Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: Văn bản trên đc viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2: Tiếng hiệp vần với nhau là: "rồi - ngồi"
Câu 3: Tác dụng của BPTT nhân hóa trong dòng thơ "Nghe trăng thở động tàu dừa" là:
- Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, làm câu văn thêm sinh động.
- Tăng sức mạnh của giọng đọc, gợi lên ko gian yên tĩnh và huyền ảo.
- Gợi lên tình cảm thầy trò.
Câu 4: Khi thầy đọc thơ, hình ảnh của quê hương hiện lên thật sinh động, bình dị, quen thuộc.
Câu 1: Tác hại của thói bắt chước đối với con người trong cuộc sống
Dàn ý:
- Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về thói quen bắt chước. Bắt chước có thể là một phần tự nhiên của quá trình học hỏi, nhưng bắt chước mù quáng lại là một thói quen tiêu cực.
- Nêu vấn đề chính: Thói bắt chước mù quáng mang lại nhiều tác hại nghiêm trọng cho con người.
- Thân bài:
- Làm mất đi bản sắc và cá tính: Khi bắt chước, con người không còn là chính mình. Họ sống theo khuôn mẫu của người khác, dần dần đánh mất những nét riêng, sở thích và giá trị cá nhân. Đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin và hèn nhát trong việc thể hiện bản thân.
- Gây ra sự thất bại: Điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người là khác nhau. Bắt chước cách làm của người khác mà không có sự cân nhắc, sáng tạo sẽ rất dễ dẫn đến thất bại. Chẳng hạn, một người khởi nghiệp bắt chước mô hình kinh doanh của một công ty lớn mà không xem xét thị trường, vốn và năng lực của mình sẽ khó thành công.
- Gây cản trở sự phát triển: Khi chỉ biết bắt chước, con người sẽ không còn động lực để tư duy, sáng tạo và tìm tòi cái mới. Xã hội sẽ dậm chân tại chỗ nếu ai cũng đi theo lối mòn cũ.
- Mất đi sự tôn trọng của người khác: Một người chỉ biết bắt chước thường không được đánh giá cao, vì họ không có ý kiến độc lập và không thể tự đưa ra quyết định.
- Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề: Thói bắt chước mù quáng là một rào cản lớn đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội.
- Nêu giải pháp: Mỗi người cần học cách sống là chính mình, biết lắng nghe, học hỏi nhưng phải có chọn lọc và sáng tạo để tạo nên dấu ấn riêng.
Câu 2: Kể lại một trải nghiệm có ý nghĩa sâu sắc đối với em
Dàn ý:
- Mở bài:
- Giới thiệu về trải nghiệm đó. Nêu cảm nhận ban đầu của bạn về nó. Ví dụ: "Trong cuộc đời mỗi người, có những khoảnh khắc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc..." hoặc "Đó là một buổi chiều mưa, nhưng lại là lúc tôi nhận ra giá trị của lòng nhân ái..."
- Thân bài:
- Bối cảnh: Kể lại bối cảnh xảy ra câu chuyện: thời gian, địa điểm, những nhân vật liên quan.
- Diễn biến:
- Tường thuật lại toàn bộ câu chuyện theo trình tự thời gian.
- Tập trung vào những chi tiết quan trọng, gây ấn tượng mạnh. Dùng các từ ngữ miêu tả sinh động để người đọc cảm nhận được cảm xúc của bạn khi đó (vui, buồn, thất vọng, bất ngờ...).
- Điểm mấu chốt: Sự kiện nào đã làm thay đổi suy nghĩ, cảm xúc của bạn?
- Ý nghĩa: Phân tích sâu sắc ý nghĩa của trải nghiệm đó.
- Bạn đã học được điều gì từ câu chuyện? (ví dụ: sự kiên trì, lòng biết ơn, tình yêu thương, sự tha thứ...)
- Trải nghiệm đó đã thay đổi bạn như thế nào? (ví dụ: giúp bạn tự tin hơn, biết trân trọng cuộc sống hơn, thay đổi cách nhìn về một vấn đề nào đó...).
- Kết bài:
- Tổng kết lại giá trị của trải nghiệm.
- Khẳng định lại rằng trải nghiệm đó sẽ mãi là một bài học quý giá, một kỷ niệm không thể quên.
