K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

27 tháng 10 2017

- Cách xác định  như sau, mỗi Thế kỷ là 100 năm:

Thế ky 1 : năm 0000 đến 0099

Thế kỷ 2 : năm 0100 đến 0199

Thế kỷ 3 : năm 0200 đến 0299

...........

Thế kỷ 19 : năm 1800 đến 1899

Thế kỷ 20 : năm 1900 đến 1999

Thế kỷ 21 : năm 2000 đến 2099

- Làm tròn số năm bằng 4 chữ số 

VD: 0156- 0040- 1987- 2004

   + Lấy 2 chữ số đầu cộng 1 thì ra THẾ KY

   + Chú ý: năm nào hai chữ số cuối là 00 thì KHÔNG CỘNG

VD: 1900 thuộc TK19

     1901 thuộc TK 20

     2000 thuộc TK 20

     2001 thuộc TK 21

-Cách xác định để xem năm đó là thế kỷ mấy như sau: Bạn lấy 1 số đầu (đối với năm có 3 số) và 2 số đầu (đối với năm có 4 số) cộng thêm 1 sẽ ra thế kỷ.

Ví dụ:

+ Năm 629 (bạn lấy chữ số đầu là 6 + 1 = 7) => thế kỷ 7

+ Năm 1389 (bạn lấy 2 chữ số đầu là 13 + 1 = 14) => thế kỷ 14

27 tháng 10 2017

 bạn lấy 2 số đầu của năm đó và cộng thêm 1 vô là dc

ví dụ: 2017 lấy 2 số đầu là 20 rồi cộng 1 là 21, vậy 2017 thuộc thế kỉ 21.

Bài làm

~ Tham khảo nha, mik k bt diễn tả ntn nx nên mik cho bn tham khảo một chút, đây là soạn cả bài nhé ~

I - GHI NHỚ VỀ TỪ LOẠI:

- Dựa vào sự giống nhau về đặc điểm ngữ pháp, các từ được phân ra thành từng loại, gọi là từ loại.

- Từ loại là các loại từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quát.

- Các từ loại cơ bản của Tiếng Việt gồm: Danh từ, động từ, tính từ, đại từ (lớp 5). Ngoài ra, còn có 1 số từ loại khác như: Quan hệ từ (học ở lớp 5), số từ, phụ từ, tình thái từ,...(không học ở tiểu học).

II - GHI NHỚ VỀ DANH TỪ - ĐỘNG TỪ - TÍNH TỪ:

1. Danh từ (DT): DT là những từ chỉ sự vật (người, vật, hiện tượng, khái niệm hoặc đơn vị)

V.D:

- DT chỉ hiện tượng: mưa, nắng, sấm, chớp,...

- DT chỉ khái niệm: đạo đức, người, kinh nghiệm, cách mạng,...

- DT chỉ đơn vị: Ông, vị (vị giám đốc), cô (cô Tấm), cái, bức, tấm,... ; mét, lít, ki-lô-gam,... ; nắm, mớ, đàn,...

Khi phân loại DT tiếng Việt, trước hết, người ta phân chia thành 2 loại: DT riêng và DT chung.

+ Danh từ riêng: là tên riêng của một sự vật (tên người, tên địa phương, tên địa danh,...)

+ Danh từ chung: là tên của một loại sự vật (dùng để gọi chung cho một loại sự vật). DT chung có thể chia thành 2 loại:

- DT cụ thể: là DT chỉ sự vật mà ta có thể cảm nhận được bằng các giác quan (sách, vở, gió, mưa,...).

- DT trừu tượng: là các DT chỉ sự vật mà ta không cảm nhận được bằng các giác quan (cách mạng, tinh thần, ý nghĩa,...).

Các DT chỉ hiện tượng, chỉ khái niệm, chỉ đơn vị được giảng dạy trong chương trình SGK lớp 4 chính là các loại nhỏ của DT chung.

==> DT chỉ hiện tượng:

Hiện tượng là cái xảy ra trong không gian và thời gian mà con người có thể nhận thấy, nhận biết được. Có hiện tượng tự nhiên như: mưa, nắng, sấm, chớp, động đất,... và hiện tượng xã hội như: chiến tranh, đói nghèo, áp bức,...DT chỉ hiện tượng là DT biểu thị các hiện tượng tự nhiên (cơn mưa, ánh nắng, tia chớp,...) và hiện tượng xã hội (cuộc chiến tranh, sự đói nghèo,...) nói trên.

