cái kia. Tư cũng có nghĩa như thử là cái ấy, cái kia(11). Má hồng nghĩa gốc là hồng nhan, có thể chỉ sắc đẹp của cô gái trẻ đẹp / cô gái đẹp / tuổi trẻ / vẻ đẹp tươi nhuận của người trẻ tuổi nói chung. Còn trời xanh, ông xanh, xanh kia là do chữ “thanh thiên”. Trong câu Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen, “trời xanh” đặt đối với “má hồng” hàm ý tu từ, tạo tương phản màu sắc cũng là nhằm nổi bật ý: trời cho thứ này thì lấy đi thứ khác.
Do bỉ sắc tư phong, má hồng đánh ghen nên hồng nhan thì bạc phận, chữ tài liền với chữ tai một vần (dân gian còn có câu: ngu si hưởng thái bình). Theo căn cứ này, cả hai chị em Thuý Kiều, Thuý Vân đều là hồng nhan. Nguyễn Du đã khẳng định hai chị em nàng: Mai cốt cách tuyết tinh thần/ Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười. Cùng là “mười phân vẹn mười”, thì đương nhiên Thuý Vân cũng là một “hồng nhan”, “anh hoa phát tiết ra ngoài” như Thuý Kiều, tại sao nói nàng không “mệnh bạc”?
- Thứ 2, Thuý Vân cũng là đàn bà như Thuý Kiều, mà Nguyễn Du bảo: Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. Đã là "lời chung" thì rõ ràng Thuý Vân cũng không thể ngoại lệ.
- Thứ 3, qua màn đoàn viên, Nguyễn Du đã thể hiện quan niệm về hạnh phúc khá sâu sắc, hiện đại. Nguyễn Du đã để Thuý Vân thổ lộ nỗi đau bi kịch vì sống với một người mình không yêu và cũng không yêu mình. Muốn bày tỏ gan ruột, Vân đã phải mượn rượu (Tàng tàng chén cúc dở say) để nói về tình cảnh bị ép buộc trớ trêu của mình (Vậy đem duyên chị buộc vào cho em). Giọng Vân mỗi lúc một thêm tủi:
Cũng là phận cải duyên kim,
Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao.
Những là rày ước mai ao,
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình.
Ở bốn câu này, hai câu đầu, Thuý Vân nói về mình. Thuý Vân đề cập đến “phận”, “duyên”, “máu chảy ruột mềm” với ý: là việc chị ruột cậy nhờ, lại là trong lúc gia đình gặp biến cố, chị đã hi sinh thân mình, không lẽ em không có trách nhiệm, vậy nên cô buộc phải chấp nhận. Hai câu sau, Thuý Vân nói về Kim Trọng. Bao nhiêu nhớ thương, héo mòn, khát khao… của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều, Thuý Vân cô lại trong một chữ “tình”. Mà đâu phải một khắc một chốc. Thuý Vân dùng liên tiếp những cụm từ và từ cả đếm được lẫn không đếm được để chỉ sự đằng đẵng, chồng chất: rày ước mai ao, mười lăm năm, biết bao. Cấu trúc “cũng là”, “những là” điệp lại khiến cho giọng Thuý Vân trở nên chì chiết, đau khổ. Thế thì hạnh phúc với Thuý Vân (và cũng là quan niệm của Nguyễn Du) không phải chỉ là có ông chồng làm quan, có một đàn con đông; hạnh phúc phải là được sống trong yêu thương, hoà hợp... Xét về góc độ tình yêu, Vân thiệt thòi, khổ đau. Đó là "bỉ sắc tư phong". Cho nên, “cái được và cái mất ở hai chị em Thuý Kiều, Thuý Vân không đơn giản qua ngòi bút Nguyễn Du thể hiện. Nếu lấy tình yêu làm hệ quy chiếu, thì Thuý Vân chẳng được gì, Thuý Kiều lại được tất cả tình yêu: của Kim Trọng, của Thúc Sinh, của Từ Hải dành cho nàng. Đành rằng, nhân gian có thể quan niệm tình là thứ mơ hồ, vô ảnh. Vợ chồng sinh con đẻ cái là quan trọng, là hiện hữu của hạnh phúc. Song từ một thế giới sâu thẳm khác, tình yêu lên tiếng và đòi được tôn vinh. Tình cảm thiêng liêng đó đòi được công bằng”(12). Dưới ngòi bút của Nguyễn Du, Thuý Vân không hẳn là một kiểu phụ nữ truyền thống trong xã hội phương Đông cổ đại, hôn nhân theo sự sắp đặt của bề trên và yên phận với nghĩa vụ làm vợ, làm mẹ. Bề ngoài, nàng là phụ nữ đoan trang, nề nếp. Nhưng bên trong sâu thẳm tâm hồn nàng là niềm khát khao mãnh liệt được hưởng hạnh phúc yêu đương thực sự. Nàng đau khổ, tủi hổ cũng chính vì lẽ đó. Cho nên, căn cứ vào tư tưởng “bỉ sắc tư phong” và quan niệm về hạnh phúc của Nguyễn Du thì cần phải bàn lại nhận định Thuý Vân được hưởng cuộc đời êm đềm, phúc phận. Cuộc sống của Thuý Vân như biển cả lúc lặng sóng - chỉ phẳng lặng bề nổi bên ngoài, còn trong chiều sâu tâm hồn nàng là chất chứa những đợt sóng ngầm của nỗi buồn bã, tê tái.
Vậy phải hiểu những từ hờn, ghen, thua nhường thế nào? Theo chúng tôi, hờn, ghen, thua, nhường... của đoạn trích nằm trong công thức hoa nhường nguyệt thẹn thường được dùng để miêu tả kiều nữ của văn học trung đại. Đặc điểm của văn học trung đại là tính công thức, ước lệ. Cho nên Thuý Vân, Thuý Kiều cũng giống hệt các giai nhân khác trong Cung oán ngâm khúc và các truyện Nôm. Cô nào cũng “quốc sắc, thiên hương”, "nghiêng nước, nghiêng thành", "chim sa, cá lặn", "như hoa, như ngọc", “như núi mùa xuân, nước mùa thu”... Dưới đây là vài ví dụ chứng tỏ điều đó:
- Cô cung nữ (Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều):
T...