Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: Văn bản trên đc viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2: Tiếng hiệp vần với nhau là: "rồi - ngồi"
Câu 3: Tác dụng của BPTT nhân hóa trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" là:
- Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, làm câu văn thêm sinh động.
- Tăng sức mạnh của giọng đọc, gợi lên ko gian yên tĩnh và huyền ảo.
- Gợi lên tình cảm thầy trò.
Câu 4: Khi thầy đọc thơ, hình ảnh của quê hương hiện lên thật sinh động, bình dị, quen thuộc.
Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam, không có câu chuyện nào lại gắn bó sâu sắc với Thủ đô Hà Nội và tinh thần yêu nước hơn Truyền thuyết Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm). Truyền thuyết này không chỉ giải thích nguồn gốc của một di tích lịch sử mà còn tôn vinh chiến thắng vĩ đại và phẩm chất cao đẹp của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi.
Câu chuyện bắt đầu vào thời kỳ đất nước chìm trong ách đô hộ của giặc Minh. Khi đó, thủ lĩnh Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đang gặp vô vàn khó khăn, thiếu vũ khí và lương thực. Long Quân (Vua Rồng), cảm thương trước cảnh lầm than và thấy được ý chí quật cường của Lê Lợi, đã quyết định trao tặng một thanh gươm thần để giúp ông đánh đuổi quân xâm lược.
Thanh gươm thần này không được trao trực tiếp. Thay vào đó, một lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy trong lưới của ngư dân Lê Thận. Sau đó, một chuôi gươm nạm ngọc lại được chính Lê Lợi tìm thấy dưới gốc cây đa. Khi tra vào, lưỡi gươm và chuôi gươm khớp nhau một cách kỳ diệu, tạo thành thanh gươm báu mang tên ''Thuận Thiên''. Từ khi có gươm thần, nghĩa quân Lam Sơn như được tiếp thêm sức mạnh, liên tục giành thắng lợi và cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc.
Sau khi đất nước thái bình, Lê Lợi lên ngôi vua (Lê Thái Tổ). Một hôm, nhà vua đang đi thuyền dạo chơi trên chiếc hồ lớn ở kinh thành. Bỗng nhiên, một con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước, tiến về phía thuyền Rồng. Rùa Vàng cất tiếng nói rõ ràng: "Xin bệ hạ hoàn trả gươm thần cho Long Quân!".
Nhà vua hiểu rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành, chiến tranh đã kết thúc, và lòng nhân ái mới là thứ cần thiết để xây dựng đất nước. Vua Lê Lợi liền rút gươm trao trả cho Rùa Vàng. Rùa Vàng ngậm thanh gươm báu rồi lặn xuống đáy hồ và biến mất. Kể từ đó, chiếc hồ được đặt tên là Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm), còn được gọi là Hồ Gươm.
Truyền thuyết Hồ Gươm là một câu chuyện đẹp không chỉ về lòng dũng cảm chiến đấu mà còn về tinh thần hòa bình. Nó khẳng định rằng, vũ khí thần thánh chỉ cần thiết khi đất nước bị xâm lăng. Khi độc lập đã được thiết lập, thanh gươm phải được trao trả, biểu tượng cho việc dân tộc ta gác lại chiến tranh, tập trung vào xây dựng cuộc sống thái bình. Hồ Gươm và tháp Rùa vẫn đứng đó giữa lòng Hà Nội, như một lời nhắc nhở vĩnh cửu về truyền thống yêu nước, giữ gìn hòa bình và sự kết nối thiêng liêng giữa con người với đất trời.
Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện đặc sắc. Truyện dân gian đã làm giàu trí tưởng tượng của chúng ta và là kho báu tình thần vô giá mà cha ông ta để lại. Trong đó , có những câu chuyện truyện truyền vừa mang những chi tiết kì ảo, hoang đường vừ gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Một trong số đó, em ấn tượng nhất với câu chuyện Thánh Gióng. Thuở xưa, vào đời Hùng Vương thứ VI, ở làng Gióng có hai vợ chồng già nổi tiếng là chăm chỉ làm ăn và có phúc đức. Nhưng hai vợ chồng lại muộn con. Một ngày nọ, bà lão đi làm đồng thì thấy một vết chân khổng lồ. Bà liền ướm thử xem hơn kém bao nhiêu, không ngờ về nhà bà thụ thai. Mười hai tháng sau bà sinh ra một cậu bé, mặt mũi khôi ngô, sáng sủa. Nhưng điều kì lạ là đến khi lên ba tuổi, cậu bé vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, đặt đâu thì nằm đấy. Bấy giờ, giặc Ân muốn xâm chiếm bờ cõi nước ta. Thấy giặc mạnh, vua Hùng lo sợ nên hạ lệnh đi tìm người tài giỏi cứu nước. Gióng nghe thấy tiếng sứ giả rao bèn cất tiếng nói đầu tiên: "Mẹ ra mời sứ giả vào đây." Khi sứ giả bước vào, cậu bé nói:"Ông về hãy tâu với vua rằng làm cho ta một bộ áo giáp sắt, một chiếc roi sắt và một con ngựa sắt. Ta sẽ đánh tan lũ giặc này." Sứ giả vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ vội chạy về tâu với vua. Vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật mà chú bé dặn. Sau hôm gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc mà đã đứt chỉ. Cha mẹ làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con đành phải chạy nhờ bà con, làng xóm. Ai cũng vui lòng gom góp gạo nuôi cậu bé vì ai cũng đều muốn cậu bé đánh đuổi lũ giặc này để cho mọi người được sống trong sự bình yên, hạnh phúc. Bấy giờ, giặc đã đến chân núi Trâu, sứ giả vội vàng đem những vật mà chú bé đã dặn đến. Gióng vươn vai một cái đã biến thành một tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Chàng khoác trên mình bộ áo giáp sắt, tay cầm rồi sắt nhảy lên lưng ngựa. Ngựa hí vang dội mấy tiếng rồi chạy đến nơi có giặc, đón đầu chúng. Gióng đánh hết lớp giặc này đến lớp giặc khác. Giặc chết như ngả rạ. Đang đánh thì rồi sắt gãy, Gióng nhanh trí nhổ những bụi tre ở bên đường quật vào giặc. Đám tàn quân còn xót lại chạy đè lên nhau. Gióng đuổi bọn chúng đến chân núi Sóc. Đến đó, Gióng cởi bộ giáp sắt, rồi một mình một ngựa từ từ bay lên trời. Vua nhớ công ơn nên phong là Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Gióng và lập đền thờ ngay tại quê nhà. Truyện truyền thuyết Tháng Gióng không chỉ là một câu chuyện bình thường mà là một bản hùng ca về sự dũng cảm, lòng nhân hậu và tình yêu nước tha thiết. Quả thật, truyện truyền thuyết không chỉ làm giàu trí tưởng tượng mà còn gửi gắm ước mơ, niềm tin của nhân dân ta. Trong thời đại hôm này, tinh thần Thánh Gióng vẫn vẹn nguyên giá trị. Nó nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta phải học tập rèn luyện để bảo vệ và xây dựng đất nước giàu mạnh.
Trong kho tàng truyền thuyết phong phú của Việt Nam, câu chuyện về Sự Tích Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm luôn chiếm một vị trí đặc biệt, không chỉ vì ý nghĩa lịch sử mà còn vì vẻ đẹp lung linh, huyền ảo của nó. Truyền thuyết này gắn liền với vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ XV
Truyền thuyết kể rằng, khi đất nước đang chìm trong ách đô hộ của giặc Minh, lòng người căm phẫn và khao khát độc lập. Thấu hiểu ý trời và lòng dân, Đức Long Quân đã quyết định trao cho Lê Lợi một bảo vật thiêng liêng để giúp ông hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc: đó là Thanh Gươm Thần. Thanh gươm không được trao trực tiếp. Lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy dưới đáy sông, còn chuôi gươm nạm ngọc lại được tìm thấy trên ngọn cây, tỏa ánh sáng rực rỡ, tất cả đều do người của Lê Lợi tình cờ nhặt được
khi lưỡi và chuôi hợp lại, thanh gươm trở nên hoàn chỉnh, mang sức mạnh phi thường. Nhờ có Thanh Gươm Thần, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, liên tiếp giành thắng lợi vang dội, cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước. Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên nhà Hậu Lê, mở ra một thời kỳ thái bình thịnh trị
Saukhi đất nước yên bình, tong một lần nhà vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) dạo chơi trên chiếc thuyền rồng ở hồ Tả Vọng (tên cũ của Hồ Gươm), một Con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước. Rùa Thần tiến đến gần thuyền vua, cất tiếng nói: “Xin bệ hạ hoàn trả lại gươm cho Long Quân!” Nhà vua hiểu ra rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành. Vua bèn rút gươm trao cho Rùa Vàng.Rùa Thần đón lấy gươm, ngậm vào miệng rồi lặn xuống đáy hồ. Kể từ đó, hồTả Vọng được đổi tên thành Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm) minh chứng cho lòng nhân ái, hòa bình của dân tộc và sự đồng lòng giữa Trời – Đất – Người trong công cuộc cứu nước
Truyền thuyết này không chỉ là một câu chuyện thần kỳ mà còn thể hiện tinh thần thượng võ và yêu chuộng hòa bình của người Việt, nhắc nhở các thế hệ về công lao của cha ông và ý nghĩa thiêng liêng của độc lập, tự do
Trong số các truyền thuyết cổ xưa của dân tộc Việt Nam, câu chuyện về Sơn Tinh và Thủy Tinh không chỉ là một huyền thoại giải thích hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người Việt trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai.