==> DT chỉ khái niệm:

Chính là loại DT có ý nghĩa trừu tượng (DT trừu tượng - đã nêu ở trên). Đây là loại DT không chỉ vật thể, các chất liệu hay các đơn vị sự vật cụ thể ,mà biểu thị các khái niệm trừu tượng như: tư tưởng, đạo đức, khả năng, tính nết, thói quen, quan hệ, thái độ,cuộc sống, ý thức , tinh thần, mục đích, phương châm,chủ trương, biện pháp, ý kiến, cảm tưởng, niềm vui, nỗi buồn, tình yêu, tình bạn,… Các khái niệm này chỉ tồn tại trong nhận thức, trong ý thức của con người, không “vật chất hoá”, cụ thể hoá được. Nói cách khác, các khái niệm này không có hình thù, không cảm nhận trực tiếp được bằng các giác quan như mắt nhìn, tai nghe,...

==> DT chỉ đơn vị:

Hiểu theo nghĩa rộng, DT chỉ đơn vị là những từ chỉ đơn vị các sự vật. Căn cứ vào đặc trưng ngữ nghĩa, vào phạm vi sử dụng, có thể chia DT chỉ đơn vị thành các loại nhỏ như sau :

- DT chỉ đơn vị tự nhiên: Các DT này chỉ rõ loại sự vật, nên còn được gọi là DT chỉ loại. Đó là các từ: con, cái, chiếc; cục, mẩu, miếng; ngôi, tấm, bức; tờ, quyển, cây, hạt, giọt, hòn, sợi,...

- DT chỉ đơn vị đo lường: Các DT này dùng để tính đếm, đo đếm các sự vật, vật liệu, chất liệu,...VD: lạng, cân, yến, tạ, mét thước, lít sải, gang,...

- DT chỉ đơn vị tập thể: Dùng để tính đếm các sự vật tồn tại dưới dạng tập thể, tổ hợp. Đó là các từ: bộ, đôi, cặp, bọn, tụi, đàn, dãy, bó,...

- DT chỉ đơn vị thời gian: Các từ như: giây, phút, giờ, tuần, tháng, mùa vụ, buổi,...

- DT chỉ đơn vị hành chính, tổ chức: xóm, thôn, xã, huyện, nước, nhóm, tổ, lớp, trường, tiểu đội, ban, ngành,...

* Cụm DT:

- DT có thể kết hợp với các từ chỉ số lượng ở phía trước, các từ chỉ định ở phía sau và một số từ ngữ khác để lập thành cụm DT. Cụm DT là loại tổ hợp từ do DT và một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành.

Trong cụm DT, các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho DT các ý nghĩa về số và lượng. Các phụ ngữ ở phần sau nêu lên đặc điểm của sự vật mà DT biểu thị hoặc xác định vị trí của sự vật ấy trong gian hay thời gian.

2. Động từ (ĐT): ĐT là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật.

V.D: - Đi, chạy, nhảy,... (ĐT chỉ hoạt động)

- Vui, buồn, giận, ... (ĐT chỉ trạng thái)

* Mấy lưu ý về ĐT chỉ trạng thái:

- Đặc điểm ngữ pháp nổi bật nhất của ĐT chỉ trạng thái là: nếu như ĐT chỉ hoạt động, hành động có thể kết hợp với từ xong ở phía sau (ăn xong, đọc xong ,...) thì ĐT chỉ trạng thái không kết hợp với xong ở phía sau (không nói: còn xong, hết xong, kính trọng xong, ...). Trong TV có một số loại ĐT chỉ trạng thái sau :

+ ĐT chỉ trạng thái tồn tại (hoặc trạng thái không tồn tại): còn, hết, có,...

+ ĐT chỉ trạng thái biến hoá: thành, hoá,...

+ ĐT chỉ trạng thái tiếp thụ: được, bị, phải, chịu,...

+ ĐT chỉ trạng thái so sánh: bằng, thua, hơn, là,...

- Một số “nội ĐT” sau đây cũng được coi là ĐT chỉ trạng thái: nằm, ngồi, ngủ, thức, nghỉ ngơi, suy nghĩ, đi, đứng, lăn, lê, vui, buồn, hồi hộp, băn khoăn, lo lắng,… Các từ này có một số đặc điểm sau:

+ Một số từ vừa được coi là ĐT chỉ hành động, lại vừa được coi là ĐT chỉ trạng thái.

