Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
a)
– Đông dương.
-Nước an nam dưới con mắt người pháp.
– Báo cáo chính trị tại đại hội lần thứ 2 của đảng.
– Bản án chế độ thực dân Pháp (1925)
– Đường kách mệnh (1927)
– Con rồng tre (1922, kịch, nhằm đả kích vua Khải Định).
– Nhật ký trong tù (1942, thơ)
– Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (bút danh Trần Dân Tiên)
– Vừa đi đường vừa kể chuyện (bút danh T. Lan .Trong cuốn sách này, Hồ Chí Minh hóa thân thành một cán bộ trong đoàn tùy tùng (T. Lan), đi công tác cùng với Hồ Chí Minh trong rừng núi Việt Bắc và được Hồ Chí Minh vui miệng kể chuyện cho nghe nhiều chuyện.
b)
– Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 và mất ngày 2 tháng 9 năm 1969, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung; quê làng Kim Liên (làng Sen), xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
– Thưở sinh thời , Người xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước, cha là cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Trước khi tham gia hoạt động cách mạng Người học chữ Hán, sau đó học tại trường Quốc học Huế, có thời gian dạy học tại trường Dục Thanh (Phan Thiết).
– Ngày 5 tháng 6 năm 1911, Người ra đi tìm đường cứu nước.
– Năm 1919 gửi bản yêu sách của nhân dân An Nam tới hội nghị Hòa Bình ở Véc- xây ký tên là Nguyễn Ái Quốc.
– Năm 1920 dự Đại hội Tua và là một trong những thành viên sáng lập ra Đảng cộng sản Pháp.
– Từ năm 1923 – 1941: chủ yếu hoạt động ở Trung Quốc, Liên Xô, Thái Lan.
– Năm 1941 trở về nước lãnh đạo phong trào cách mạng. Sau CMT8 1945 thành công, Người được bầu làm chủ tịch nước và dẫn dắt phong trào cách mạng đi đến những thắng lợi vẻ vang.
=> Cả cuộc đời của Người cống hiến hết cho sự nghiệp cách mạng dân tộc, trở thành nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam nói riêng, của quốc tế cộng sản nói chung. Bên cạnh sự nghiệp cách mạng, Người còn để lại một số di sản văn học quý giá, xứng đáng là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc.
– Tác phẩm tiêu biểu: Tuyên ngôn độc lập; Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu; Nhật ký trong tù…
Đỗ Hương Giang
hình như những bthơ kia mk chưa có hoc :(((
Các tp :
+ Cảnh khuya
+ Rằm tháng giêng
Hiểu biết về Bác Hồ :
+ Bác Hồ là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam
+ Thơ của thường phóng khoáng , viêt tùy theo tâm trạng của mình , lời thơ giản dị nhưng sâu lắng . Mỗi bài thơ có một ẩn ý nhất đinh .
Một số tác phẩm của Hồ Chí minh mà em đã được học là :
- Cảnh khuya
- Rằm tháng riêng
Hiểu biết của em về Bác
Đất nước Việt Nam tự hào về Bác Hồ bởi Bác chính là tinh hoa truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta,là lãnh tụ vĩ đại,anh hùng cứu nước,danh nhân văn hóa thế giới
Tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại vinh quang cho dân tộc và đất nước Việt Nam.
-Các thế hệ sau đang ra sức thực hịên tâm nguyện của Bác Hồ,xây dựng Tổ quốc giàu mạnh,văn minh,sánh vai với các cường quốc năm châu.