Truyền thuyết kể rằng, vào đời vua Hùng thứ 18, có một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Vua Hùng muốn kén cho con gái một người chồng xứng đáng nên đã mở hội thi tuyển rể. Từ khắp nơi, nhiều chàng trai tài giỏi tìm đến, nhưng nổi bật nhất là hai vị thần: Sơn Tinh và Thủy Tinh.
Sơn Tinh là một chàng trai khôi ngô, có tài lạ: chỉ cần vẫy tay, núi đồi trùng điệp sẽ mọc lên, cây cối xanh tươi. Thủy Tinh cũng không kém cạnh, chàng có khả năng hô mưa gọi gió, làm cho biển cả và sông ngòi cuộn trào. Cả hai đều tài giỏi ngang sức ngang tài, khiến Vua Hùng khó lòng lựa chọn.
Cuối cùng, Vua Hùng đặt ra điều kiện thách cưới: "Sáng sớm hôm sau, ai mang đến sính lễ gồm một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao đến trước, người đó sẽ được cưới Mị Nương."
Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló rạng, Sơn Tinh đã mang đầy đủ sính lễ đến trước. Vua Hùng giữ lời hứa, gả Mị Nương cho Sơn Tinh. Thần Núi rước vợ về núi Tản Viên.
Khi Thủy Tinh đến nơi, thấy Mị Nương đã theo chồng, chàng vô cùng giận dữ. Cảm thấy bị sỉ nhục, Thủy Tinh đã nổi cơn lôi đình, dốc toàn lực để báo thù. Thần Nước hô mưa, gọi gió, làm nước biển dâng cao, dìm chìm đồng bằng, muốn nhấn chìm núi Tản Viên để cướp lại Mị Nương.
Trước sức mạnh kinh hoàng của nước, Sơn Tinh không hề nao núng. Thần Núi dùng phép lạ, bốc từng quả đồi, từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên bao nhiêu, Sơn Tinh đắp đất, nâng núi cao lên bấy nhiêu. Cuộc chiến kéo dài ròng rã suốt mấy tháng trời. Cuối cùng, sức Thủy Tinh kiệt dần, đành phải rút lui.
Tuy nhiên, mối thù này không bao giờ dứt. Hàng năm, cứ đến mùa mưa bão, Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh để đòi Mị Nương, gây ra cảnh lũ lụt khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Và năm nào cũng vậy, Sơn Tinh vẫn chiến thắng, giữ vững bờ cõi và bảo vệ cuộc sống của người dân.
Câu 1: Tác hại của thói bắt chước đối với con người trong cuộc sống
Dàn ý:
- Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về thói quen bắt chước. Bắt chước có thể là một phần tự nhiên của quá trình học hỏi, nhưng bắt chước mù quáng lại là một thói quen tiêu cực.
- Nêu vấn đề chính: Thói bắt chước mù quáng mang lại nhiều tác hại nghiêm trọng cho con người.
- Thân bài:
- Làm mất đi bản sắc và cá tính: Khi bắt chước, con người không còn là chính mình. Họ sống theo khuôn mẫu của người khác, dần dần đánh mất những nét riêng, sở thích và giá trị cá nhân. Đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin và hèn nhát trong việc thể hiện bản thân.
- Gây ra sự thất bại: Điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người là khác nhau. Bắt chước cách làm của người khác mà không có sự cân nhắc, sáng tạo sẽ rất dễ dẫn đến thất bại. Chẳng hạn, một người khởi nghiệp bắt chước mô hình kinh doanh của một công ty lớn mà không xem xét thị trường, vốn và năng lực của mình sẽ khó thành công.
- Gây cản trở sự phát triển: Khi chỉ biết bắt chước, con người sẽ không còn động lực để tư duy, sáng tạo và tìm tòi cái mới. Xã hội sẽ dậm chân tại chỗ nếu ai cũng đi theo lối mòn cũ.
- Mất đi sự tôn trọng của người khác: Một người chỉ biết bắt chước thường không được đánh giá cao, vì họ không có ý kiến độc lập và không thể tự đưa ra quyết định.
- Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề: Thói bắt chước mù quáng là một rào cản lớn đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội.
- Nêu giải pháp: Mỗi người cần học cách sống là chính mình, biết lắng nghe, học hỏi nhưng phải có chọn lọc và sáng tạo để tạo nên dấu ấn riêng.
