K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

23 tháng 1 2019

Nguyễn Đình Thi được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.

Đáp án cần chọn là: B

Tác động của mạng xã hội đến thói quen đọc sách của học sinh trung học phổ thông hiện nayTính cấp thiết của đề tài:Trong thời đại công nghệ 4.0, mạng xã hội trở thành phương tiện giao tiếp và giải trí phổ biến của giới trẻ. Tuy nhiên, việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều đang ảnh hưởng rõ rệt đến thói quen đọc sách của học sinh, khiến văn hóa đọc có nguy cơ mai một. Do đó,...
Đọc tiếp

Tác động của mạng xã hội đến thói quen đọc sách của học sinh trung học phổ thông hiện nay

Tính cấp thiết của đề tài:

Trong thời đại công nghệ 4.0, mạng xã hội trở thành phương tiện giao tiếp và giải trí phổ biến của giới trẻ. Tuy nhiên, việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều đang ảnh hưởng rõ rệt đến thói quen đọc sách của học sinh, khiến văn hóa đọc có nguy cơ mai một. Do đó, cần nghiên cứu để hiểu rõ tác động này nhằm tìm ra giải pháp khuyến khích học sinh quay lại với việc đọc sách.

+ Mục tiêu nghiên cứu:

- Xác định mức độ ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội đối với thói quen đọc sách của học sinh THPT; đề xuất một số hướng khắc phục, giúp cân bằng giữa việc sử dụng mạng xã hội và duy trì văn hóa đọc.

Câu hỏi nghiên cứu:

1. Học sinh THPT hiện nay dành bao nhiêu thời gian mỗi ngày cho mạng xã hội và cho việc đọc sách?

2. Mạng xã hội có làm giảm hứng thú đọc sách của học sinh không?

3. Có thể kết hợp mạng xã hội như thế nào để thúc đẩy thói quen đọc sách?

- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

Học sinh các trường THPT tại Thái Nguyên.

- Phương pháp nghiên cứu:

• Khảo sát trực tuyến qua biểu mẫu Google Form.

• Phỏng vấn nhóm nhỏ

• Tổng hợp và phân tích dữ liệu bằng phương pháp thống kê mô tả


Chương 1: Giới thiệu vấn đề và tổng quan nghiên cứu.

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp tiến hành.

Chương 3: Kết quả khảo sát, phân tích và ý kiến

0
Đề tài: Phân tích hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945. *Đặt vấn đề:Lý do chọn đề tàiĐối tượng phạm vi nghiên cứuMục đích nghiên cứuPhương pháp nghiên cứuViết nghiên cứu *Mở đầu: Giới thiệu đề tài, lý do chọn đề tài, mục đích và phạm vi nghiên cứu. -1: Cơ sở lý luận và bối cảnh giai đoạn 1930-1945 +Khái niệm hình tượng văn học và vai trò...
Đọc tiếp

Đề tài: Phân tích hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

*Đặt vấn đề:

Lý do chọn đề tài

Đối tượng phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Viết nghiên cứu

*Mở đầu: Giới thiệu đề tài, lý do chọn đề tài, mục đích và phạm vi nghiên cứu.

-1: Cơ sở lý luận và bối cảnh giai đoạn 1930-1945

+Khái niệm hình tượng văn học và vai trò của hình tượng người phụ nữ trong văn học.

+Bối cảnh xã hội, văn hóa và tư tưởng giai đoạn 1930-1945 (những ảnh hưởng đến văn học và quan niệm về phụ nữ).

-2: Hình tượng người phụ nữ trong các sáng tác tiêu biểu

+Hình tượng người phụ nữ bi kịch, đau khổ (ví dụ: nhân vật của Nam Cao).

+Hình tượng người phụ nữ với khát vọng đổi đời, tìm kiếm sự giải phóng (ví dụ: nhân vật của Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam).

+Phân tích sự đa dạng trong cách khai thác: từ thân phận nô lệ đến những nét tính cách mới.

-3: Đánh giá và những đóng góp của văn học giai đoạn 1930-1945

+Giá trị nhân văn trong việc khắc họa thân phận người phụ nữ.

+Sự thể hiện những trăn trở, đấu tranh và khát vọng của người phụ nữ trong xã hội.

+Đóng góp của hình tượng người phụ nữ vào sự phát triển của văn học hiện đại Việt Nam.

