Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tham khảo:
Viết sơ đồ tạo giới tính ở đời con của ruồi giấm.
P.6A+XX × 6A+XY
G.3A+X 3A+X,3A+Y
F1:6A+XX( con cái):6A+XY(con đực)
Ruồi giấm 2n=8
Cặp NST giới tính: Đực - XY, cái XX
=> C
Ở ruồi giấm 2n=8 .Một tế bào ruồi giấm đang ở kì sau của nguyên phân .Số NST trong tế bào đó bằng bao nhiêu trong các trường hợp sau:
==> Chọn c) 16
Ở ruồi giấm 2n=8 .Một tế bào ruồi giấm đang ở kì sau của nguyên phân .Số NST trong tế bào đó bằng bao nhiêu trong các trường hợp sau:
a)4
b)8
c)16
c)32
...............................................................................................................................................................................................................................................................aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa
Gọi số NSt kép là x, số NST đơn là y
Theo đề bài ta có : x+ y =768
Số NST kép loại Y ở các tế bào ruồi giấm đực đang tập trung ở mặt phẳng xích đạo của thoi vô sắc bằng 1/4 số NST đơn các loại khi đang phân ly về hai cực ở tế bào ở ruồi giấm cái. Nên ta có PT: \(\dfrac{x}{8}=\dfrac{1}{16y}\)
=> Hệ PT: \(\left\{{}\begin{matrix}x+y=768\\\dfrac{x}{8}=\dfrac{1}{16y}\end{matrix}\right.\)
Giải hệ trên ta được \(\left\{{}\begin{matrix}x=256\\y=512\end{matrix}\right.\)
=> Số tế bào sin đục đực là: 256 : 8 = 32 (tế bào)
=> Số tế bào sinh dục cái là: \(\dfrac{512}{8.2}=32\) (tế bào)
Gọi k là số lần ngphan của các tế bào
Số tế bào đực : 2k=256 => k=8(lần)
Số tế bào cái : 2k=512 => k=9(lần)
1) a) Gọi số tế bào ruồi đực là a và số tế bào ruồi cái là b
Ta có a = 1/16.b.2n = b/2
Tổng số NST kép và đơn là 768
=> a.2n + b.2n = 768
=> a + b = 96
Kết hợp với a = b/2 ta có hệ
2a - b = 0
a + b =96
=> a = 32 và b = 64
b) Đối với các tế bào sinh dục đực ta có 2^k = 32 => k = 5
Đối với các tế bào sinh dục cái ta có 2^k' = 64 => k' = 6
1) a-gọi x, y lần lượt là số NST kép và đơn ở 2 cá thể đực và cái nói trên, số tb sinh dục đực là x/8 = số NST Y.
ta có: x+y = 768 và x/8 = 1/16y => x = 256; y = 512
=> số tb tại thời điểm quan sát: số tb sinh dục đực = 256/8 = 32; số tb sinh dục cái = 512/2n.2 = 32.
b/ ta có: số lần np của tb sd đực = 1.2k = 28 = 256 => k = 8 lần
số lần np của tb sd đực cái = 1.2n = 29 = 512 => n = 9 lần
a) Alen A quy định thân xám trội hoàn toàn so với alen a quy định thân đen. Nếu cho ruồi giấm cái thân xám giao phối ngẦu nhiên với ruồi giấm đực thân đen mà thu được F1 có 75 % thân xám : 25 % thân đen, chứng tỏ trong quần ruồi cái ban đầu có hai kiểu gen: 1/2 ruồi cái AA (thuần chủng thân xám) và 1/2 ruồi cái Aa (dị hợp thân xám). Khi giao phối với ruồi giấm đực aa thân đen, ta có hai phép lai: - AA × aa → đời con 100 % Aa (thân xám). - Aa × aa → đời con 50 % Aa (thân xám) : 50 % aa (thân đen). Vì ruồi cái P gồm hai kiểu gen theo tỷ lệ 1:1, gộp kết quả hai phép lai ta thu được F1 có 75 % ruồi thân xám (Aa) và 25 % ruồi thân đen (aa). b) Trong F1, tỷ lệ kiểu gen là 3/4 Aa : 1/4 aa. Cho các cá thể F1 giao phối ngẦu nhiên với nhau, tần số alen A = 0{,}375 và alen a = 0{,}625. Theo quy luật giao phối tự do (Hardy–Weinberg), đời F2 có tỷ lệ kiểu gen: 0{,}140625 AA : 0{,}46875 Aa : 0{,}390625 aa. Như vậy số ruồi giấm thân đen (kiểu gen aa) ở F2 chiếm 0{,}390625 (tương đương 25/64 → khoảng 39{,}1 %), còn ruồi thân xám chiếm 39/64 (khoảng 60{,}9 %). Em có thể lập sơ đồ lai chi tiết cho từng trường hợp giao phối giữa Aa và aa để kiểm chứng kết quả trên.
C, là ruồi giấm đực
C. Là ruồi giấm đực
- Có 6A là 6 NST thường và cặp NST giới tính XY