Câu 2: Kể lại một trải nghiệm có ý nghĩa sâu sắc đối với em
Dàn ý:
- Mở bài:
- Giới thiệu về trải nghiệm đó. Nêu cảm nhận ban đầu của bạn về nó. Ví dụ: "Trong cuộc đời mỗi người, có những khoảnh khắc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc..." hoặc "Đó là một buổi chiều mưa, nhưng lại là lúc tôi nhận ra giá trị của lòng nhân ái..."
- Thân bài:
- Bối cảnh: Kể lại bối cảnh xảy ra câu chuyện: thời gian, địa điểm, những nhân vật liên quan.
- Diễn biến:
- Tường thuật lại toàn bộ câu chuyện theo trình tự thời gian.
- Tập trung vào những chi tiết quan trọng, gây ấn tượng mạnh. Dùng các từ ngữ miêu tả sinh động để người đọc cảm nhận được cảm xúc của bạn khi đó (vui, buồn, thất vọng, bất ngờ...).
- Điểm mấu chốt: Sự kiện nào đã làm thay đổi suy nghĩ, cảm xúc của bạn?
- Ý nghĩa: Phân tích sâu sắc ý nghĩa của trải nghiệm đó.
- Bạn đã học được điều gì từ câu chuyện? (ví dụ: sự kiên trì, lòng biết ơn, tình yêu thương, sự tha thứ...)
- Trải nghiệm đó đã thay đổi bạn như thế nào? (ví dụ: giúp bạn tự tin hơn, biết trân trọng cuộc sống hơn, thay đổi cách nhìn về một vấn đề nào đó...).
- Kết bài:
- Tổng kết lại giá trị của trải nghiệm.
- Khẳng định lại rằng trải nghiệm đó sẽ mãi là một bài học quý giá, một kỷ niệm không thể quên.
Bài làm
Thói quen bắt chước một cách mù quáng người khác là một hiện tượng tiêu cực, nó khiến con người dễ dàng đánh mất đi bản sắc cá nhân quý giá. Khi chúng ta chỉ sao chép máy móc suy nghĩ, hành động,hay lỗi sống của người khác mà không quá sự lựa chọn lọc hay phản tử , chúng ta tự biến mình thành bản sao nhạt nhoà , không có linh hồn riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là việc thui chột khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, vì ta đã độc lập và sáng tạo, vì ta đã quen sống theo lối mòn có sẵn mà không cần nỗ lực khám phá hay kiến tạo điều mới mẻ . Hơn nữa, việc chạy theo đám đông và các xu hướng nhất thời dễ khiến chúng ta mất phương hướng, không hiểu rõ bản thân thực sự muốn gì, dẫn đến cảm giác trống rỗng và không hạnh phúc thật sự . Điều này cũng làm giảm ý chí vươn lên, vì ta chỉ quen dựa dẫm vào những hình mẫu có sẵn thấy vì tự xây dựng con đường thành công của mình. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận thức giá trị riêng để sống chân thật và bản lĩnh hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi người là một thể độc đáo, đừng tự biến mình thành phiên bản lỗi của người khác chỉ vì sợ khác biệt hay sợ bị bỏ lại phía sau
Câu 1:
Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ ba
Câu 2:
Aưm sống trong hoàn cảnh nghèo khó, mồ côi cha, mẹ thì đau ốm liên miên, bản làng lại bị hạn hán, đói khát
Câu 3:
- từ láy: thiêm thiếp
- đặt câu: Bé ngủ thiêm thiếp trong vòng tay mẹ.
Câu 4: chi tiết đó chứng minh Aưm là một cậu bé hiếu thảo, chăm chỉ, yêu thương và hết lòng lo lắng cho mẹ
Câu 5:
Bài học em rút ra từ câu chuyện:cần biết yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ, sống biết sẻ chia, giúp đỡ người khác, đồng thời phải chăm chỉ, kiên trì và biết vượt qua khó khăn trong cuộc sống
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại.
Câu 2.
Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông (điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt).
Câu 3.
Hai từ láy trong văn bản:
- xù xì: chỉ bề mặt thô ráp, không nhẵn.
- chật chội: chật, gây cảm giác bức bối, khó chịu.
Câu 4.
Nhân vật “tôi” (hạt dẻ gai) mang đặc điểm của nhân vật trong truyện đồng thoại:
- Vừa mang đặc điểm của loài vật/thực vật (có vỏ xù xì, gai góc).
- Vừa mang đặc điểm của con người: biết suy nghĩ, cảm xúc, lo sợ, được mẹ an ủi (nhân hoá).
Câu 5.
Bài học rút ra:
Muốn trưởng thành, mỗi người cần dũng cảm rời vòng tay che chở, tin vào bản thân và sẵn sàng đối diện với thử thách trong cuộc sống.
Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại
Câu 2: Theo văn bản ,những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa ,mưa dông
Câu 3: Hai từ láy là :"xù xì", "chật chội"
-Nghĩa của từ "chật chội": chật, gây nên cảm giác bức bối khó chịu
- Nghĩa của từ "xù xì": bù xù, gây nên cảm giác khó chịu
Câu 4: Nhân vật tôi ( dẻ gai) là mội loài thực vật , vừa mang đặc điểm của lòa vật vừa mang đặc điểm của con người (được nhân các hóa)
Câu 5: Qua bài đọc em rút ra được bài học là : Muốn trưởng thành, ta phải dũng cảm bước ra khỏi vòng tay che chở, tin vào bản thân, sẵn sàng đối diện với thử thách

Câu 1:
Ngữ liệu trên thuộc kiểu văn bản thuyết minh.
Câu 2:
Phần sapo của văn bản có đặc điểm: in đậm, đặt ngay dưới nhan đề, tóm tắt nội dung chính nhằm thu hút sự chú ý và định hướng nội dung cho người đọc.
Câu 3:
Theo văn bản, để tạo dáng sản phẩm gốm, nghệ nhân phải thực hiện qua các quy trình cơ bản: làm đất, tạo dáng, nung gốm, trong đó, công đoạn tạo dáng gồm nặn hình, trang trí, miết láng và tu sửa gốm.
Câu 4:
Phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản là hình ảnh: "Nghệ nhân làng gốm Bàu Trúc giới thiệu quy trình làm gốm thủ công."
=>Tác dụng: Hình ảnh minh họa trực quan cho nội dung thuyết minh, giúp người đọc hình dung rõ hơn về quy trình làm gốm và tăng tính hấp dẫn, sinh động cho văn bản.
Câu 5 :
Trạng ngữ: "Với những giá trị đặc sắc".
=>Tác dụng: Trạng ngữ chỉ phương diện, nhấn mạnh lý do vì sao nghệ thuật làm gốm của người Chăm Bàu Trúc trở thành dấu ấn quan trọng của lịch sử, văn hóa, xã hội.
Câu 6 :
Giữ gìn và bảo tồn các làng nghề truyền thống là một nhiệm vụ cấp thiết trong thời đại ngày nay. Theo em, cần có các giải pháp cụ thể như: tổ chức những lớp đào tạo nghề cho thế hệ trẻ, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, gắn phát triển làng nghề với du lịch văn hóa để quảng bá rộng rãi hơn. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về vốn, công nghệ, đồng thời tôn vinh nghệ nhân để khích lệ tinh thần sáng tạo. Bên cạnh đó, mỗi người dân cần nâng cao ý thức trân trọng giá trị nghề truyền thống, xem đó là một phần máu thịt của quê hương mình. Bảo tồn làng nghề cũng chính là bảo tồn linh hồn văn hóa dân tộc trước dòng chảy mạnh mẽ của toàn cầu hóa.
Câu 1. Ngữ liệu trên thuộc kiểu văn bản thông tin.
Câu 2. Phần sapo (sa-pô) của văn bản có đặc điểm hình thức sau:
– Nằm dưới nhan đề văn bản.
– Chữ viết in đậm.
Câu 3. Theo văn bản, để tạo dáng sản phẩm gốm, nghệ nhân phải thực hiện qua các quy trình sau: nặn hình, trang trí, miết láng và tu sửa gốm.
Câu 4. Văn bản sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ là ảnh nghệ nhân làng gốm Bàu Trúc giới thiệu quy trình làm gốm thủ công.
Tác dụng: góp phần thể hiện rõ nội dung văn bản, giúp người đọc có cái nhìn cụ thể và trực quan, sinh động hơn về nghề gốm cổ truyền của người Chăm ở làng Bàu Trúc.
Câu 5. Trạng ngữ: Với những giá trị đặc sắc.
Trạng ngữ trên có tác dụng chỉ phương tiện, cụ thể chỉ ra phương tiện để nghệ thuật làm gốm truyền thống của người Chăm Bàu Trúc là dấu ấn của lịch sử, của văn hóa, xã hội, được cộng đồng người Chăm làng Bàu Trúc thừa nhận, bảo tồn và lưu giữ qua nhiều thế hệ.
Câu 6.
– Đảm bảo hình thức đoạn văn với dung lượng 5 – 7 câu.
– Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn, tập trung trình bày giải pháp bảo tồn các làng nghề truyền thống:
+ Đào tạo và truyền nghề cho thế hệ trẻ.
+ Tăng cường quảng bá cho sản phẩm của các làng nghề.
– Đảm bảo viết đúng chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Câu 1. Ngữ liệu trên thuộc kiểu văn bản thông tin.
Câu 2. Phần sapo (sa-pô) của văn bản có đặc điểm hình thức sau:
– Được tách thành đoạn văn riêng, nằm dưới nhan đề văn bản.
– Chữ viết in đậm.