Kết luận: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu, khẳng định ý nghĩa của đề tài.

Tài liệu tham khảo: Liệt kê các sách, bài báo, công trình đã sử dụng.

0
9 tháng 9 2021

+ Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 vận động và phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt kéo dài suốt 30 năm.

Trong hoàn cảnh ấy, vấn đề dân tộc nổi lên hàng đầu, văn học tất yếu phải đề cập tới số phận chung của cả cộng đồng, của toàn dân tộc.

11 tháng 9 2021

+Văn học Việt Nam từ năm 1945-1975 vận động và phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt kéo dài suốt 30 năm 

+ Trong hoàn cảnh ấy, vấn đề dân tộc lên hàng đầu, văn học tất yếu phải đề cập tới số phận chung của cả cộng đồng, toàn dân tộc.

 

8 tháng 6 2016

Trong văn học cách mạng trước năm 1975, thước đo giá trị chủ yếu của nhân cách là sự cống hiến, hy sinh cho cách mạng, là các tiêu chuẩn đạo đức cách mạng được thể hiện chủ yếu trong mối quan hệ với đồng chí, đồng bào, với kẻ thù. Sau năm 1975, văn chương trở về với đời thường và Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kỳ đổi mới đã đi sâu khám phá đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Khi làm cho người đọc ý thức về sự thật, có khả năng nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp, chằng chịt, thì văn chương đã ít nhiều đáp ứng được nhu cầu nhìn nhận và hoàn thiện nhiều mặt của nhân cách con người. Truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là phát hiện về đời sống và con người theo hướng đó.
Phát hiện thứ nhất của nhân vật nghệ sĩ nhiếp ảnh là một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh, nơi anh đã dự tính bố cục, đã “phục kích” mấy buổi sáng để “chộp” được một cảnh thật ưng ý. Giây phút ấy đã tới, đôi mắt nhà nghề của người nghệ sĩ đã phát hiện ra vẻ đẹp “trời cho” trên mặt biển mờ sương, vẻ đẹp mà cả đời bấm máy có lẽ anh chỉ có diễm phúc bắt gặp được một lần: “trước mặt tôi là bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ. Mũi thuyền in một nét loè nhoè vào bầu sương mù màu trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới… toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp… Tôi tưởng thấy chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự hoàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá và sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Dường như trong hình ảnh về chiếc thuyền ngoài xa giữa trời biển mờ sương, anh đã bắt gặp cái tận Thiện, tận Mỹ, thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hoà, lãng mạn của cuộc đời.
Phát hiện thứ hai của nhân vật nghệ sĩ nhiếp ảnh lại đầy nghịch lý, nó bất ngờ và trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống. Phùng đã từng có “cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại”, anh đã từng chiêm nghiệm “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”, vậy mà hoá ra đằng sau cái đẹp “toàn bích… toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên mặt biển xa lại chẳng phải là “đạo đức”, là “chân lý của sự toàn thiện”. Anh đã chứng kiến từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ ấy bước ra một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi và cam chịu; một lão đàn ông thô kệch, dữ dằn và độc ác, coi việc đánh vợ như một phương cách để giải toả những uất ức, khổ đau. Phùng đã từng là người lính cầm súng chiến đấu để có vẻ đẹp thanh bình của thuyền biển mênh mông, anh không thể chịu được khi chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ một cách vô lý và thô bạo. Nhưng anh chưa kịp xông ra thì thằng Phác, con lão đàn ông đã kịp tới để che chở cho người mẹ đáng thương. Chỉ đến lần thứ hai, khi lại phải chứng kiến cảnh ấy, Phùng mới thể hiện được bản chất người lính không thể làm ngơ trước sự bạo hành của cái ác. Lão đàn ông đánh trả, Phùng bị thương, anh được đưa về trạm y tế của toà án huyện, ở đó có chánh án Đẩu, bạn chiến đấu cũ của anh. Phùng cay đắng nhận thấy những cái ngang trái, xấu xa, những bi kịch trong gia đình thuyền chài kia đã là thứ thuốc rửa quái đản làm những thước phim huyền diệu mà anh dày công chụp được bỗng hiện hình thật khủng khiếp, ghê sợ.
Câu chuyện của người đàn bà hàng chài ở toà án huyện là câu chuyện về sự thật cuộc đời, nó giúp những người như Phùng và Đẩu hiểu được nguyên do của những điều tưởng như vô lý. Bề ngoài đó là một người đàn bà quá nhẫn nhục, cam chịu, bị chồng thường xuyên hành hạ, đánh đập thật khốn khổ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, vậy mà vẫn nhất quyết gắn bó với lão đàn ông vũ phu ấy. Chỉ qua những lời giãi bày thật tình của người mẹ đáng thương đó mới thấy nguồn gốc mọi sự chịu đựng, hy sinh của bà là tình thương vô bờ với những đứa con: “đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có những người đàn ông ở thuyền để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa… phải sống cho con chứ không thể sống cho mình…”. Nếu hiểu sự việc một cách đơn giản, chỉ cần yêu cầu người đàn bà bỏ chồng là xong. Nhưng nếu nhìn vấn đề một cách thấu suốt sẽ thấy suy nghĩ và xử sự của bà là không thể khác được. Trong khổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi: “Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no… trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận, vui vẻ”; “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn…”. Qua câu chuyện của người đàn bà càng thấy rõ: không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự việc, hiện tượng của cuộc sống.