Một số tác phẩm có cách đặt nhan đề là một vùng đất:
- Việt Bắc (thơ) – Tố Hữu
- Đất Cà Mau (truyện ngắn) – Mai Văn Tạo
- Vàm Cỏ Đông (thơ) – Hoài Vũ
- Cô Tô (Kí) – Nguyễn Tuân
- Hang Én
Tham khảo :
Tác phẩm Thúy Kiều là 1 tác phẩm rất nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Du . Tác phẩm đó đã kể về cuộc đời , những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều . Một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng , phải hy sinh thân mình để cứu gia đình . Để cứu cha và em trai khỏi tù , cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên , không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người , và bị ép làm kĩ nữtrong lầu xanh . Tác phẩm đó giúp em suy nghĩ và thấu hiểu được những cảm xúc khó miêu tả của đối phương , giúp em có thêm niềm đam mê với việc đọc sách . Tác phẩm đó còn giúp ích cho em về việc giới thiệu thêm cho em nhiều từ vựng hơn . Em rất thích tác phẩm Thúy Kiều – tác phẩm mà mang đến cho người đọc những cảm xúc buồn đau , thương NV Thúy Kiều , là tác phẩm chạm đáy cảm xúc của người đọc .
Tham khảo :
Nổi tiếng nhất ở Ấn Độ thời cổ đại là hai bộ sử thi Ma-ha-bha-ra-ta và Ra-ma-ya-na. Đến thời Gúp-ta có Ka-li-đa-sa - ngôi sao của sân khấu và văn học Ấn Độ, tác giả của nhiều vở kịch nổi tiếng, trong đó có vở Sơ-kun-tơ-la luôn là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ trong suốt 15 thế kỉ qua.
Refer:
- Tên 1 tác phẩm mà em thích : Thúy Kiều .
- Đoạn văn :
Tác phẩm Thúy Kiều là 1 tác phẩm rất nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Du . Tác phẩm đó đã kể về cuộc đời , những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều . Một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng , phải hy sinh thân mình để cứu gia đình . Để cứu cha và em trai khỏi tù , cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên , không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người , và bị ép làm kĩ nữtrong lầu xanh . Tác phẩm đó giúp em suy nghĩ và thấu hiểu được những cảm xúc khó miêu tả của đối phương , giúp em có thêm niềm đam mê với việc đọc sách . Tác phẩm đó còn giúp ích cho em về việc giới thiệu thêm cho em nhiều từ vựng hơn . Em rất thích tác phẩm Thúy Kiều – tác phẩm mà mang đến cho người đọc những cảm xúc buồn đau , thương NV Thúy Kiều , là tác phẩm chạm đáy cảm xúc của người đọc .
Tham khảo :
Tác phẩm Thúy Kiều là 1 tác phẩm rất nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Du . Tác phẩm đó đã kể về cuộc đời , những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều . Một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng , phải hy sinh thân mình để cứu gia đình . Để cứu cha và em trai khỏi tù , cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên , không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người , và bị ép làm kĩ nữtrong lầu xanh . Tác phẩm đó giúp em suy nghĩ và thấu hiểu được những cảm xúc khó miêu tả của đối phương , giúp em có thêm niềm đam mê với việc đọc sách . Tác phẩm đó còn giúp ích cho em về việc giới thiệu thêm cho em nhiều từ vựng hơn . Em rất thích tác phẩm Thúy Kiều – tác phẩm mà mang đến cho người đọc những cảm xúc buồn đau , thương NV Thúy Kiều , là tác phẩm chạm đáy cảm xúc của người đọc .
Cảnh khuya, Cảnh rừng Việt Bắc, Không đề, Rằm tháng giêng, Cảnh khuya,...