Câu 3. Theo văn bản, để tạo dáng sản phẩm gốm, nghệ nhân phải thực hiện qua các quy trình sau: nặn hình, trang trí, miết láng và tu sửa gốm.
Câu 4. Văn bản sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ là ảnh nghệ nhân làng gốm Bàu Trúc giới thiệu quy trình làm gốm thủ công.
Tác dụng: góp phần thể hiện rõ nội dung văn bản, giúp người đọc có cái nhìn cụ thể và trực quan, sinh động hơn về nghề gốm cổ truyền của người Chăm ở làng Bàu Trúc.
Câu 5. Trạng ngữ: Với những giá trị đặc sắc.
Trạng ngữ trên có tác dụng chỉ phương tiện, cụ thể chỉ ra phương tiện để nghệ thuật làm gốm truyền thống của người Chăm Bàu Trúc là dấu ấn của lịch sử, của văn hóa, xã hội, được cộng đồng người Chăm làng Bàu Trúc thừa nhận, bảo tồn và lưu giữ qua nhiều thế hệ.
Câu 1:
- Ngữ liệu trên thuộc kiểu văn bản là tự sự \(\)
Câu 3 :
- Theo văn bản , để tạo dáng sản phẩm gốm , nghệ nhân chúng ta cần phải thực hiện qua các quy trình đơn giản là : nặn hình , trang trí , miết láng và tự sửa gốm
Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn cho từng câu: Câu 1: Ngữ liệu thuộc kiểu văn bản thuyết minh (giới thiệu về nghề gốm Bàu Trúc). Câu 2: Phần sapo có đặc điểm: ngắn gọn, in đậm/đặt đầu văn bản, khái quát nội dung chính để thu hút người đọc. Câu 3: Các quy trình cơ bản để tạo dáng sản phẩm gốm: Chuẩn bị và xử lí đất Tạo hình (nặn bằng tay, không dùng bàn xoay) Trang trí hoa văn Phơi khô Nung sản phẩm Câu 4: Phương tiện phi ngôn ngữ: hình ảnh minh họa. Tác dụng: giúp người đọc hình dung rõ quy trình làm gốm, tăng tính trực quan và hấp dẫn cho văn bản. Câu 5: Trạng ngữ: “Với những giá trị đặc sắc”. Tác dụng: bổ sung ý nghĩa về phương diện/khía cạnh đánh giá, làm rõ giá trị của nghề gốm Bàu Trúc. Câu 6 (đoạn 5–7 câu): Các làng nghề truyền thống là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc, vì vậy cần được bảo tồn và phát huy. Trước hết, cần tăng cường quảng bá sản phẩm làng nghề qua du lịch và các nền tảng trực tuyến. Bên cạnh đó, Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ vốn và đào tạo cho nghệ nhân trẻ. Việc kết hợp giữa truyền thống và sáng tạo hiện đại cũng giúp sản phẩm phù hợp hơn với thị trường. Ngoài ra, giáo dục thế hệ trẻ về giá trị văn hóa của làng nghề là rất cần thiết. Có như vậy, các làng nghề mới có thể phát triển bền vững và không bị mai một theo thời gian.
C1: Không biết làm
C2: Không biết làm
C2: Không biết làm
Câu1: ngữ liệu trênt thuộc kiểu văn bản thông tin
Câu2:Sa-pô có đặc điểm hữ phông chữ
Câu 3 : nghệ nhân phải thực hiện qua các bước quy trình đơn giảlaf n : nạn hình, trang tafaf quá trùnh gửi và nhận thông điệp rí , miết láng và là tu sửa gốm
Câu 4:là quá trình gửi và nhận thông điệp. Mà không sử dụng lời nói hay văn bản viết
Câu5 : là nhấn mạnh nghề làm gốm của người Chăm là một dấu ấn của lịch sử
Câu6 : cách giải Pháp về bảo tồn làng truyền thống như kết hợp sản xuất với du lịch trải nghiệm hay ứng dụng công nghệ vào quảng cáo bá là vô cùng thiềt thực
Câu 1 ngữ liệu trên thuộc kiểu văn bản thông tin
Câu 2 đặc điểm hình thức phần sapo thường nằm dưới nhan đề được in đậm hoặc in nghiêng
Câu 3 theo văn bản gốc về nghề gốm bàu trúc để tạo dáng sản phẩm nghệ nhân thực hiện các bước đặt khối đất lên bệ
Câu 4 chỉ phương tiện phi ngôn ngữ thường là hình ảnh thông minh các công đoạn làm gốm hoặc sản phẩm gốm hoàn thiện
Câu 5 trạng ngữ với những giá trị đặc sắc tác dụng bổ sung thông tin về cách thức
1.Ngữ liệu trên thuộc kiểu văn bản thông tin
2. Phần sapo có đặc điểm nổi bật được in ngiêng để tạo điểm nhấn. Sapo có vai trò trong việc thu hút người đọc giúp họ nắm bắt nội dung côt lõi của bài
3. theo văn bản để tạo dáng sản phẩm nghệ nhân phải thực hiện quy trình cơ bản bao gồm: làm đất, nặn hình, và trang trí
4. Tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản trên là : giúp cụ thể hoá nội dung, tăng tính sinh động và hấp dẫn, truyền tải thông tin nhanh chóng và hỗ trợ gì nhớ
5.chỉ ra trạng ngữ ‘‘ với những giá trị đặc sắc “( trạng ngữ chỉ cách thức, phương diện) và “ qua nhiều thế hệ” ( trạng ngữ chỉ thời gian) . tác dụng giúp câu văn đầy đủ ý nghĩa , tăng sức biểu cảm và tính thuyết phục
