Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Lớp vỏ địa lí (lớp vỏ cảnh quan) là lớp vỏ của Trái Đất, ở đó các lớp vỏ bộ phận (khí quyển, thạch quyển, thủy quyển, thổ nhưỡng quyển và sinh quyển) xâm nhập và tác động lẫn nhau.
- Phân biệt:
+ Lớp vỏ địa lí (lớp vỏ cảnh quan) có chiều dày khoảng 30 đến 35 km (tính từ giới hạn dưới của lớp ô dôn đến đáy vực thẳm đại dương; ở lục địa xuống hết lớp vỏ phong hóa). Thành phần vật chất của lớp vỏ địa lí bao gồm khí quyển, thạch quyển, thủy quyển, thổ nhưỡng quyển và sinh quyển xâm nhập và tác động lẫn nhau.
+ Lớp vỏ Trái Đất là lớp vỏ cứng, mỏng, độ dày dao động từ 5 km (ở đại dương) đến 70 km (ở lục địa). Lớp vỏ Trái Đất được cấu tạo bởi các tầng đá khác nhau (trầm tích, granit, badan).
Thuyết kiến tạo mảng cho rằng vỏ Trái Đất gồm một số mảng kiến tạo lớn nổi trên lớp Manti và luôn di chuyển tương đối với nhau do dòng đối lưu vật chất trong Manti.
– Hiện nay người ta xác định có bảy mảng chính: mảng Thái Bình Dương, mảng Bắc Mỹ, mảng Nam Mỹ, mảng Âu–Á, mảng Phi, mảng Ấn Độ–Ôxtrâylia và mảng Nam Cực. Ngoài ra còn nhiều mảng nhỏ như mảng Na‑zca, mảng Phi‑líp‑pin…
– Địa chấn và núi lửa diễn ra chủ yếu ở ranh giới mảng. Nơi các mảng tách xa nhau tạo sống núi giữa đại dương; nơi mảng đại dương lứn xuống dưới mảng lục địa sự hình thành vực sâu và vòng cung núi lửa; nơi hai mảng lục địa va vào nhau tạo dãy núi cao. Vành đai lửa Thái Bình Dương là khu vực tiếp xúc giữa mảng Thái Bình Dương với các mảng Âu–Á, Bắc Mỹ, Phi‑líp‑pin…; dãy An‑đét hình thành do mảng Na‑zca bị hút chìm dưới mảng Nam Mỹ; dãy Hi‑ma‑lay hình thành khi mảng Ấn Độ va vào mảng Âu–Á. Hiểu biết sự vận động của các mảng giúp giải thích sự phân bố núi non và dự báo nguy cơ động đất, núi lửa.
-Phân biệt giữa vỏ trái đất và thạch quyển
+Độ dày:vỏ trái đất có độ dày từ 5-70km còn ở thạch quyển có độ dày khoảng 100km
+Thành phần:vỏ trái đất gồm đá granit,đá trầm tích,và đá ba-dan còn ở thạch quyển bao gồm cả lớp vỏ trái đất và phần trên của lớp manti
-Giải thích sự hình thành của dãy núi Himalaya
+Do sự va chạm giữa mảng Ấn-Úc và mảng Á-Âu
+Khoảng 50 triệu năm trước mảng Ấn-Úc di chuyển về phía bắc,đâm vào mảng Á-Âu
+Khi hai mảng va chạm:
-Lớp vỏ trầm tích ở rìa hai mảng bị nén ép,uốn nếp,đứt gãy và nâng lên
-Qua gàng triệu năm ,quá trình này tạo thành dãy núi Himalaya-dãy núi cao và trẻ nhất thế giới
vỏ trái đất thạch quyển
độ dày 5-70km 100km
thành phần gồm;trầm tích gồm;vỏ trái đất
badan man-ti-trên
granit
tìm hiểu và giải thích sự hình thành dãy núi Himalaya.
dãy núi himalaya được hình do sự va chạm giữa hai mảng kiến tạo lục địa lớn là mảng ấn độ và mảng á âu
1. Phân biệt lớp vỏ Trái Đất với lớp vỏ địa lí.
* Khái niệm: Lớp vỏ địa lí (lớp vỏ cảnh quan) là lớp vỏ của Trái Đất, ở đó các lớp vỏ bộ phận (khí quyển, thạch quyển, thủy quyển, thổ nhưỡng quyển và sinh quyển) xâm nhập và tác động lẫn nhau.