Tư tưởng nghệ thuật đó của Nguyễn Minh Châu thấm sâu trong hầu hết các nhân vật của truyện ngắn: người đàn bà vùng biển, lão đàn ông độc ác, chị em thằng Phác, người nghệ sĩ nhiếp ảnh.
Tác giả chỉ gọi là “người đàn bà” một cách phiếm định. Tuy không có tên tuổi cụ thể, chỉ là một người vô danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác, nhưng số phận con người ấy lại được tác giả tập trung thể hiện và được người đọc quan tâm nhất trong truyện ngắn này. Trạc ngoài bốn mươi, thô kệch, rỗ mặt, lúc nào cũng xuất hiện với “khuôn mặt mệt mỏi”, người đàn bà ấy gợi ấn tượng về một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ. Bà thầm lặng chịu đựng mọi đớn đau, khi bị chồng đánh “không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách trốn chạy”, bà coi đó là lẽ đương nhiên, chỉ đơn giản trong cuộc mưu sinh đầy cam go, trên chiếc thuyền kiếm sống ngoài biển xa cần có một người đàn ông khoẻ mạnh và biết nghề, chỉ vì những đứa con của bà cần được sống và lớn lên. “Tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như cái sự thâm trầm trong việc hiểu thấu các lẽ đời hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bề ngoài” – một sự cam chịu nhẫn nhục như thế thật đáng để chia sẻ, cảm thông. Thấp thoáng trong hình ảnh người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha, đức hy sinh.
Có lẽ cuộc sống đói nghèo, vất vả, quẩn quanh bao nhiêu lo toan, cực nhọc đã biến “anh con trai cục tính nhưng hiền lành” xưa kia thành một người chồng vũ phu, một lão đàn ông độc ác. Cứ khi nào thấy khổ quá là lão đánh vợ, đánh như để giải toả uất ức, để trút cho sạch nỗi tức tối, buồn phiền: “lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”. Trong đời vẫn có những kẻ như thế, nói như Nam Cao trước kia, chỉ để thoả mãn lòng ích kỷ, chúng tự cho mình cái quyền được hành hạ mọi người. Lão đàn ông “chân chữ bát”, “mái tóc tổ quạ”, “hai con mắt đầy vẻ độc dữ”, vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho chính những người thân của mình.
Trong một gia đình mà bố mẹ có chuyện lục đục, đáng thương nhất là những đứa trẻ. Chúng bị đẩy vào tình thế thật khó xử: biết đứng về phía ai, biết làm thế nào để trọn đạo làm con? Chị thằng Phác, một cô bé yếu ớt mà can đảm, đã phải vật lộn để tước con dao trên tay thằng em trai, không cho nó làm một việc trái với luân thường đạo lý. Chắc trong lòng cô bé tan nát vì đau đớn: bố điên cuồng hành hạ mẹ; chỉ vì thương mẹ mà thằng em định cầm dao ngăn bố… Cô bé lúc ấy là điểm tựa vững chắc của người mẹ đáng thương, cô đã hành động đúng khi cản được việc làm dại dột của đứa em, lại biết chăm sóc, lo toan khi mẹ phải đến toà án huyện. Còn thằng Phác lại thương mẹ theo kiểu một đứa con còn nhỏ, theo cái cách một đứa con trai vùng biển: nó “lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ, như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt”, nó “tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh”. Mặc dù thật khó chấp nhận kiểu bảo vệ mẹ của nó, nhưng hình ảnh thằng Phác vẫn khiến người ta cảm động bởi tình thương mẹ dạt dào.
Vốn là người lính chiến từng vào sinh ra tử, Phùng căm ghét mọi sự áp bức, bất công, sẵn sàng làm tất cả vì điều thiện, lẽ công bằng. Anh thực sự xúc động, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp tinh khôi của thuyền biển bình minh. Một người nhạy cảm như anh tránh sao khỏi nỗi tức giận khi phát hiện ra ngay sau cảnh đẹp chiếc thuyền ngoài xa là sự bạo hành của cái xấu, cái ác. Mới đầu, chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ và người vợ nhẫn nhục chịu đựng, Phùng hết sức “kinh ngạc”, anh “há mồm ra mà nhìn”, rồi sau như một phản xạ tự nhiên, anh “vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới”. Hành động ấy nói được nhiều điều. Chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, một khoảng cách đủ để tạo nên vẻ đẹp huyền ảo, nhưng sự thật cuộc đời lại ở rất gần. Đừng vì nghệ thuật mà quên cuộc đời, bởi lẽ nghệ thuật chân chính luôn là cuộc đời và vì cuộc đời. Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy là một con người biết yêu ghét vui buồn trước mọi lẽ đời thường tình, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người.
Ở tác phẩm này, nét độc đáo trong xây dựng cốt truyện của Nguyễn Minh Châu là cách tạo tình huống mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống. Nếu coi tình huống là sự kiện có ý nghĩa bộc lộ mọi mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, thử thách phẩm chất, tính cách, đôi khi tạo ra những bước ngoặt trong tư tưởng, tình cảm, trong cuộc đời con người, thì với Phùng, việc chứng kiến lão đàn ông đánh vợ là một sự kiện như thế. Trước đó, Phùng nhìn đời bằng con mắt của một nghệ sĩ, anh rung động, say mê trước vẻ đẹp “trời cho” của thuyền biển sớm mai. Chính trong giây phút tâm hồn thăng hoa những cảm xúc lãng mạn nhất, anh bất ngờ chứng kiến đôi vợ chồng từ con thuyền “thơ mộng” bước xuống, rồi lão đàn ông đánh vợ một cách dã man và vô lý. Tình huống đó được lặp lại một lần nữa, Phùng không chỉ chứng kiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng mà còn thấy được thái...

