K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

6 tháng 2

"Nam quốc sơn hà" là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn mà hàm súc. Tác giả sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, dứt khoát, giọng điệu hào hùng để khẳng định chủ quyền lãnh thổ của dân tộc. Cấu trúc đối xứng giữa các vế thơ, nhịp thơ chắc khoẻ, lặp từ và phép đối khiến lời thơ thêm đanh thép. Hình ảnh thiên nhiên sông núi được đặt bên cạnh ý chí con người càng làm nổi bật tư tưởng chủ quyền quốc gia.

12 tháng 10 2018

Chọn d

7 tháng 6 2020

Khi so sánh tư tưởng của Nguyễn Trãi và tư tưởng của Nam Quốc Sơn Hà ta sẽ có một số luận điểm như

-tư tưởng của Nam Quốc Sơn Hà là theo tư tưởng cổ như

+Mọi việc đã được định theo sách trời

+ Không có tôn trọng chủ quyền phương bắc nhiều 

+ Khẳng định thẳng là nếu xâm lược nước ta sẽ nhân lấy thất bại

- Về bên tư tưởng của Nguyễn Trãi 

+luôn hoạt động dựa trên dân ,sự an nguy của dân lên hằng đầu

+Tôn trọng phương Bắc từ các triều đại đến các chủ quyền riêng 

+ Dựa trên các chứng cớ cho trước để khăng định nếu phương Bắc dòm ngó đến nước ta sẽ chuốc vạ vào thân

27 tháng 12 2020

- Nghệ thuật:

+ Dùng ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện thích hợp

+ Nghệ thuật phân tích tâm lí hợp lí, kể chân thật

+ PTBĐ kết hợp trữ tình 

+ Xây dựng nhân vật, tính huống truyện hợp lí

- Nội dung:

+ Phản ánh hiện thực số phận của người nông dân trước Cách Mạng Tháng 8 qua tình cảnh của lão Hạc: nghèo túng, chọn cái chết để bảo toàn tài sản cho con; qua đó, thể hiện lòng yêu thương, trân trọng đối với người nông dân trong xã hội của Nam Cao

+ Cảm thông, trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tiềm ẩn của người nông dân trong cảnh khốn cùng vẫn giàu lòng tự trọng

16 tháng 10 2024

-Bài thơ đã khẳng định về chủ quyền của đất nước và nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền đó trước mọi kẻ thù xâm lược. Bài thơ được coi là Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc. Nước Nam là của vua Nam, điều thiêng liêng ấy đã ghi ở sách trời , kẻ nào vị phạm kẻ ấy sẽ bại vong. 

-Bài thơ ân chứa lòng yêu nước nồng nàn, niềm tự hào về truyền thống đánh giặc lẫy lừng của dân tộc và niềm tin phấp phới vào nền độc lập vững bền của dân tộc. Có lẽ đó là cội rễ khiến Bài thơ có sức sống bền bỉ trong lòng mỗi người Việt Nam. 

-Hạn chế của bài thơ:Quan điểm độc lập tự chủ của tác giả còn ảnh hưởng bởi thuyết thiên mệnh siêu hình.

7 tháng 5 2021

Tham khảo nha em:

Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, là một nhân vật lịch sử lỗi lạc, toàn tài hiếm có. Bởi ông không chỉ là một vị tham mưu tài giỏi của Lê Lợi mà ông còn là một nhà thơ có nhiều đóng góp cho nền văn học trung đại Việt Nam. Bình Ngô đại cáo do ông thừa lệnh Lê Lợi soạn thảo là bài bài cáo có ý nghĩa trọng đại của một bản tuyên ngôn độc lập, được công bố sau khi quân ta đại thắng. Bài cáo là ý thức dân tộc được tiếp nối từ thời Sông núi nước Nam của Lý Thường Kiệt. Điều ấy được thể hiện rõ qua đoạn trích Nước Đại Việt ta.

Quả thực đúng như vậy. Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc ta và là sự tiếp nối và phát triển ý thức dân tộc từ Sông núi nước Nam của Lý Thường Kiệt bằng nhiều yếu tố mới, phong phú, toàn diện và sâu sắc hơn. Đồng thời được thể hiện bằng những minh chứng hùng hồn, sự thực hiển nhiên trong thực tế đời sống.