Bài làm
Thói quen bắt chước một cách mù quáng người khác là một hiện tượng tiêu cực, nó khiến con người dễ dàng đánh mất đi bản sắc cá nhân quý giá. Khi chúng ta chỉ sao chép máy móc suy nghĩ, hành động,hay lỗi sống của người khác mà không quá sự lựa chọn lọc hay phản tử , chúng ta tự biến mình thành bản sao nhạt nhoà , không có linh hồn riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất là việc thui chột khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, vì ta đã độc lập và sáng tạo, vì ta đã quen sống theo lối mòn có sẵn mà không cần nỗ lực khám phá hay kiến tạo điều mới mẻ . Hơn nữa, việc chạy theo đám đông và các xu hướng nhất thời dễ khiến chúng ta mất phương hướng, không hiểu rõ bản thân thực sự muốn gì, dẫn đến cảm giác trống rỗng và không hạnh phúc thật sự . Điều này cũng làm giảm ý chí vươn lên, vì ta chỉ quen dựa dẫm vào những hình mẫu có sẵn thấy vì tự xây dựng con đường thành công của mình. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận thức giá trị riêng để sống chân thật và bản lĩnh hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi người là một thể độc đáo, đừng tự biến mình thành phiên bản lỗi của người khác chỉ vì sợ khác biệt hay sợ bị bỏ lại phía sau
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại.
Câu 2.
Theo văn bản, những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa, mưa dông (điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt).
Câu 3.
Hai từ láy trong văn bản:
- xù xì: chỉ bề mặt thô ráp, không nhẵn.
- chật chội: chật, gây cảm giác bức bối, khó chịu.
Câu 4.
Nhân vật “tôi” (hạt dẻ gai) mang đặc điểm của nhân vật trong truyện đồng thoại:
- Vừa mang đặc điểm của loài vật/thực vật (có vỏ xù xì, gai góc).
- Vừa mang đặc điểm của con người: biết suy nghĩ, cảm xúc, lo sợ, được mẹ an ủi (nhân hoá).
Câu 5.
Bài học rút ra:
Muốn trưởng thành, mỗi người cần dũng cảm rời vòng tay che chở, tin vào bản thân và sẵn sàng đối diện với thử thách trong cuộc sống.
Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại
Câu 2: Theo văn bản ,những hạt dẻ gai lớn lên trong mùa hè nắng lửa ,mưa dông
Câu 3: Hai từ láy là :"xù xì", "chật chội"
-Nghĩa của từ "chật chội": chật, gây nên cảm giác bức bối khó chịu
- Nghĩa của từ "xù xì": bù xù, gây nên cảm giác khó chịu
Câu 4: Nhân vật tôi ( dẻ gai) là mội loài thực vật , vừa mang đặc điểm của lòa vật vừa mang đặc điểm của con người (được nhân các hóa)
Câu 5: Qua bài đọc em rút ra được bài học là : Muốn trưởng thành, ta phải dũng cảm bước ra khỏi vòng tay che chở, tin vào bản thân, sẵn sàng đối diện với thử thách
Câu 1 ngôi kể thứ ba. câu 2 vì họ nhớ đến ơn Đức của bà đã tạo Lập vườn tược nơi đất cũ ,bày dân làng cách chữa bệnh làm ruộng và nuôi dạy con cái. Câu 3 từ láy là nhẹ nhàng giải thích nghĩa là có tính chất nhẹ không gây cảm giác gì ,từ láy là lam lũ có nghĩa vất vả khổ cực trong cảnh thiếu thốn. Câu 5 con người cần biết hiếu thảo kính trọng biết ơn cha mẹ kể cả cha mẹ nuôi phải luôn gắn bó với cội nguồn nhớ về quê hương không quên nơi đã sinh ra nuôi dưỡng mình biết yêu thương giúp đỡ nhân dân đêm kiến thức kinh nghiệm để làm lợi cho cộng đồng.
Những năm tháng Tiểu học luôn là quãng thời gian hồn nhiên và đáng nhớ nhất trong cuộc đời em. Trong rất nhiều kỷ niệm đẹp ấy, em nhớ nhất là lần đầu tiên em được tham gia Hội thi “Kể chuyện Bác Hồ” của trường vào năm lớp 4.
Hôm đó, khi cô giáo chủ nhiệm thông báo em được chọn đại diện lớp đi thi, em vừa vui mừng vừa lo lắng. Em sợ mình nói sai hoặc quên bài trước đông người. Thế nhưng cô giáo luôn động viên, giúp em luyện tập mỗi ngày sau giờ học. Cô còn chỉ cho em cách đứng thẳng, mỉm cười, và nói thật tự nhiên để tạo thiện cảm với khán giả. Em chọn kể câu chuyện “Chiếc áo ấm tặng Bác” – một câu chuyện cảm động nói về tấm lòng nhân hậu của Bác Hồ đối với các cháu thiếu nhi.