8 tháng 6 2016

1. Nhân vật Phùng thể hiện quan niệm về nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu:

    a. Phùng là người yêu nghề, có trách nhiệm với nghề

- Anh đã phục kích mấy buổi sáng mà chưa chụp được bức ảnh nào.

- Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm anh mới chụp được bức ảnh ưng ý.

   à Phùng không đơn giản, qua loa với công việc mà anh luôn hết lòng vì công việc.

    b. Phùng là một nghệ sĩ tài năng:

- Anh đã phát hiện bức tranh thiên nhiên giàu giá trị nghệ thuật:

   + Trước mặt Phùng là một khung cảnh thiên nhiên như  “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”.

   + “Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng của mặt trời chiếu vào”.

   +  “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”.

   + Khung cảnh được nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới giữa hai chiếc gọng vó giống hệt “cánh một con dơi”, đẹp từ đường nét đến ánh sáng. 

   à Phùng là người nghệ sĩ săn tìm cái đẹp. Anh thực sự biết quan sát  bằng đôi mắt tinh tường, "nhà nghề” để lựa chọn cái đẹp hài hoà giữa thiên nhiên, cảnh vật, con người - vẻ đẹp mà cả đời bấm máy anh chỉ gặp một lần.

    c. Phùng là người nghệ sĩ thật sự rung cảm trước cái đẹp:

- Cái đẹp đã làm Phùng xúc động và nhận ra sự rung cảm của tâm hồn mình.

   + Anh liên tưởng tới câu nói của ai đó “ bản thân cái đẹp chính là đạo đức” .

   + Và tưởng chính mình vừa khám phá “cái chân lí của sự hoàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn".