+ Một số từ chuyển nghĩa thì được coi là ĐT chỉ trạng thái (trạng thái tồn tại).

VD: Bác đã đi rồi sao Bác ơi! (Tố Hữu)

Anh ấy đứng tuổi rồi.

+ Một số từ mang đặc điểm ngữ pháp của TT (kết hợp được với các từ chỉ mức độ )

- Các "ngoại ĐT” sau đây cũng được coi là ĐT chỉ trạng thái ( trạng thái tâm lí ): yêu, ghét , kính trọng, chán, thèm, hiểu,...Các từ này mang đặc điểm ngữ pháp của TT, có tính chất trung gian giữa ĐT và TT.

- Có một số ĐT chỉ hành động dược sử dụng như một ĐT chỉ trạng thái.

VD: Trên tường treo một bức tranh.

Dưới gốc cây có buộc một con ngựa.

- ĐT chỉ trạng thái mang một số đặc điểm về ngữ pháp và ngữ nghĩa giống như TT. Vì vậy, chúng có thể làm vị ngữ trong câu kể: Ai thế nào?

* Xem thêm về ĐT nội động và ĐT ngoại động:

- ĐT nội động :Là những ĐT hướng vào người làm chủ hoạt động (ngồi, ngủ, đứng,... ). ĐT nội động không có khả năng có bổ ngữ chỉ đối tượng trực tiếp mà phải có quan hệ từ.

V.D1: Bố mẹ rất      lo lắng        cho       tôi

                 ĐT nội động   Q.H.T     Bổ ngữ

- ĐT ngoại động: là những ĐT hướng đến người khác, vật khác (xây, phá, đập, cắt,...). ĐT ngoại động có khả năng có bổ ngữ chỉ đối tượng trực tiếp.

V.D2: Bố mẹ rất   thương yêu       tôi.

              ĐT ngoại động    Bổ ngữ

- Để phân biệt ĐT nội động và ĐT ngoại động, ta đặt câu hỏi: ai ? cái gì ? đằng sau ĐT. Nếu có thể dùng 1 bổ ngữ trả lời trực tiếp mà không cần quan hệ từ thì đó là ĐT ngoại động (V.D2), nếu không được thì đó là ĐT nội động (V.D 1)

Hỏi: yêu thương ai? > yêu thương tôi.

Lo lắng cho ai ? > lo lắng cho tôi.( không thể hỏi: lo lắng ai ?)

* Cụm ĐT:

- ĐT thường kết hợp với các phụ từ mệnh lệnh (ở phía trước) và một số từ ngữ khác để tạo thành cụm ĐT. Cụm ĐT là loại tổ hợp từ do ĐT với một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành. Nhiều ĐT phải có các từ ngữ phụ thuộc đi kèm, tạo thành cụm ĐT mới trọn nghĩa.

Trong cụm ĐT, các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho ĐT các ý nghĩa: quan hệ thời gian; sự tiếp diễn tương tự ;sự khuyến khích hoặc ngăn cản hành động; sự khẳng định hoặc phủ định hành động,...Các phụ ngữ ở phần sau bổ sung cho ĐT các chi tiết về đối tượng, hướng, địa điểm, thời gian, mục đích, nguyên nhân, phương tiện và cách thức hành động.

3. Tính từ (TT): TT là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của vật, hoạt động, trạng thái,...

* Có 2 loại TT đáng chú ý là:

- TT chỉ tính chất chung không có mức độ (xanh, tím, sâu, vắng,...)

- TT chỉ tính chất có xác định mức độ (mức độ cao nhất) (xanh lè, tím ngắt, sâu hoắm, vắng tanh,...)

* Phân biệt từ chỉ đặc điểm, từ chỉ tính chất, từ chỉ trạng thái:

- Từ chỉ đặc điểm:

Đặc điểm là nét riêng biệt, là vẻ riêng của một một sự vật nào đó ( có thể là người, con vật, đồ vât, cây cối,...). Đặc điểm của một vật chủ yếu là đặc điểm bên ngoài (ngoại hình ) mà ta có thể nhậ...

19 tháng 3 2019

cảm ơn bạn nhé

5 tháng 2 2018

Giups tớ với

23 tháng 12 2017

Nhưng cô gái có bề ngoài rắn giỏi => CN
là thế lại là người hay nghĩ ngợi,dễ cảm thương => VN
ko có TN

23 tháng 12 2017

TRạng ngữ : chỉ thời gian, nơi chốn , nguyên nhân, mục đích ...

trạng ngữ trả lời chó câu hỏi khí nào ? ở đâu? Vì sao? để làm gì?