6. Viết một đoạn văn về giải pháp bảo tồn làng nghề truyền thống.
Bảo tồn làng nghề truyền thống là nhiệm vụ cấp thiết để gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc. Nhà nước cần có những chính sách , kế hoạch đào tạo nghề cho thế hệ trẻ để duy trì đội ngũ kế cận lành nghề. Kết hợp giữa sản xuất và phát triển du lịch trải nghiệm sẽ giúp quảng bá hình ảnh làng nghề rộng rãi đến bạn bè quốc tế. Chỉ khi có sự chung tay của cả cộng đồng, các làng nghề mới có thể đứng vững và tỏa sáng trong dòng chảy thời gian
câu 1 văn bản thông tin
câu 2 in đậm hoặc in nghiêng
câu 3 để tạo dáng sản phẩm gốm, nghệ thuật phải thực hiện qua các quy trình cơ bản như sau. nặn hình ,trang trí, miết láng, tu sửa.
câu 4 câu hình ảnh hoặc biểu đồ
câu 5 trạng ngữ: với những giá trị đặc sắc
tác dụng của trạng ngữ:
về nội dung Trạng ngữ này bổ sung về phương tiện, cách thức
câu 6
bài làm
Theo suy nghĩ của em việc bảo tồn các
làng nghề truyền thống để giữ gìn bản sắc văn hóa nhân tộc .
1 ngữ liệu trên thuộc kiểu văn bản thông tin
2 sa pô của văn bản có hình thức của một đoạn văn
3 để tạo dáng cho sản phẩm gốm, nghệ nhân phải thực hiện các quy trình cơ bản như làm đất, tạo dáng, nung đất
câu 1
ngữ liệu trên thuộc văn bản thông tin
câu 2
Câu 1: Ngữ liệu trên thuộc kiểu văn bản thông tin
Câu 2:đặc điểm sa-pô là nói về nghề làm gốm của người chăm
Câu 3: để tạo dáng sản phẩm gốm nghệ nhân phải làm đất ,tạo dáng, nặn hình,trang trí,miết dáng,tu sửa gốm và nung gốm
Câu 4:tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản trên là cụ thể hoá thông tin,giúp người đọc hình dung trực quan, sinh động quy trình chế tác không khuôn,rắc màu và vẻ đẹp độc đáo của gốm Chăm
Câu 5:bổ sung về phương tiện,cách thức để nghệ thuật làm gốm truyền thống của người Chăm Bàu Trúc trở thành dấu ấn lịch sử
Câu 6: bài làm
Bảo tồn làng nghề truyền thống là một nhiệm vụ cần thiết để giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc giữa thời hiện đại.Để thực hiện điều đó,chúng ta có thể đẩy mạnh quảng bá du lịch trải nghiệm nghề truyền thống cũng là hướng đi giúp cho nghệ nhân có thêm thu nhậ.Đồng thời,mỗi con người chúng ta cần nâng cao ý thức trân trọng và ưu tiên sử dụng các sản phẩm thủ công từ các nghề truyền thống.Chỉ khi có sự chung tay của cả cộng đồng , các làng nghề mới có thể phát triển bền vững và tiếp tục giữ lại bản sắc văn hoá truyền thống giữa dòng thời gian hiện đại
Câu 1
Văn bản thông tin
Câu 2
Phần sapo được in đậm, nằm ngay dưới tiêu đề và trước phần nội dung chính của văn bản.
Câu 3
Các quy trình cơ bản để tạo dáng gồm: nặn hình, trang trí, miết láng và tu sửa gốm.
Câu 4
Hình ảnh nghệ nhân đang miệt mài làm gốm. Giúp người đọc dễ dàng hình dung thực tế quy trình làm gốm thủ công, làm cho văn bản trở nên sinh động, trực quan và tăng tính xác thực cho thông tin được cung cấp.