Đến ngày thi, sân trường rợp cờ hoa, các lớp ngồi ngay ngắn cổ vũ. Khi bước lên sân khấu, em run lắm, tim đập nhanh đến mức tưởng như ai cũng nghe thấy. Nhưng khi nhìn thấy cô giáo đang mỉm cười động viên dưới hàng ghế khán giả, em bỗng cảm thấy bình tĩnh hơn. Em bắt đầu kể, giọng nói dần rõ ràng, truyền cảm, và em cố gắng thể hiện cảm xúc bằng cả trái tim. Khi em vừa dứt lời, mọi người vỗ tay vang dội, khiến em xúc động đến suýt rơi nước mắt.
Kết quả, em đạt giải Nhì toàn trường. Cô giáo ôm em và khen em rất dũng cảm. Ba mẹ cũng tự hào và thưởng cho em một quyển truyện mới. Từ lần đó, em hiểu rằng: nếu mình tin tưởng vào bản thân và chăm chỉ luyện tập, nhất định sẽ thành công.
Kỷ niệm ấy mãi là một trải nghiệm đáng nhớ trong tuổi thơ học trò của em — nơi em học được sự tự tin, lòng kiên trì và niềm vui khi vượt qua chính mình.
Trong những năm tháng học Tiểu học, em có rất nhiều kỉ niệm đẹp, nhưng trải nghiệm khiến em nhớ mãi là lần đầu tiên em tham gia hội thi văn nghệ của trường. Đó là một kỉ niệm vừa hồi hộp, vừa vui sướng mà em không bao giờ quên.
Hôm đó, lớp em được chọn biểu diễn múa trong buổi chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam. Ngay từ những buổi tập đầu tiên, em đã cảm thấy rất lo lắng vì sợ mình làm sai động tác, ảnh hưởng đến cả đội. Tan học, em cùng các bạn ở lại tập luyện cùng cô giáo. Có hôm chân đau, người mệt nhưng em vẫn cố gắng vì không muốn bỏ cuộc. Cô giáo luôn nhẹ nhàng động viên chúng em, nhờ vậy em cảm thấy tự tin hơn rất nhiều.
Đến ngày biểu diễn, khi đứng sau cánh gà nhìn xuống sân trường đông kín người, tim em đập rất nhanh. Em hồi hộp đến mức hai tay run lên. Nhưng khi tiếng nhạc vang lên, em nhớ lại lời cô dặn và bắt đầu thực hiện từng động tác. Mọi lo lắng dần tan biến, em cảm thấy mình đang hòa vào bài múa. Khi tiết mục kết thúc, em nghe thấy những tràng pháo tay vang lên khắp sân trường và lòng em tràn ngập niềm vui.
Từ trải nghiệm ấy, em rút ra bài học cho bản thân rằng: chỉ cần cố gắng, kiên trì và tin vào chính mình thì em sẽ vượt qua được nỗi sợ hãi. Kỉ niệm này đã giúp em trưởng thành hơn và trở thành một trải nghiệm đáng nhớ trong những năm tháng học Tiểu học của em.
Trong kho tàng truyền thuyết phong phú của Việt Nam, câu chuyện về Sự Tích Hồ Gươm (hay Hồ Hoàn Kiếm luôn chiếm một vị trí đặc biệt, không chỉ vì ý nghĩa lịch sử mà còn vì vẻ đẹp lung linh, huyền ảo của nó. Truyền thuyết này gắn liền với vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở thế kỷ XV
Truyền thuyết kể rằng, khi đất nước đang chìm trong ách đô hộ của giặc Minh, lòng người căm phẫn và khao khát độc lập. Thấu hiểu ý trời và lòng dân, Đức Long Quân đã quyết định trao cho Lê Lợi một bảo vật thiêng liêng để giúp ông hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc: đó là Thanh Gươm Thần. Thanh gươm không được trao trực tiếp. Lưỡi gươm sáng chói được tìm thấy dưới đáy sông, còn chuôi gươm nạm ngọc lại được tìm thấy trên ngọn cây, tỏa ánh sáng rực rỡ, tất cả đều do người của Lê Lợi tình cờ nhặt được
khi lưỡi và chuôi hợp lại, thanh gươm trở nên hoàn chỉnh, mang sức mạnh phi thường. Nhờ có Thanh Gươm Thần, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, liên tiếp giành thắng lợi vang dội, cuối cùng đánh đuổi được giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước. Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên nhà Hậu Lê, mở ra một thời kỳ thái bình thịnh trị
Saukhi đất nước yên bình, tong một lần nhà vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) dạo chơi trên chiếc thuyền rồng ở hồ Tả Vọng (tên cũ của Hồ Gươm), một Con Rùa Vàng lớn nổi lên mặt nước. Rùa Thần tiến đến gần thuyền vua, cất tiếng nói: “Xin bệ hạ hoàn trả lại gươm cho Long Quân!” Nhà vua hiểu ra rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành. Vua bèn rút gươm trao cho Rùa Vàng.Rùa Thần đón lấy gươm, ngậm vào miệng rồi lặn xuống đáy hồ. Kể từ đó, hồTả Vọng được đổi tên thành Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Trả Gươm) minh chứng cho lòng nhân ái, hòa bình của dân tộc và sự đồng lòng giữa Trời – Đất – Người trong công cuộc cứu nước
Truyền thuyết này không chỉ là một câu chuyện thần kỳ mà còn thể hiện tinh thần thượng võ và yêu chuộng hòa bình của người Việt, nhắc nhở các thế hệ về công lao của cha ông và ý nghĩa thiêng liêng của độc lập, tự do
Trong số các truyền thuyết cổ xưa của dân tộc Việt Nam, câu chuyện về Sơn Tinh và Thủy Tinh không chỉ là một huyền thoại giải thích hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người Việt trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai.