   à Người nghệ sĩ cảm thấy hạnh phúc khi khám phá và sáng tạo, khi cảm nhận cái đẹp hài hoà, lãng mạn giữa thiên nhiên và cuộc đời. Trong hình ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” giữa biển trời mờ sương, Phùng đã cảm nhận cái đẹp toàn bích và thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên trong trẻo, tinh khôi. Từ đây, ta thấy người nghệ sĩ phải là người phát hiện và mang cái đẹp đến cho đời.

     d.  Nhân vật Phùng thể hiện quan niệm về nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu:

- Qua việc khám phá bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” của Phùng, tác giả muốn đề ra một quan niệm về nghệ thuật: nghệ thuật chân chính bao giờ cũng bắt nguồn từ cuộc sống và phục vụ cho cuộc sống; người nghệ sĩ phải có tài năng, có sự lao động miệt mài và phải có sự xúc động trước cái đẹp thì mới sáng tạo được những tác phẩm có giá trị.

2. Nhân vật Phùng thể hiện cách nhìn về cuộc sống của nhà văn Nguyễn Minh Châu:

    a. Phùng là người có tấm lòng nhân hậu:

- Chưa thoả thuê ngắm bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” thì ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào nơi Phùng đứng.

- Người nghệ sĩ đã tận mắt chứng kiến: từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ bước ra một người đàn bà xấu xí, một lão đàn ông  thô kệch, dữ dằn, đánh vợ như một phương cách để giải tỏa những uất ức, khổ đau... Đây là hình ảnh đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên biển. Nó hiện ra bất ngờ, trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống.

- Chứng kiến cảnh ấy, Phùng đã “kinh ngạc đến mức (…) há mồm ra mà nhìn” rồi sau đó thì “vứt chiếc máy ảnh xuống đất, chạy nhào tới”. Nhưng anh chưa kịp xông ra thì thằng Phác (con lão đàn ông) đã kịp tới để che chở cho người mẹ .

- Đến lần thứ hai, bản chất người lính ở người nghệ sĩ được thể hiện. Anh xông ra buộc lão đàn ông phải chấm dứt hành động độc ác …  Hành động của Phùng cho thấy anh  không thể làm ngơ trước sự bạo hành của cái ác.

   àHoá ra đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên mặt biển xa lại chẳng phải là “đạo đức”, là “chân lí của sự toàn thiện” mà nó là  những ngang trái, xấu xa, những bi kịch còn tồn tại trong cuộc sống.

     b. Phùng luôn ý thức để hoàn thiện nhân cách:

- Tận mắt chứng kiến vẻ đẹp của bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa”, cảnh người đàn ông đáng vợ và khi lắng nghe câu chuyện của người đàn bà ở toà án (vì tình thương con, vì ý thức phải sống cho con, vì mong nuôi con cho đến khi khôn lớn mà chị chấp nhận gánh lấy cái khổ), Phùng nhận thức rất nhiều điều qua các cảnh ấy.

   + Đằng sau bức ảnh như  “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ” là những điều nghịch lý trong cuộc sống đời thường với biết bao số phận, bao mảnh đời éo le.

   + Để Phùng chứng kiến hành động vũ phu của người chồng, Nguyễn Minh Châu muốn phê phán tình trạng bạo lực trong gia đình, một mảng tối của xã hội đương đại.

   + Phùng đã hiểu về người đàn bà hàng chài kia: Ẩn bên trong sự xấu xí, nhẫn nhục là vẻ đẹp tình mẫu tử đầy vị tha, là khát khao hạnh phúc bình dị đời thường của người phụ nữ còn đói nghèo, lạc hậu.

   + Nỗi trăn trở của Phùng trong nhiều năm dài về hình ảnh người đàn bà hàng chài cứ hiện ra sau mỗi lần anh ngắm bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” chính là quá trình tự ý thức của Phùng để hoàn thiện nhân cách của mình.

    => Truyện không chỉ giàu giá trị nhân đạo mà còn mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều mới  phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng.