+ cảnh rừng Việt Bắc
+ Tin thắng trận
+Ngắm trăng
+ Vọng nguyệt
+ Trung thu
+ Rằm thắng giêng
+ Dạ lãnh
+ Thu dạ
+ Đối nguyệt
+ Đi thuyền trên sông Đáy
+ Chơi trăng
+ Thư trung thu 1951
+ giã gạo
+ Cảnh khuya
Trong khi các hướng quân Tống đang dồn sự chú ý về phía cánh quân phía Tây của Tông Đản thì giữa tháng 11.1075 Lý Thường Kiệt bất ngờ xuất kích từ châu Vĩnh An, dùng binh thuyền vượt biển đổ bộ lên cảng Khâm. Ngày 20.11.1075 Quân Đại Việt nhanh chóng tràn vào thành Khâm Châu bắt quan giữ thành Khâm Châu là Trần Vĩnh Thái cùng toàn bộ thuộc hạ, thu nhiều của cải. Khi quân của Lý Thường Kiệt tấn công vào thành, Trần Vĩnh Thái vẫn chưa hay biết mà đang bày rượu uống. Thành Liêm Châu bây giờ mới phòng bị thì đã muộn, ba ngày sau Liêm Châu cũng bị hạ gọn gàng bởi lực lượng Đại Việt đông hơn gấp nhiều lần. Quan giữ thành là Lỗ Khánh Tôn cùng thuộc hạ bị giết chết. Quân Đại Việt bắt hơn 8000 tù binh tại thành Liêm Châu, ép làm khuân vác thu gom của cải đem xuống thuyền. Vậy là cánh quân của Lý Thường Kiệt chiếm trọn hai châu quan trọng của Tống là Khâm, Liêm mà chẳng thiệt hại gì lớn.
Cùng lúc với cuộc tấn công bằng đường biển, một cánh quân chính quy triều đình cũng xuất phát từ châu Vĩnh An theo đường bộ tấn chiếm các trại Như Hồng, Như Tích, Để Trạo của Tống và nhanh chóng chiếm lĩnh các trại này, các chúa trại phía Tống đều bị giết. Mọi thứ diễn ra đúng như toan tính của Thái úy Lý Thường Kiệt.
Trang phục của quân nhà Lý
Chiến cuộc Ung – Khâm – Liêm diễn ra vô cùng chớp nhoáng và nhanh chóng nhưng triều đình Tống vẫn chưa có hành động gì nhiều do thông tin chậm. Trong khi quân Tống đã bị đánh tan tác ở Khâm Châu, Liêm Châu và tuyến biên giới Ung Châu trong tháng 11.1075 thì đến đầu tháng 12.1075 triều đình nhà Tống mới nhận được tin quân Đại Việt hội quân gần biên giới. Cứ thế các tin tức thất thủ Khâm Châu, Liêm Châu … về đến triều đình Tống đều phải mất khoảng thời gian một tháng sau khi sự việc diễn ra. Nhờ có những sự chậm trễ này mà quân ta có thêm phần lợi thế.
Cùng với cánh quân của Tông Đản ở phía Tây Nam, cánh quân của Lý Thường Kiệt từ Khâm Châu vượt qua Thập Vạn Đại Sơn thẳng tiến thành Ung Châu từ phía Đông Nam. Trước khi tiến quân ông hạ lệnh giết hết 8.000 tù binh vì không đủ quân trông coi số tù binh này. Đồng thời ông cho một cánh quân từ Liêm Châu tiến về phía Đông Bắc đánh chiếm Bạch Châu, Dung Châu để làm nơi trú chân đề phòng viện binh của Tống, giết chết hàng loạt quan quân giữ thành. Tuy mục tiêu chính yếu tiếp theo của cuộc tiến công là hạ thành Ung Châu nhưng với việc tiến chiếm các thành Bạch Châu, Dung Châu thì quân Đại Việt càng làm cho sự phán đoán của quân Tống thêm mù mờ.
Người Tống vừa lo sợ quân Đại Việt chiếm Ung Châu, vừa ngại Lý Thường Kiệt sẽ tiến quân về phía đông bắc để chiếm các thành trì khác thuộc lộ Quảng Đông. Điều này càng làm cho lực lượng quân Tống thêm phân tán, vua Tống không dám điều quân từ các thành trì lộ Quảng Đông xuống để đánh với quân Đại Việt mà hạ lệnh cho các thành này cố thủ. Một lần nữa quân Tống trúng kế nghi binh của Lý Thường Kiệt. Do đó, quân Đại Việt rảnh tay dốc gần như toàn lực bao vây thành Ung Châu. Nhìn chiến cuộc Ung – Khâm – Liêm sẽ thấy rằng quân Đại Việt luôn áp đảo về quân số tại điểm nóng chiến trường, trong khi đó tổng lực lượng quân Tống ở hai lộ Quảng Tây, Quảng Đông so với quân Đại Việt cũng không đến mức quá chênh lệch nhưng luôn luôn bị phân tán dẫn đến hoàn toàn bị áp đảo về quân số.