Truyền thuyết kể rằng, vào đời vua Hùng thứ 18, có một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Vua Hùng muốn kén cho con gái một người chồng xứng đáng nên đã mở hội thi tuyển rể. Từ khắp nơi, nhiều chàng trai tài giỏi tìm đến, nhưng nổi bật nhất là hai vị thần: Sơn Tinh và Thủy Tinh.
Sơn Tinh là một chàng trai khôi ngô, có tài lạ: chỉ cần vẫy tay, núi đồi trùng điệp sẽ mọc lên, cây cối xanh tươi. Thủy Tinh cũng không kém cạnh, chàng có khả năng hô mưa gọi gió, làm cho biển cả và sông ngòi cuộn trào. Cả hai đều tài giỏi ngang sức ngang tài, khiến Vua Hùng khó lòng lựa chọn.
Cuối cùng, Vua Hùng đặt ra điều kiện thách cưới: "Sáng sớm hôm sau, ai mang đến sính lễ gồm một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao đến trước, người đó sẽ được cưới Mị Nương."
Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló rạng, Sơn Tinh đã mang đầy đủ sính lễ đến trước. Vua Hùng giữ lời hứa, gả Mị Nương cho Sơn Tinh. Thần Núi rước vợ về núi Tản Viên.
Khi Thủy Tinh đến nơi, thấy Mị Nương đã theo chồng, chàng vô cùng giận dữ. Cảm thấy bị sỉ nhục, Thủy Tinh đã nổi cơn lôi đình, dốc toàn lực để báo thù. Thần Nước hô mưa, gọi gió, làm nước biển dâng cao, dìm chìm đồng bằng, muốn nhấn chìm núi Tản Viên để cướp lại Mị Nương.
Trước sức mạnh kinh hoàng của nước, Sơn Tinh không hề nao núng. Thần Núi dùng phép lạ, bốc từng quả đồi, từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên bao nhiêu, Sơn Tinh đắp đất, nâng núi cao lên bấy nhiêu. Cuộc chiến kéo dài ròng rã suốt mấy tháng trời. Cuối cùng, sức Thủy Tinh kiệt dần, đành phải rút lui.
Tuy nhiên, mối thù này không bao giờ dứt. Hàng năm, cứ đến mùa mưa bão, Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh để đòi Mị Nương, gây ra cảnh lũ lụt khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Và năm nào cũng vậy, Sơn Tinh vẫn chiến thắng, giữ vững bờ cõi và bảo vệ cuộc sống của người dân.

Phương thức biểu đạt chính là tự sự
Câu 1Thuyết minh (kết hợp với Nghị luận/Tự sự tùy vào nội dung cụ thể, nhưng với văn bản tin tức về di sản thường là Thuyết minh).
Câu 2:
Câu 3 : -
Câu 4 :
Câu 5:
Câu 6: Việc giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với mỗi quốc gia. Trước hết, di sản chính là "bản sắc" riêng biệt, giúp khẳng định vị thế và giá trị của dân tộc Việt Nam trên bản đồ văn hóa thế giới. Khi chúng ta bảo tồn được những giá trị truyền thống như nghệ thuật Chèo hay Mo Mường, chúng ta đang gìn giữ sợi dây kết nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Đồng thời, việc phát huy di sản còn mở ra cơ hội phát triển du lịch bền vững, góp phần tăng trưởng kinh tế cho đất nước. Mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần có ý thức trách nhiệm trong việc học hỏi và lan tỏa vẻ đẹp của di sản để những báu vật này không bao giờ bị mai một. Bảo vệ di sản chính là bảo vệ tâm hồn của dân tộc.