15 tháng 6 2018

Đáp án cần chọn là: B

Đề tài nghiên cứu-Tên đề tài: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố1: Đặt vấn đề-Lí do chọn đề tài: Hiểu thêm về nghệ thuật xây dựng nhân vật-Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:+Đối tượng: các nhân vật trong tác phẩm+Phạm vi nghiên cứu: tác phẩm Tắt đèn-Mục đích nghiên cứu: Khám phá, làm rõ về nghệ thuật xây dựng nhân vật chân thực, sinh...
Đọc tiếp

Đề tài nghiên cứu
-Tên đề tài: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố
1: Đặt vấn đề

-Lí do chọn đề tài: Hiểu thêm về nghệ thuật xây dựng nhân vật

-Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
+Đối tượng: các nhân vật trong tác phẩm
+Phạm vi nghiên cứu: tác phẩm Tắt đèn
-Mục đích nghiên cứu: Khám phá, làm rõ về nghệ thuật xây dựng nhân vật chân thực, sinh động của Ngô Tất Tố
-Cấu trúc nghiên cứu:
a) Mở đầu
b) Nội dung
c) Kết quả và thảo luận
d) Kết luận
2: Giải quyết vấn đề
a) 1 số vấn đề chung
-Hình ảnh người nông dân VN dưới xã hội phong kiến
-Ngô Tất Tố-cuộc đời, sự nghiệp
b) Đặc trưng xây dựng nhân vật của Ngô Tất Tố
-Khắc hoạ chân thực số phận người phụ nữ và người nông dân trong xã hội phong kiến
-Miêu tả ngoại hình và ngôn ngữ tinh tế

-Tái hiện nội tâm và hành động chân thực
-Ngôn ngữ giàu tính dân tộc, giàu sức biểu cảm
3: Kết luận
-Tóm tắt nội dung chính, mở rộng

0
đề tài nghiên cứu văn học Giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim LânI. Lý do chọn đề tài • “Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám. • Tác phẩm phản ánh chân thực nạn đói năm 1945 và ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người trong hoàn cảnh khốn cùng. • Em chọn đề tài này vì muốn hiểu rõ...
Đọc tiếp

đề tài nghiên cứu văn học

Giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân

I. Lý do chọn đề tài

• “Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám.

• Tác phẩm phản ánh chân thực nạn đói năm 1945 và ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người trong hoàn cảnh khốn cùng.

• Em chọn đề tài này vì muốn hiểu rõ hơn về giá trị nhân đạo và hiện thực – hai đặc điểm cốt lõi của văn học Việt Nam giai đoạn 1945–1975.

II. Mục tiêu nghiên cứu

1. Làm rõ giá trị hiện thực thể hiện qua bức tranh xã hội nạn đói 1945.

2. Phân tích giá trị nhân đạo qua cách nhà văn nhìn nhận, trân trọng con người nghèo khổ.

3. Khẳng định tài năng của Kim Lân trong việc miêu tả hiện thực và thể hiện lòng nhân ái.

III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

• Đối tượng: Truyện ngắn “Vợ nhặt” – Kim Lân.

• Phạm vi: Nội dung tác phẩm, ngôn ngữ, nhân vật, và chi tiết tiêu biểu (nhất là nhân vật Tràng và người “vợ nhặt”).

IV. Phương pháp nghiên cứu

1. Phân tích – tổng hợp: Phân tích nội dung, hình tượng, ngôn ngữ.

2. So sánh – đối chiếu: Liên hệ với các tác phẩm cùng thời (như “Làng” – Kim Lân, “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành).

3. Khái quát – nhận xét: Từ chi tiết cụ thể, rút ra ý nghĩa tư tưởng và giá trị nhân văn.

V. Nội dung nghiên cứu

1. Giới thiệu tác giả và tác phẩm

• Kim Lân (1920–2007): cây bút truyện ngắn chuyên viết về người nông dân.

• “Vợ nhặt” viết sau Cách mạng tháng Tám, in trong tập “Con chó xấu xí”.

• Bối cảnh: nạn đói năm 1945, hàng triệu người chết đói – một sự kiện có thật trong lịch sử.

2. Giá trị hiện thực

• Phản ánh thảm cảnh đói khát, xã hội rối ren, con người bị đẩy đến bờ vực sinh tồn.

→ Cảnh người chết đói, mùi gây, tiếng quạ, xác người trên đường…

• Phản ánh cuộc sống khốn cùng của người dân nghèo – cụ thể là gia đình Tràng.

• Dù nghèo, họ vẫn hướng tới điều tốt đẹp – thể hiện tinh thần vượt lên hiện thực.