Sự tiếp nối ý thức dân tộc của Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi so với Sông núi nước Nam của Lý Thường Kiệt là sự tiếp nối về ý thức dân tộc về chủ quyền lãnh thổ. Trong bài Sông núi nước Nam, Lý Thường Kiệt đã đưa ra một chân lí mà không ai có thể chối cãi được:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”

Dịch thơ:

“Sông núi nước Nam vua Nam ở

Vằng vặc sách trời chia xứ sở”

Cơ sở lí lẽ mà Lý Thường Kiệt đưa ra là đất nào thì vua ấy, sự thực đã được phân định một cách rõ ràng, rạch ròi trong “thiên thư”. Sở dĩ ông sử dụng “thiên thư” - một sự vật liên quan tới nhân vật siêu nhiên là ông trời, để làm cơ sở lí lẽ cho lập luận của mình vì người xưa, họ tin vào thiên mệnh tức là mệnh trời. Đối với người trung đại, đó là một niềm tin bất diệt. Họ tin tưởng rằng, con người sinh ra, lớn lên rồi chết đi như thế nào không phải do mình định đoạt, mà tất cả là do sự sắp đặt của ông trời. Mà đã là sự sắp đặt của ông trời thì không một ai có thể can thiệp thay đổi nó. Còn nếu làm trái số mệnh thì chắc chắn kết cục sẽ không tốt đẹp. Mượn “sách trời” để nêu lên ranh giới lãnh thổ của đất nước mình là một cách để thể hiện sự tự hào dân tộc và khẳng định độc lập chủ quyền về mặt lãnh thổ của ta. Cơ sở mà Lý Thường Kiệt đưa ra là cơ sở lí lẽ vững chắc, đầy thuyết phục.

Bài Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi, ông cũng khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nước ta, mà chủ quyền ấy của Đại Việt đã có từ lâu đời:

“Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác”

Trong suy nghĩ của con người ấy đã tồn tại sự độc lập dân tộc. Bởi từng câu từng chữ trong bài cáo đều cho thấy điều ấy. Hai câu thơ trên đã cho thấy sự rạch ròi trong ranh giới của núi sông giữa hai nước láng giềng. Đó cũng chính là lời nhắc nhở Trung Quốc về sự tồn tại và phát triển của nước ta. Bách Việt trước đây đã có, đã từng bị xâm chiếm, nhưng chỉ duy nhất Đại Việt vẫn còn độc lập, ranh giới lãnh thổ cũng đã được định hình từ đó. Phía Bắc là Trung Quốc, phía Nam là Đại Việt, không thể lẫn lộn hai miền Nam Bắc, cũng không thể khẳng định Đại Việt ở phía Nam chính là lãnh thổ phía Nam của Trung Quốc được. Quốc gia của ta, đất nước của ta, lãnh thổ của ta vì thế mà được xác định rõ ràng trong tâm thức và suy nghĩ của người Việt để rồi ý thức ấy biến thành sức mạnh của hành động.

Ý thức dân tộc trong Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi không chỉ dừng lại ở việc khẳng định chủ quyền lãnh thổ mà Nguyễn Trãi còn đưa ra hàng loạt những yếu tố khác:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc, Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”

Cái cốt lõi trong tư tưởng “nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi là lấy lợi ích của nhân dân, dân tộc làm gốc và mọi việc làm, mọi cuộc chiến đấu cũng chỉ vì mục đích cuối cùng là đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Và đó chính là nền tảng cho những khẳng định của ông sau này. Nước Đại Việt ta vốn đã có nền “văn hiến”. Văn hiến là truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp. Cho nên, không phải đất nước nào cũng có thể có được nền văn hiến ấy mà cần phải có thời gian tích lũy, xây dựng và phát triển.

Đâu chỉ thế, Nguyễn Trãi cũng đã khẳng định phong tục, tập quán sinh sống của người phương Bắc và người phương Nam cũng không thể giống nhau do sự khác biệt về thiên nhiên và điều kiện sinh sống của con người. Nhưng dù thế nào thì điều ấy cũng có nghĩa, người Việt không chỉ có một nền văn hiến lâu đời mà ngay cả phong tục, tập quán cũng mang những nét đặc trưng riêng. Đặc biệt, Nguyễn Trãi còn tự hào khi soi chiếu các triều đại của ta và Trung Quốc như một minh chứng cho dòng chảy trôi lịch sử của nước ta chưa từng bị gián đoạn. Nếu Trung Quốc có Hán, Đường, Tống, Nguyên thì Đại Việt có Triệu, Đinh, Lí Trần. Những triều đại ấy được đặt trong thế so sánh, ngang hàng với nước lớn như Trung Quốc như một cách thể hiện lòng tự hào, tự tôn dân tộc.

Với lối văn biền ngẫu sóng đôi cùng các hình ảnh mang tính gợi hình và hệ thống từ ngữ chỉ thời gian kéo dài từ quá khứ đến hiện tại (đã lâu, từ trước, đã chia, bao đời, mỗi bên) đã khiến cho bài cáo có những lập luận chặt chẽ, giọng điệu hùng hồn và giàu sức thuyết phục đối với người đọc.

Có thể nói, sự tiếp nối về ý thức dân tộc từ Sông núi nước Nam tới Nước Đại Việt ta (Trích Bình Ngô đại cáo) là minh chứng cho sự tồn tại và phát triển ý thức độc lập, chủ quyền của nhân dân ta. Đó cũng là lý do vì sao, dù có bị xâm lược, bị đô hộ gần 1000 năm Bắc thuộc, nhân dân ta vẫn giữ được tiếng nói, vẫn giữ được phong tục tập quán và lãnh thổ của mình.