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính là Nghị luận (hoặc Thuyết minh kết hợp nghị luận, tùy thuộc vào nội dung cụ thể của văn bản đi kèm). Thông thường, với các văn bản về di sản, phương thức chính là Thuyết minh.
Câu 2 Vào tối ngày 04/12/2024, di sản Mo Mường đã chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.
Câu 3 Vị trí: Thường nằm ở ngay dưới nhan đề (tiêu đề) và trước nội dung chi tiết của văn bản.Đặc điểm hình thức: Thường được in đậm, in nghiêng hoặc có cỡ chữ khác biệt so với thân bài để thu hút sự chú ý và tóm tắt nội dung chính.
Câu 4 Phương tiện: Hình ảnh (ví dụ: ảnh về buổi lễ vinh danh hoặc ảnh về di sản).Tác dụng: Giúp văn bản trở nên sinh động, trực quan, giúp người đọc dễ dàng hình dung về sự kiện và tăng sức thuyết phục cho thông tin.
Câu 5 Trạng ngữ (ví dụ): "Vào tối ngày 04/12/2024".Tác dụng: Xác định cụ thể thời gian diễn ra sự việc, giúp thông tin trở nên chính xác và khách quan hơn.
Câu 6 Việc giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với mỗi quốc gia. Trước hết, di sản chính là "sợi dây" kết nối quá khứ với hiện tại, giúp chúng ta hiểu rõ về cội nguồn và bản sắc văn hóa của cha ông. Khi bảo tồn tốt di sản, chúng ta không chỉ khẳng định vị thế của đất nước trên trường quốc tế mà còn tạo ra nguồn lực phát triển kinh tế thông qua du lịch bền vững. Hơn nữa, việc này còn khơi dậy lòng tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm cho thế hệ trẻ. Vì vậy, bảo vệ di sản không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân để linh hồn dân tộc mãi trường tồn theo thời gian.
Câu 1:
Phương thức biểu đàn : nghị luận
Câu 2:
Lễ hội vía bà chúa
Câu 3:
Phần sa-pô thường nằm ở đầu trang
Câu 4:
Phương thức phi ngôn ngữ trong văn bản là hình ảnh
Câu 5:
Phần trạng ngữ: ngày 4/12/2025
Câu 6:
Di sản văn hóa là linh hồn và bản sắc riêng luật của mỗi dân tộc. Và giữ gìn văn hóa,...
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là thuyết minh
Câu 2
Là Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam
Câu 3
Phần sapo nằm ở vị trí dưới nhan đề của văn bản được in đậm
Câu 4
Câu 5
Trạng ngữ Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam diễn ra từ ngày 22 đến ngày 27 tháng 04 Âm lịch trạng ngữ chỉ nơi chốn và thời gian
Câu 6
Di sản văn hóa không chỉ là những giá trị vật chất hay tinh thần tử quá khứ mà còn là linh hồn của mỗi dân tộc. Việc giữ gìn di sản giúp chúng ta duy trì sợi dây liên kết giữa các thế hệ từ đó thấu hiểu hơn về cội nguồn và công lao của cha ông. Đồng thời bảo tồn văn hóa cũng chính là khẳng định bản chất riêng biệt giúp quốc gia không bị hòa tan trong xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ hiện nay. Hơn thế nữa các di sản còn là nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch góp phần thúc đẩy kinh tế bền vững cho đất nước. Vì vậy mỗi cá nhân đặc biệt là thế hệ trẻ và nâng cao ý thức trách nhiệm nhiệm trong việc bảo vệ và quảng bá các giá trị quý báu này ra thế giới
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận (hoặc Thuyết minh, tùy thuộc vào nội dung chi tiết của văn bản gốc về sự kiện UNESCO). Thông thường với các bản tin thời sự như thế này, phương thức chính là Thuyết minh. Câu 2: Di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh Dựa vào dữ kiện ngày 04/12/2024, di sản được nhắc đến là: Mo Mường. Câu 3: Vị trí và đặc điểm hình thức của phần sa-pô (sapo) Vị trí: Nằm ngay dưới tiêu đề (nhan đề) và trước nội dung chi tiết của văn bản. Đặc điểm hình thức: Thường được in đậm, in nghiêng hoặc có cỡ chữ khác biệt để thu hút sự chú ý và tóm tắt nội dung chính của bài viết. Câu 4: Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ Phương tiện: Hình ảnh (minh họa cho sự kiện). Tác dụng: Giúp văn bản trở nên sinh động, trực quan, cung cấp thêm bằng chứng xác thực và giúp người đọc dễ dàng hình dung về sự kiện được nhắc đến.