Câu 5
"Với những giá trị đặc sắc". Bổ sung thông tin về phương tiện, cách thức hoặc nguyên nhân; nhấn mạnh nền tảng tạo nên giá trị và vị thế quan trọng của nghệ thuật làm gốm Bàu Trúc.
Câu 6
Bảo tồn các làng nghề truyền thống không chỉ là giữ gìn văn hóa mà còn phát triển kinh tế bền vững. Đầu tiên, chúng ta cần đẩy mạnh quảng bá hình ảnh làng nghề thông qua du lịch và các mạng xã hội để sản phẩm tiếp cận được khách hàng quốc tế. Thứ hai, nhà nước cần có chính sách hỗ trợ vốn và đào tạo nghệ nhân trẻ để truyền nghề, tránh nguy cơ mai một. Ngoài ra, việc cải tiến mẫu mã sản phẩm sao cho vừa giữ được nét truyền thống vừa phù hợp với thị hiếu hiện đại là rất cần thiết. Mỗi cá nhân cũng cần nâng cao ý thức trân trọng và ưu tiên sử dụng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ trong nước. Chỉ khi có sự chung tay của cộng đồng, các giá trị di sản này mới có thể tồn tại mãi với thời gian.
C
câu 1 là văn bản thông tin câu 2 nghệ nhân phải làm các quy trình như làm đất , tạo dáng, nung gốm câu 5 nghệ thuột ,đặc sắc , xã hội câu 6 bài làm: chúng ta cần giữ gìn các nghề truyền thống bởi vì nếu chúng ta
Câu 1
VB thuộc VB thông tin
Câu 2
Phần sa-po có
câu1 văn bản lịch sử
câu2 là người bản địa.
câu1 là văn bản lịch sử
Câu 1: thuộc loại văn bản tự do
Câu 2: Rất phong phú và đa dạng
Câu 3:Trang trí những hoa văn và hoạ tiết
câu1
Bài 1
Bài thuộc thể loại văn bản thông tin
Bài 2
Phần sapo của bài có các đặc điểm là:
Vị trí nằm ngay sau nhan đề
Kiểu chữ in đậm
Câu 3
bước 1 chuẩn bị đất sét cát
Bước 2 tạo hình bằng tay
Bước 3 chỉnh sửa làm láng và trang trí
Câu 4
Phương tiện :hình ảnh minh hoạ
Tác dụng: giúp người đọc dễ hình dung quy trình và làm văn bản sinh động hơn
Câu 5
Trạng ngữ:"với những giá trị đặc sắc"
Tác dụng: chỉ cách thức, Nguyên nhân nhấn mạnh tầm quan trọng của nghề gốm
Câu 6
Bài làm
Việc bảo tồn các làng nghề truyền thống là vô cùng cần thiết để giữ gìn nét đẹp văn hóa cần được bảo vệ để không bị mai một theo thời gian song song với đó các địa phương nên đẩy mạnh du lịch trải nghiệm tại làng nghề cuối cùng sự ủng hộ của cộng đồng sẽ giúp di sản văn hóa mãi trường tồn
Câu 1: văn bản trong Đảng cộng sản.VN
Câu 2: Phần sapo của văn bản có đặc điểm hình thức như "nghề làm gốm thủ công là một nét đẹp độc đáo trong bức tranh văn hoá Chăm"
Câu 3: nặn hình,trang trí,vẽ hoa tiết,...
1)ngữ liệu kia là kiểu văn bản thông tin
2) sapo trong văn bản là nơi cho chúng ta biết nội dung chính của văn bản
3) nặn đất, tạo hình , miết láng tu sửa gốm
Câu 1: Văn bản trên là văn bản thông tin
Câu 2: Giới thiệu về làng gốm, văn hóa của người Chăm
Câu 3: Nặn hình, trang trí, miết láng và tu sửa gốm
Câu 4: Hình ảnh là phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ
Câu 5: Lịch sử và làng Bàu Trúc là trạng ngữ
Câu 6: Bài làm
Để bảo tồn các làng nghề truyền thống thì chúng ta phải tôn trọng các làng nghề truyền thống và giới thiệu nó với bạn bè quốc tế. Cần đào tạo nghệ nhân để làm đồ truyền thống. Quảng bá sản phẩm đến các trang mạng để có thu nhập ổn định. Chúng ta cũng phải giữ gìn làng nghề truyền thống vì nó cũng là bản sắc dân tộc Việt Nam ta. Phát triển các làng nghề để cho du khách tham quan, trải nghiệm và biết đến nhiều hơn.
Câu1
Thông tin
Câu2
Được in đậm
Câu 3
Chuẩn bị nguyên liệu như đất sét
Câu5
Với những giá trị
Văn bản thông tin
Thuộc thể loại văn bản thông tin
Câu 1 : văn bản thông tin
Câu 1văn bản thuộc thể loại văn bản thông tin