Phân biệt lớp vỏ Trái Đất với lớp vỏ địa lí:
Tiêu chí
Lớp vỏ Trái Đất
Lớp vỏ địa lí
Chiều dày
Độ dày dao động từ 5 km (ở đại dương) đến 70 km (ở lục địa).
Khoảng 30 đến 35 km (tính từ giới hạn dưới của lớp ô dôn đến đáy vực thẳm đại dương; ở lục địa xuống hết lớp vỏ phong hóa)
Thành phần vật chất
Cấu tạo bởi các tầng đá khác nhau (trầm tích, granit, badan).
Gồm khí quyển, thạch quyển, thủy quyển, thổ nhưỡng quyển và sinh quyển xâm nhập và tác động lẫn nhau.
4. Trình bày và giải thích hoạt động của gió đất, gió biển và gió fơn.
* Gió biển:
Ban ngày ở lục địa, ven bờ đất hấp thụ nhiệt nhanh, nóng hơn mặt nước biển, nên hình thành áp thấp; nước biển hấp thụ nhiệt chậm nên mát hơn, hình thành cao áp.
Gió thổi từ cao áp (vùng biển) vào tới áp thấp (đất liền) gọi là gió biển.
* Gió đất:
Ban đêm, đất liền toả nhiệt nhanh mát hơn, hình thành cao áp ở vùng đất liền; còn vùng nước biển ven bờ toả nhiệt chậm, nên hình thành áp thấp.
Gió thổi từ áp cao (đất liền) tới áp thấp (vùng biển) nên gọi là gió đất.
* Gió fơn:
- Khi gió mát và ẩm thổi tới một dãy núi, bị núi chặn lại, không khí ẩm bị đẩy lên cao và giảm nhiệt độ theo tiêu chuẩn của khí ẩm, trung bình cứ lên cao 100m giảm 0,6°C. Vì nhiệt độ hạ, hơi nước ngưng tụ, mây hình thành và mưa rơi bên sườn đón gió.
- Khi không khí vượt sang sườn bên kia, hơi nước đã giảm nhiều, nhiệt độ tăng lên theo tiêu chuẩn không khí khô khi xuống núi, trung bình là 100m tăng 1°C nên gió trở nên khô và rất nóng, gọi là hiệu ứng phơn khô nóng.
Địa học chia tác động tới địa hình thành hai nhóm lực: nội lực và ngoại lực. Nội lực là những lực sinh ra từ bên trong Trái đất do năng lượng nội nhiệt. Chúng gây ra sự cần bằng địa cầu, vận động địa kiển, nâng cao hoặc hạ xuống các mảng địa nâu và hình thành nên các dãy núi, động đất, phun trào magma. Ngoại lực là các tác nhân xuất phát từ bên ngoài bề mặt Trái đất, chủ yếu do năng lượng Mặt Trời, gó, sóng, nước sông suối, băng tôi, sinh vật. Chúng gây ra phong hoá, bắo mòn, vận chuyển và bồi tấ, làm san bằng địa hình. Hai nhóm lực này tương tác lẩn nhau khiến địa hình luôn thay đổi.
Giải thích :Mục II, SGK/75 địa lí 10 cơ bản.
Đáp án: B
- Các quy luật địa lí: quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lí, quy luật địa đới và quy luật phi địa đới.
- Các quy luật trên có mối quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau tạo nên sự đa dạng của cảnh quan tự nhiên trên Trái Đất.
Đáp án C