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh (văn bản cung cấp thông tin thời sự, tri thức về một sự kiện/di sản). Câu 2. Di sản văn hóa được UNESCO ghi danh: Vào tối ngày 04/12/2024 (giờ Việt Nam), Nghệ thuật Chèo đã chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Câu 3. Vị trí và đặc điểm của phần sa-pô (sapo): Vị trí: Nằm ở ngay đầu văn bản, thường là sau tiêu đề và trước phần nội dung chi tiết. Đặc điểm hình thức: Thường được in đậm, in nghiêng hoặc sử dụng cỡ chữ khác biệt để thu hút sự chú ý. Nó tóm tắt ngắn gọn nội dung quan trọng nhất của toàn bộ bài viết. Câu 4. Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ: Phương tiện: Hình ảnh (ví dụ: ảnh các nghệ nhân diễn Chèo hoặc bằng công nhận của UNESCO). Tác dụng: Giúp người đọc dễ dàng hình dung, tăng tính chân thực, sinh động và sức hấp dẫn cho thông tin được truyền tải. Câu 5. Trạng ngữ trong văn bản: Ví dụ: "Vào tối ngày 04/12/2024". Tác dụng: Xác định cụ thể thời gian diễn ra sự kiện, giúp thông tin trở nên chính xác, khách quan và đáng tin cậy. Câu 6. Viết đoạn văn (5 – 7 câu) về tầm quan trọng của việc giữ gìn di sản: Việc giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia. Di sản không chỉ là báu vật của quá khứ mà còn là sợi dây kết nối giữa các thế hệ, giúp chúng ta hiểu rõ về cội nguồn và bản sắc riêng của mình. Khi bảo tồn tốt di sản, chúng ta đang bảo vệ "hồn cốt" của dân tộc trước sự hòa tan của quá trình toàn cầu hóa. Đồng thời, các di sản văn hóa còn là nguồn lực quý báu để phát triển du lịch và kinh tế bền vững. Vì vậy, mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần có ý thức trách nhiệm trong việc học hỏi, quảng bá và chung tay bảo vệ những giá trị tinh thần vô giá này.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính là thuyết minh. Câu 2: Di sản được UNESCO ghi danh là Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam. Câu 3: Sa-pô nằm ở đầu văn bản, là đoạn mở đầu giới thiệu nội dung chính. Câu 4: Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ là hình ảnh lễ hội, tác dụng là làm bài viết sinh động. Câu 5: Trạng ngữ là “Tối 04/12/2024”, tác dụng là chỉ thời gian. Câu 6: Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam là một lễ hội truyền thống của Việt Nam. Lễ hội thể hiện tín ngưỡng và đời sống tinh thần của người dân. Đây cũng là dịp để mọi người cầu may mắn và bình an. Ngoài ra, lễ hội còn thu hút nhiều du khách đến tham quan. Vì vậy, chúng ta cần giữ gìn và phát huy giá trị của lễ hội này.
Câu 1 : phương thức biểu đạt là : thuyết minh , miêu tả , biểu cảm .
Câu 2 : Di sản văn hóa phi vật thể đó là lễ hội Vía chùa xứ núi Sam.
Câu 3 :
-Sa- pô nằm ở vị trí dưới nhan đề và được in đậm.
Câu 4 :
-Hình ảnh lễ hội Vía Bái chùa xứ núi -sam .
- Tác dụng : Thu hút người đọc , minh họa .
Câu 5 :
- Trạng ngữ : " Lễ họi nhằm tôn vinh nữ thần bảo trợ "
Tác dụng : Nêu mục đích của lễ hội
Câu 6 : Bài làm
Theo em , việc giữ gìn di sản bản sắc văn hóa rất quan trọng.Bản sắc văn hóa thể hiện cội nguồn , nét sóng văn hóa của người dân vùng đó . Việc giữ gìn bản sắc văn hóa như giữa gìn một phần cội nguồn từ xưa. Nhưđể nhớ ơn tổ tiên . Cũng như là một nét đẹp truyền thống của vùng đó. Vì vậy việc bảo tồn và lưu giữ bản sắc dân tộc rất quan trọng.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính là: thuyết minh. Câu 2: Di sản là: Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam. Câu 3: Sa-pô nằm ở đầu văn bản, ngay dưới tiêu đề. Nó ngắn gọn, in nổi bật, tóm tắt nội dung chính. Câu 4: Phương tiện phi ngôn ngữ: hình ảnh lễ hội. Tác dụng: giúp dễ hiểu, sinh động hơn, minh họa.