Vậy là cả hai cánh quân Đại Việt đều ra quân đại thắng, thừa thế chẻ tre thẳng tiến thành Ung Châu. Thành này thời bấy giờ nổi tiếng là cứng và chắc, thành cao hào sâu, khí giới tối tân bậc nhất. Cuộc chiến khốc liệt thật sự đang chờ đón đoàn quân Đại Việt.
Sau khi hạ các thành Khâm, Liêm, Bạch, Dung và các điểm phòng thủ tuyến biên giới, hai cánh quân của Tông Đản và Lý Thường Kiệt đã tiến quân bao vây thành Ung Châu . Lo ngại dân chúng nước Tống vì tự tôn dân tộc mà ứng nghĩa ngăn cản quân đội Đại Việt, Lý Thường Kiệt cho soạn thảo các văn bản kể tội triều đình Tống, nêu rõ danh nghĩa xuất quân của Đại Việt gọi là Phạt Tống Lộ Bố Văn rồi cho người niêm yết dọc đường tiến quân. Có nhiều bản Bố Văn khác nhau. Một trong những bản Bố văn điển hình viết :
"Trời sinh ra dân chúng, Vua hiền ắt hoà mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép "thanh miêu", "trợ dịch", khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thoả cái mưu nuôi mình béo mập.
Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xót. Những việc từ trước, thôi nói làm gì!
Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thăng bình!
Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi !"
Một đoạn Bố văn khác thì viết: “Có những dân Giao Chỉ làm phản rồi trốn sang Trung Quốc. Các quan lại dung nạp và giấu đi. Ta đã khiến sứ sang tố giác các việc ấy, quan coi Quế Châu không chịu trả lời. Ta lại sai sứ vượt bể sang tố cáo với Quảng Châu, quan coi Quảng Châu cũng không chịu báo. Vì vậy, quân ta tới đuổi bắt dân trốn ấy...”
Lại có đoạn Bố văn tố cáo việc triều đình Tống chuẩn bị đánh Đại Việt: “… Quan coi Quế Châu đã kiểm điểm dân các động và đã tuyên bố rõ rằng muốn sang đánh Giao Chỉ…”
Những bản Bố văn truyền ra đem lại nhiều hiệu quả. Đây là đòn dân vận cao tay của Lý Thường Kiệt ngay trên lãnh thổ của nước đối địch. Việc tiến quân được thuận lợi, quân ta chỉ phải đương đầu với quân triều đình Tống mà không vấp phải sự kháng cự tự phát của dân chúng, nhất là các tuyến hậu cần được an toàn.
Hiệu quả của các bố văn được người Việt đời sau kể lại : “Dân Tống thấy lời tuyên cáo, đều vui mừng, đem trâu rượu khao quân ta. Từ đó, mỗi lúc dân Tống thấy hiệu cờ Thường Kiệt đàng xa, thì nói đó là quân của cha họ Lý người nước Nam, rồi cùng nhau bày hương án bái phục bên đường. Nhờ đó mà uy thanh quân ta lan khắp”.
Cảnh rừng Việt Bắc
Rằm tháng Giêng
Ngắm trăng
Không đề
Cảnh khuya
-vi hành
-hòn đá
-cảnh rừng Việt Bắc
-Tức cảnh Pác Bó
..........
-bản tuyên ngôn Độc lập
-thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường
+ cảnh rừng Việt Bắc
+ Tin thắng trận
+Ngắm trăng
+ Vọng nguyệt
+ Trung thu
+ Rằm thắng giêng
+ Dạ lãnh
+ Thu dạ
+ Đối nguyệt
+ Đi thuyền trên sông Đáy
+ Chơi trăng
+ Thư trung thu 1951
+ giã gạo
+ Cảnh khuya
Cảnh khuya, Cảnh rừng Việt Bắc, Không đề, Rằm tháng giêng, Cảnh khuya, tin thắng trận , ...