3. Giá trị nhân đạo

• Xót thương con người nghèo khổ: nhà văn cảm thông sâu sắc với thân phận bị đói rét, bị lãng quên.

• Trân trọng phẩm chất con người: dù đói khát, họ vẫn biết yêu thương, biết hy vọng, biết mơ về mái ấm.

• Niềm tin vào tương lai: cuối truyện, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng thấp thoáng → biểu tượng cho cách mạng, cho niềm tin sống.

4. Nghệ thuật thể hiện

• Tình huống truyện độc đáo: “nhặt vợ” giữa nạn đói.

• Miêu tả tâm lý tinh tế: nhân vật Tràng và người vợ nhặt có sự thay đổi về tâm trạng.

• Ngôn ngữ giản dị, gần gũi, đậm chất nông thôn.

VI. Kết luận

• “Vợ nhặt” là truyện ngắn tiêu biểu cho văn học hiện thực và nhân đạo sau 1945.

• Kim Lân không chỉ phản ánh đói khát mà còn khơi dậy niềm tin vào tình người và sự sống.

• Qua tác phẩm, người đọc hiểu rằng: trong khổ đau, tình thương vẫn là ánh sáng dẫn đường cho con người.


VII. Tài liệu tham khảo

1. Phân tích tác phẩm Vợ nhặt – Kim Lân (NXB Đại học Sư phạm).

2. Tuyển tập Kim Lân – NXB Hội Nhà văn, 2003

0
Một bác Việt Nam ngồi ăn sáng trong quán, thì bỗng có một chú Mỹ lân la vào ngồi cạnh, vừa bỏm bẻm nhai kẹo cao su vừa bắt chuyện.- Này, ở Việt Nam ăn bánh mì cả vỏ à?- Ừ – khó chịu vì bị làm phiền, bác Việt Nam trả lời cộc lốc.- Hừm, ở Mỹ bọn tao khác, chỉ ăn ruột thôi, cùi bánh thì nghiền ra làm bánh sừng bò, bán sang Việt Nam.Chu mỏ thổi một cái bong bóng, hắn hỏi tiếp với...
Đọc tiếp

Một bác Việt Nam ngồi ăn sáng trong quán, thì bỗng có một chú Mỹ lân la vào ngồi cạnh, vừa bỏm bẻm nhai kẹo cao su vừa bắt chuyện.
- Này, ở Việt Nam ăn bánh mì cả vỏ à?
- Ừ – khó chịu vì bị làm phiền, bác Việt Nam trả lời cộc lốc.
- Hừm, ở Mỹ bọn tao khác, chỉ ăn ruột thôi, cùi bánh thì nghiền ra làm bánh sừng bò, bán sang Việt Nam.
Chu mỏ thổi một cái bong bóng, hắn hỏi tiếp với vẻ mặt rất tự mãn:
- Thế chúng mày cũng ăn mứt với bánh mì chứ?
- Tất nhiên – Bác Việt Nam trả lời, với vẻ ko quan tâm.
- Ở Mỹ khác – vừa nổ đốp một bóng kẹo cao su, chú Mỹ vừa nói với vẻ chế diễu – bọn tao chỉ ăn hoa quả cho bữa sáng, còn vỏ, hạt thì tái chế biến thành mứt, rồi bán cho Việt Nam.
Ðến đây thì cú lắm rồi, bác Việt Nam bèn hỏi lại:
-Thế ở Mỹ chúng mày có “ấy ấy” không?
- Tất nhiên.
- Thế chúng mày làm gì với những bao OK vừa dùng xong?
- Vứt đi thôi, thế cũng hỏi.
Mỉm cười với ánh mắt tinh quái, bác Việt Nam trả lời:
- Chúng tao thì khác, ở Việt Nam người ta gom tất cả OK dùng rồi để tái chế, nấu chảy ra thành chewing gum, rồi đem xuất khẩu sang… bán cho chúng mày đấy…

Hay ko mí bn, oaoa

nếu hay trả lời tí nghen, like cho hén

Bài tập Văn Sử Địa

 

15
29 tháng 5 2016

ừ cũng được nhưng đoạn cuối thì hơi phản cảm haha

29 tháng 5 2016

nhớ like nha!ok

18 tháng 4 2019

Năm 2001, Thanh Thảo được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Đáp án cần chọn là: B