Chủ ngừ là bộ phận thứ nhất nêu: người hay sự vật làm  chủ sự việc trong câu .Chủ ngữ có thể dùng trả lời câu hỏi Ai?Cái gì? Con gì ?..

Vị ngừ là bộ phận thứ 2 trong câu ;nêu: Hoạt động , Trạng thái , tính chất của người ,vật ở chủ ngữ

CN: cô gái

TN : Nhưng

VN: có bề ngoài rắn giỏi , người hay nghĩ ngợi , dễ cảm thương

3 tháng 6 2018

 a)Bánh chưng / có 

3 tháng 6 2018

a) banh trung / co la

3 tháng 6 2018

a.

Mình,Ta: đại từ nhân xưng

về: động từ

Nhớ:Tính từ

Cười: động từ

b.

Bộc lộ lên được tình yêu thương da diết ,ngọt ngào. sâu đậm và nét mộc mạc ,giảm dị ,thân thiện qua ngòi bút nghệ thuật của nhà thơ....

Mik viết vội để gửi cho bạn nên câu b ko được hay cho lắm mong bạn thông cảm cho mik nhé.....

9 tháng 5 2018

Trong suốt những năm tháng ở dưới mái trường Tiểu học, em có rất nhiều những người bạn tốt. Nhưng trong suốt 5 năm đến trường, trong số những người bạn ấy, em có một cậu bạn thân từ hồi lớp Một cho đến bây giờ. Đó là Nam.
Nam không chỉ là bạn thân ở trường mà còn là bạn ấu thơ, người bạn hàng xóm cạnh nhà của em. Cùng là con trai nên sở thích của chúng em khá giống nhau. Trái ngược với những bạn nữ thích để tóc dài điệu đà xinh xắn, em và Nam cắt tóc ngắn. Bởi vì bọn em còn chơi rất nhiều trò hay với nhau, khi ra mồ hôi cũng không thấy quá khó chịu. Nam có nước da hơi ngăm đen vì những ngày tháng tuổi thơ cùng em chơi thả diều hay chơi đuổi bắt với đám trẻ hàng xóm. Cậu ấy có dáng người cao, đặc biệt là đôi chân dài nên Nam là người chạy nhanh nhất trong lớp. Nam sở hữu một đôi mắt sáng, lúc nào cũng linh động. Mẹ em nói người nào có đôi mắt như thế là thông minh lắm. Quả thật đúng là vậy. Nam vô cùng thông minh. Trong các giờ học, cậu ấy luôn là người giơ tay hăng hái phát biểu nhất lớp. Dù mới chỉ là học sinh lớp Năm nhưng đôi khi Nam có những câu hỏi mà khiến thầy cô giáo phải bất ngờ. Các bài kiểm tra của Nam luôn đạt điểm cao và đứng đầu lớp. Không chỉ trong các giờ học, mà ngay cả các hoạt động của lớp, Nam cũng nhiệt tình tham gia.
Nam là một người năng nổ, hoạt bát và rất dễ mến. Lớp em ai cũng quý cậu ấy. Nam và em là bạn thân từ nhỏ nên mỗi sáng cậu ấy đều qua rủ em đi học, chiều cùng đi về nhà. Chúng em thân thiết với nhau như hình với bóng khiến nhiều bạn trong lớp phải thắc mắc mà hỏi rằng: “Thế hai đứa không tách nhau ra được à?” Những lúc ấy Nam đều cười xòa và đáp lại rằng: “Không thể đâu, bọn tớ chơi thân với nhau từ bé quen rồi.”
Hồi còn nhỏ, em rất hay bị ốm nên mẹ không bao giờ cho em ra ngoài chơi cùng đám trẻ hàng xóm cả. Mỗi ngày em đều nhìn chúng chơi đùa, cười nói vui vẻ mà vô cùng khát khao. Em cứ nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ được chơi cùng chúng thì một ngày mùa thu nọ, nắng vàng dịu nhẹ trải dài khắp muôn nơi, Nam đã chạy đến trước mặt em và rủ em cùng cậu ấy đi chơi thả diều. Ban đầu em vẫn còn ngập ngừng phân vân vì mẹ không cho, nhưng ngay sau đó, Nam đã chạy vào xin phép mẹ em. Chẳng hiểu sao cậu ấy chỉ cần nói vài ba câu là mẹ em đã gật đầu đồng ý rồi. Chẳng thể chờ lâu hơn, em cùng Nam nhanh chân chạy tới triền đê, cả hai đứa cùng nhau chơi thả diều suốt ngày hôm đó. Từ ngày ấy, ngày nào Nam cũng qua rủ em đi chơi cùng, thế rồi hai đứa cứ thế mà thân nhau. Chúng em đã là bạn thân từ khi còn bé đến tận năm lớp Năm rồi, em mong rằng đến lúc lên cấp hai, bọn em vẫn sẽ học chung trường, chung lớp như bây giờ.
Em rất yêu quý Nam. Nam chính là người đã đem tới cho em rất nhiều niềm vui và kỷ niệm. Em mong rằng tình bạn của hai đứa sẽ bền lâu và gắn chặt mãi đến sau này.