Câu 5 Trạng ngữ: “Tối 04/12/202(theo giờ Việt Nam)”. Tác dụng: cho biết thời gian xảy ra
Câu 6
Di sản văn hóa rất quan trọng. Nó là những gì ông cha để ại. Nếu không gihì sẽ bị mất. Di sản giúp mọi người biết đến Việt Nam. Nó cũng giúp phát triển du lịch. Mỗi người cần bảo vệ di sản. Em sẽ cố gắng giữ gìn di sản.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là Thuyết minh
Câu 2: Di sản được UNESCO ghi danh Vào tối ngày 04/12/2024 (giờ Việt Nam), di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam chính thứ
Câu 3: Vị trí và đặc điểm của phần sa-pô (sapo)Vị trí: Nằm ở ngay dưới tiêu đề (nhan đề) và trước nội dung chi tiết của văn bản.Đặc điểm hình thức: Thường được in đậm, in nghiêng hoặc sử dụng cỡ chữ khác biệt đọc.Câu 4:
Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ Phương tiện: Hình ảnh minh họa (về lễ hội hoặc bằng bằng công nhận của UNESCO) hoặc sơ đồ, bản đồ.Tác dụng: Giúp cụ thể hóa thông tin, làm cho bài viết trở nên sinh động, trực quan và giúp người đọc dễ dàng hình dung về quy mô, không khí của di sản được nhắc tới.Câu 5: Trạng ngữ và tác dụngChỉ ra trạng ngữ: "Vào tối ngày 04/12/2024" hoặc "Tại thủ đô Asunción, Paraguay".Tác dụng: Xác định rõ thời gian và địa điểm diễn ra sự kiện, giúp thông tin trong văn bản trở nên xác thực, khách quan và đáng tin cậy hơn.Câu 6: Viết đoạn văn (5 – 7 câu) về tầm quan trọng của việc giữ gìn di sảnViệc giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc khẳng định bản sắc dân tộc. Di sản không chỉ là báu vật của quá khứ mà còn là nguồn lực tinh thần quý báu giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về cội nguồn và truyền thống tốt đẹp của cha ông. Khi một di sản được bảo tồn, chúng ta đang bảo vệ những giá trị nhân văn và trí tuệ được đúc kết qua hàng nghìn năm lịch sử. Đồng thời, việc phát huy giá trị di sản còn góp phần thúc đẩy du lịch, phát triển kinh tế và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Vì vậy, mỗi cá nhân cần có ý thức trách nhiệm trong việc trân trọng và lan tỏa vẻ đẹp của các di sản văn hóa đến bạn bè năm châu.
dâdatu1câc
aihoi
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Thuyết minh
Câu 2:
Văn bản cho biết di sản được UNESCO công nhận là: Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam
Câu 3: Sapo nằm đầu văn bản, sau tiêu đề. Nó là đoạn quan trọng nhất để người đọc nắm được toàn bộ sự kiện
Câu 4:
Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ: Hình ảnh minh họa lễ hội Trong đoạn văn bản trên ảnh, có sử dụng hình ảnh “(Hình ảnh Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam)” với cảnh múa lân/sư rồng rực rỡ. Tác dụng của phương tiện này: 1. Minh họa trực quan: Giúp người đọc hình dung được không khí lễ hội, màu sắc, hoạt động diễn xướng nghệ thuật mà phần chữ chỉ mới mô tả bằng lời. 2. Tăng sức thuyết phục: Hình ảnh thật của lễ hội làm cho thông tin thuyết minh đáng tin cậy hơn, chứng minh lễ hội thực sự diễn ra sôi động, mang đậm bản sắc. 3. Tạo điểm nhấn, thu hút: Yếu tố thị giác phá vỡ sự đơn điệu của văn bản chữ, khiến người đọc chú ý và ghi nhớ thông tin lâu hơn. 4. Hỗ trợ biểu đạt nội dung: Bức ảnh thể hiện rõ sự giao thoa văn hóa Việt – Hoa qua hình thức múa lân, đúng với nội dung văn bản nói về “sự tổng hòa tín ngưỡng của các dân tộc Việt, Chăm, Khmer và Hoa”.
