Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Đáp án A
Nguyên nhân chính làm cho đai nhiệt đới gió mùa và đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi ở miền Bắc có độ cao thấp hơn ở miền Nam là do miền Bắc có địa hình cao hơn với các dãy núi chạy theo hướng vòng cung hút gió và chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa đông bắc. Còn miền Nam gần như không chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nếu có chịu ảnh hưởng thì khi gió mùa Đông Bắc thổi đến miền Nam chỉ còn dạng thời tiết se se lạnh
Đáp án: A
Giải thích: Nguyên nhân chính làm cho đai nhiệt đới gió mùa và đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi ở miền Bắc có độ cao thấp hơn ở miền Nam là do miền Bắc có địa hình cao hơn với các dãy núi chạy theo hướng vòng cung hút gió và chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa đông bắc. Còn miền Nam gần như không chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nếu có chịu ảnh hưởng thì khi gió mùa Đông Bắc thổi đến miền Nam chỉ còn dạng thời tiết se se lạnh.
ở miền Bắc thấp hơn ở Miền Nam?
Ø Đặc điểm khí hậu
- Tính chất nhiệt đới ẩm:
- Tổng bức xạ lớn, cân bằng bức xạ luôn luôn dương
- Nhiệt độ trung bình năm cao: > 20oC, tổng giờ nắng: 1400 – 3000 giờ/n
- Lượng mưa trung bình năm lớn: 1500 – 2000mm
- Độ ẩm tương đối cao (trên 80%), cân bằng ẩm luôn dương
- Tính chất gió mùa
Ø Gió mùa mùa đông:
- Gió mùa ĐB:
- Nguồn gốc là khối KK lạnh xuất phát từ cao áp Xibia vào nước ta hoạt động từ tháng 11 – 4
- Hoạt động chủ yếu ở miền Bắc, gió mùa ĐB càng xuống phía nam càng yếu và kết thúc ở dãy
- Bạch Mã. Tạo nên mùa đông lạnh ở miền Bắc, đầu mùa lạnh khô, cuối mùa lạnh ẩm.
- Gió tín phong ở phía nam: Nguồn gốc từ trung tâm cao áp trên Thái bình dương thổi về xích đạo,
- hướng ĐB. Phạm vị hoạt động từ Đà nẵng trở vào Nam.
Ø Gió mùa mùa hè:
- Đầu mùa luồng gió từ Bắc ÂĐD thổi vào: hướng TN gặp dãy Trường Sơn và dãy núi biên
- giới Việt – Lào gây mưa lớn ở Tây Nguyên và Nam Bộ, tạo nên hiệu ứng phơn khô nóng ở
- phía đông. Gió phơn khô nóng tác động mạnh nhất ở Bắc Trung Bộ và Tây Bắc
- Giữa và cuối mùa hạ luồng gió từ cao áp chí tuyến Nam BC thổi lên theo hướng TN , gió
- này nóng, ẩm gây mưa nhiều trong cả nước.
Ø Đặc điểm đất đai
Đất ở nước ta rất đa dạng, thể hiện rõ tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm của thiên nhiên
Việt Nam.
Có 3 nhóm đất chính:
Nhóm đất feralit ở miền đồi núi thấp, chiếm 65%, nghèo mùn, nhiếu sét. feralit màu đỏ vàng chứa nhiều Fe, Al -> bị đá ong hoá -> ko có giá trị về KT.
feralit hình thành trên đá badan, đá vôi: màu đỏ thẫm, đỏ vàng -> có giá trị trồng cây CN.
Đất mùn núi cao, chiếm 11% diện tích đất, chứa nhiều mùn. Đất phù sa chiếm 24% diện tích đất tự nhiên.
Ø Độ cao của đai nhiệt đới gió mùa ở miền Bắc thấp hơn miền Nam là do:
- Sự khác biệt về vĩ độ và sự khác biệt địa hình, địa hình phía Nam thấp hơn và bằng phẳng hơn so với địa hình phía bắc, ảnh hưởng của các dãy núi hướng Tây Bắc – Đông Nam; ảnh hưởng của biển Đông.
- Phía Bắc chịu ảnh hưởng của lục địa Trung Hoa nên ít nhiều mang tính khí hậu lục địa.
- Ảnh hưởng của gió mùa lên 2 miền Nam Bắc khác nhau
a) Đặc điểm khí hậu và đất của đai nhiệt đới gió mùa
- Độ cao trung bình : Ở miền bắc dưới 600-700m, ở miền nam 900-1000m
- Khí hậu nhiệt đới biểu hiện rõ nét, mùa hạ nóng (nhiệt độ trung bình tháng trên 25 độ C). Độ ẩm thay đổi tùy nơi : từ khô đến ẩm ướt.
- Trong đai này có 2 nhóm đất :
+ Nhóm đất phù sa chiếm 24% diện tích đất cả nước, bao gòm : đất phù sa ngọt, đất phèn, đất mặn, đất cát...