9 tháng 5 2018

Người ta vẫn nói bạn thân là những người bạn thân thiết nhất của mỗi người, là người có cùng chung sở thích với chúng ta. Em vẫn hay thấy các bạn nữ chơi thân với các bạn nữ, các bạn nam chơi thân với các bạn nam ở trong lớp. Nhưng bạn thân của em lại là một bạn nam, và em là nữ. Dù vậy nhưng bọn em vẫn chơi rất vui với nhau. Cậu ấy là một người bạn tốt với em.

Cậu bạn thân của em tên là Thiên. Mẹ em nói tên của cậu ấy có nghĩa là bầu trời cao rộng lớn. Quả thực tên cũng giống như tính cách của cậu ấy vậy. Thiên luôn bảo vệ chở che cho em, giống như là “bầu trời” của riêng em vậy. Cậu ấy không bao giờ để những đứa con trai trong lớp hay lũ trẻ hàng xóm bắt nạt em cả. Thiên có một dáng người dong dỏng cao và khỏe khoắn. Nước da hơi ngăm vì nắng vì gió, vì những ngày tháng cùng em chạy đua thả diều trên cánh đồng, cùng em đi chơi trong chiều hè nắng gắt… Cái mũi cao cương nghị, đôi mắt sáng ngời luôn toát lên sự vui vẻ. Thiên có một giọng nói rất hay, đặc biệt là khi hát. Bởi vậy nên cậu ấy được mệnh danh là “cây văn nghệ” của lớp em đấy.

Em vẫn còn nhớ ngày đầu vào lớp, khi thấy em và Thiên luôn đi cùng nhau, bạn trong lớp đều hỏi cậu ấy rằng: “Mày với con Nguyệt chơi thân với nhau kiểu gì thế? Nam nữ mà thân cũng lạ ghê.” Những lần ấy, Thiên cũng chỉ cười cười cho qua, dần dà mọi người trong lớp cũng quen nên cũng không hỏi nữa. Bọn em chơi thân là do có cùng sở thích, hơn nữa, chúng em là bạn hàng xóm của nhau. Bố mẹ hai nhà chơi thân, thành ra hai đứa cũng biết nhau từ ngày còn bé xíu.

Thiên là một người rất chu đáo và quan tâm người khác. Mỗi lần em phải ở lại trực nhật, cậu ấy đều ở lại phụ giúp em. Còn khi cậu ấy ở lại thì đều kêu em về trước đi. Nhưng chẳng bao giờ em chịu về cả, cứ chạy qua tranh việc làm giúp cậu ấy. Hai đứa nhìn nhau rồi lại cười, lại cùng vui vẻ trực nhật. Mỗi lần có cái gì hay là Thiên lại mang sang nhà em cùng chia sẻ. Hai đứa chúng em thân nhau như hình với bóng vậy. Em nhớ có một lần Thiên đi chơi cùng gia đình lâu ngày mà em khóc lóc đòi theo cho bằng được. Bố mẹ có dỗ thế nào em cũng không chịu nghe. Chỉ khi Thiên hứa sẽ về sớm, sẽ mua quà cho em thì khi đó em mới thôi khóc. Bây giờ nhớ lại vẫn thấy bản thân mình trẻ con quá.

Bây giờ chúng em đều đã lớn rồi, nhưng vẫn chơi thân với nhau như ngày nào. Em mong rằng tình bạn này sẽ luôn bền chặt mãi. Em rất yêu quý Thiên – người bạn thân của em.