Câu 5:
1 trạng ngữ trong văn bản: “từ ngày 22 đến ngày 27-4 Âm lịch” Đây là trạng ngữ chỉ thời gian, xuất hiện trong câu: “Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam diễn ra từ ngày 22 đến ngày 27-4 Âm lịch, trong miếu Bà Chúa Xứ núi Sam…”* Tác dụng của trạng ngữ này: 1. Xác định thời gian cụ thể: Cho người đọc biết chính xác lễ hội diễn ra vào thời điểm nào trong năm, giúp thông tin thuyết minh rõ ràng, chính xác. 2. Bổ sung thông tin nền: Trạng ngữ cung cấp bối cảnh thời gian để người đọc hiểu lễ hội không diễn ra tùy tiện mà gắn với lịch Âm – gắn với tín ngưỡng, tập quán truyền thống. 3. Làm câu văn đầy đủ ý: Nếu bỏ trạng ngữ, câu chỉ còn “Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam diễn ra…” sẽ thiếu thông tin quan trọng. Nhờ trạng ngữ, nội dung thuyết minh trọn vẹn hơn.
Câu 6:
Việc giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt đối với mỗi quốc gia. Di sản văn hóa là kết tinh trí tuệ, tâm hồn và bản sắc của cha ông qua hàng nghìn năm lịch sử, giúp chúng ta hiểu mình là ai, từ đâu đến. Nếu không bảo tồn, những giá trị quý báu như lễ hội, làn điệu dân ca, nghề thủ công truyền thống sẽ dần mai một theo thời gian và bị lãng quên. Ngược lại, khi được gìn giữ và phát huy, di sản trở thành cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, bồi đắp niềm tự hào, tình yêu quê hương và ý thức cội nguồn cho thế hệ trẻ. Hơn nữa, di sản còn là “tài nguyên mềm” để phát triển du lịch, giao lưu quốc tế, khẳng định vị thế văn hóa Việt Nam với bạn bè thế giới. Vì vậy, mỗi người cần có trách nhiệm tìm hiểu, trân trọng và lan tỏa di sản bằng những hành động thiết thực từ hôm nay.
Câu 1
- PTBD là tự sự kết hợp miêu tả , biểu cả
Câu 2
- Lễ hội VÍA BÀ CHÚA XỨ NÚI NAM đc UNESCO công nhận
Câu 3
- Phần sa-pô nằm ở dưới nhan đề giúp tóm tắt bài viết , thu hút người đọc . LÀ phần in đậm
Câu 4
- PHƯƠNG TIỆN GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ LÀ HÌNH ảnh lễ hội
- Tác dụng giúp văn bảm sinh động hơn , nguòiư đọc dễ hình dung về lễ hội
Câu 5
- Trạng ngữ tối ngày 04/12/2024
- Tác dụng bổ sung thời gian
Câu 6
Bài Làm
Câu 1:
Phương thức biểu đạt: thuyết minh.
Câu 2:
Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam.
Câu 3:
Vị trí của phần sa - pô nằm ở ngay dưới nhận đề.Thường được in đậm, nêu thông tin quan trọng của toàn bộ bài viết để thu hút người đọc.
Câu 4:
Phương tiện giao tiếp phí ngôn ngữ trong văn bản: mốc thời gian, hình ảnh đi kèm. Tác dụng: giúp thông tin trở nên cụ thể giúp người đọc dễ nắm bắt các cột mốc, số liệu quan trọng của sự kiện.
Câu 5:
Trạng ngữ: vào tối ngày 04/12/2024. Tác dụng xác định bối cảnh thời gian và địa điểm diễn ra sự kiện ghi danh.
Câu 6:
Giữ gìn và phát hủy các di sản văn hóa dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia. Trước hết, đi sản văn hóa chính là thứ thuật lại lịch sử, lưu giữ những giá trị độc đáo mà cha ông ta đã dày công để tạo ra. Việc bảo tồn các giá trị văn hóa này không chỉ giúp thế hệ trẻ hiểu rõ và trân trọng nét đẹp truyền thống quê hương mà còn nuôi dữ lòng tự hào, tôn vinh dân tộc. Bên cạnh đó, đi sản còn là nguồn tài nguyên vô giá đẹp phát triển kính tế, thúc đẩy ngành du lịch bền vững và làm vẻ vang thêm cho đất nước. Nếu đánh mất đi bản sắc, quê hương ta chẳng còn nét riêng biệt vốn có nữa. Chính vì vậy, bảo vệ đi sản không chỉ là trách nhiệm của riêng ai, mà là việc mỗi người dân cần chung tay thực hiện để bảo vệ những báu vật vô giá của nước nhà