 

10 tháng 10 2023

so sánh 11 mũ 1979 và 37 mũ 1320

 

23 tháng 2 2018

** Nam Quốc Sơn Hà:
khẳng định chủ quyền dựa vào 2 yếu tố
- cương vực
- lãnh thổ
*** Bình Ngô Đại Cáo
Khẳng định chủ quyền dựa vào 5 yếu tố
- cương vực
- lãnh thổ
- văn hiến
- phong tục
- lịch sử
Ngoai` 2 yếu tô' đã đư­ợc nói như trong bai` Nam quốc sơn hà thi` bai` Binh` Ngô Đại Cáo có thêm 3 yếu tô' va` điêu` quan trọng la` 3 yếu tô' đó thuộc vê` giá trị tinh thân` la` những điều không thể thay đổi.
===> Có thể nói Nguyễn Trãi đã tiếp nhận tư tưởng của đời trước song đã bổ sung va` có tính toàn điện hơn trước . Ông đã có cái nhìn tích cự­c vê` mặt lịch sử , địa lí , vă­­n hóa , xã hội, va` vê` chủ quyên` . Đó la` cái nhin` có chiêu` sâu , la` 1 phát hiện vĩ đại , la` sức sống trương` tôn` không gi` khuất phục được dân tộc Đại Việt

24 tháng 2 2018

* Khẳng định độc lập, chủ quyền :

* Yếu tố khẳng định độc lập chủ quyền :

- Nước Đại Việt ta :

+ Văn hiến

+ Lịch sử

+ Ranh giới

+ Phong tục tập quán

=> Khẳng định độc lập chủ quyền rõ ràng

- So sánh với Nam quốc sơn hà :

+ Làm chủ (vua) -> chủ quyền

- Biến giới.

-Họ và tên : Nguyễn Thắng-Năm sinh-năm mất : 1835-1909-Quê quán : Quê nội ở làng Vị Hạ (Yên Đỗ, Hà Nam), quê ngoại ở làng Văn Khế (Ý Yên, Nam Định).-Vị trí của ông trong nền văn học : Là một trong những nhà thơ Nho giáo cuối mùa, một trong những đại biểu cuối cùng của mẫu hình thi nhân nhà Nho chính thống.  Ông được xem là "nhà thơ của làng cảnh Việt Nam" với những tác phẩm trữ...
Đọc tiếp

-Họ và tên : Nguyễn Thắng

-Năm sinh-năm mất : 1835-1909

-Quê quán : Quê nội ở làng Vị Hạ (Yên Đỗ, Hà Nam), quê ngoại ở làng Văn Khế (Ý Yên, Nam Định).

-Vị trí của ông trong nền văn học :

  • Là một trong những nhà thơ Nho giáo cuối mùa, một trong những đại biểu cuối cùng của mẫu hình thi nhân nhà Nho chính thống. 
  • Ông được xem là "nhà thơ của làng cảnh Việt Nam" với những tác phẩm trữ tình sâu lắng về vẻ đẹp thanh bình của thôn quê. 
  • Đồng thời, ông là nhà thơ trào phúng sâu sắc, đả kích bọn quan lại tham lam, thói đạo đức giả trong xã hội thực dân nửa phong kiến. 
  • -Đề tài sáng tác : tâm sự cá nhân, về con người ,cảnh vật quê hương , chế giễu đả kích những người phơi bày thói đạo đức giả, sự vô vị của những người '' tiến sĩ giấy '' và bọn quan lại sâu béo trong xã hội.
  • -Phong cách sáng tác : trữ tình, trào phúng ,gần gũi bình dị
  • Những tác phẩm chính của ông là :
  • + Quế Sơn thi tập
  • + Chùm thơ thu
  • + Thơ Nôm và thơ Hán
0
Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn quê tại Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà NamVị trí trong nền văn hoc: Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà giáo dục nổi tiếng của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Ông đỗ đầu cả ba kì thi nên thường được gọi là Tam Nguyên Yên ĐổĐề tài sáng tác:Ông sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm...
Đọc tiếp

Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn quê tại Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

Vị trí trong nền văn hoc: Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà giáo dục nổi tiếng của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Ông đỗ đầu cả ba kì thi nên thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ

Đề tài sáng tác:Ông sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm với nhiều đề tài phong phú, từ tình yêu quê hương, đất nước đến những suy tư về cuộc đời và con người. 

Phong cách sáng tác: Nguyễn Khuyến đã đưa cảnh sắc thiên nhiên và cuộc sống thân thuộc, bình dị của làng quê vào trong thơ một cách tự nhiên tinh tế. Ngòi bút tả cảnh của ông vừa chân thực vừa tài hoa; ngôn ngữ thơ giản dị mà điêu luyện

Các tác phẩm chính: thu vịnh ,thu điếu ,thu ẩm

0