+ Nhóm đất feralit vùng đồi núi thấp chiếm hơn 60% diện tích đất tự nhiên cả nước, phần lớn là đất feralit đỏ vàng, đất feralit nâu đỏ phát triển trên đá mẹ bazan và đá vôi
b) Giải thích độ cao của đai nhiệt đới gió mùa ở miền Bắc thấp hơn ở miền Nam : Do miền Bắc có nền nhiệt thấp hơn miền Nam
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gó mùa, chịu tác động kết hợp của Biển Đông và các hoàn lưu gó mùa châu Á. Tuy nhiên do lãnh thổ kéo dài hơn 15 vĩ độ từ Bắc xuống Nam và có nhiều dãy núi chắn gó, khí hậu nước ta phân hóa rõ rệt theo chiều Bắc – Nam. ở miền Bắc (từ dãy Bạch Mã trở ra), khí hậu mang tính chất cận nhiệt đới gó mùa có mùa đông lạnh. Nhiệt độ trung bình năm đạt 22‑24°C, biên độ nhiệt giữa các tháng lớn. Thời tiết có bốn mùa: xuân ẩm, hè nóng mưa nhiều, thu hanh khô và đông lạnh khô hoặc lạnh ẩm; bình đơng bị gó mùa Đông Bắc và bão tác đổ bộ. Miền Trung phía Nam dãy Bạch Mã là vùng chuyển tiếp với khí hậu cận xích đạo gó mùa. Nhiệt độ cao quanh năm, biên độ nhiệt nhỏ; mưa tập trung theo mùa gó Tây Nam (tháng 5–11) và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Khu vực này còn chịu ảnh hưởng của gó phơn Tây Nam, bão và áp thấp nhiệt đới. Miền Nam (Nam Bộ và Tây Nguyên) có khí hậu cận xích đạo gó mùa rõ rệt: nhiệt độ cao ổn định quanh năm (trung bình 26–28°C), hầu như không có mùa đông lạnh; chỉ có hai mùa: mùa mưa do gó mùa Tây Nam và mùa khô do tín phong đông bắc. Lượng mưa lớn nhưng phân bố không đều, số cơn bão ít. Những đặc điểm này thể hiện sự phân hoá khí hậu theo vĩ độ, địa hình và ảnh hưởng của Biển Đông.
1. Giới thiệu chung
Việt Nam có vị trí địa lí đặc biệt, lãnh thổ kéo dài, địa hình đa dạng, tiếp giáp biển Đông nên tự nhiên phong phú và có sự phân hoá rõ rệt.
2. Sự phân hoá
• Biểu hiện:
• Theo Bắc – Nam: miền Bắc có mùa đông lạnh, miền Nam nóng quanh năm.
• Theo Đông – Tây: từ núi cao xuống đồng bằng rồi ra biển, tự nhiên thay đổi rõ rệt.
• Theo độ cao: núi, trung du, đồng bằng có khí hậu và sinh vật khác nhau.
• Nguyên nhân: Do lãnh thổ trải dài, địa hình phức tạp và ảnh hưởng của biển, gió mùa.
• Ý nghĩa: Góp phần tạo nên sự đa dạng sinh học, thuận lợi phát triển kinh tế và làm giàu bản sắc văn hoá vùng miền.
Thiên nhiên Việt Nam có sự phân hóa rõ rệt do lãnh thổ trải dài nhiều vĩ độ, địa hình đa dạng và chịu tác động của gió mùa, biển. Sự phân hóa biểu hiện theo các hướng sau: – Bắc – Nam: Miền Bắc (từ dãy Bạch Mã trở ra) chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên có mùa đông lạnh, nhiệt độ thấp, cảnh quan cận nhiệt ẩm với rừng nhiệt đới gió mùa và rừng cận nhiệt ở núi cao; mùa hè nóng ẩm. Miền Nam quanh năm nóng, phân thành mùa mưa và mùa khô rõ rệt, thảm thực vật rừng rậm nhiệt đới và rừng ngập mặn phát triển. – Đông – Tây: Từ khu vực núi cao ở phía tây xuống trung du, đồng bằng rồi ven biển, điều kiện tự nhiên thay đổi rõ rệt. Sườn đón gó phía tây các dãy núi nhận nhiều mưa, khí hậu mát mẻ, rừng phát triển; xuống đồng bằng và ven biển khí hậu nóng hơn, đất cát mặn và đất phù sa chia thành nhiều loại cảnh quan khác nhau. – Theo độ cao: ở đồng bằng và trung du nhiệt độ cao, khí hậu nóng ẩm, thích hợp với cây trồng nhiệt đới; lên cao nhiệt độ giảm, xuất hiện đai ôn đới – á nhiệt với rừng thông, cây lá kim và nhiều loài quý hiếm. Nguyên nhân của sự phân hóa này là vị trí địa lý kéo dài, sự phân bậc địa hình và ảnh hưởng đan xen của các khối khí cùng với biển Đông và gió mùa.
Đáp án A
Lượng mưa ở Huế cao hơn ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh do ở Huế chịu tác động mạnh của các nhân tố bão, áp thấp nhiệt đới; gió mùa Đông Bắc, dải hội tụ nhiệt đới.