Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Vào giữa năm 1958, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới. Niềm vui dạt dào tin yêu trước cuộc sống mới đang hình thành, đang thay da đổi thịt đã trở thành nguồn cảm hứng lớn của thơ ca lúc bấy giờ. Nhiều nhà thơ đã đi tới các miền đất xa xôi của Tổ quốc để sống và để viết: miền núi, hải đảo, nhà máy, nông trường…Tôi, không phải ngoại lệ, cũng có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Vào cái buổi hoàng hôn rực rỡ và huy hoàng, trên cái không gian biển rộng lớn bao la, tôi được ra khơi cùng với những người dân chài lưới. Họ là những con người lao động ra khơi với sức mạnh đoàn kết và niềm vui lạc quan, phơi phới của những người đang làm chủ cuộc đời, ngày đêm chinh phục biển khơi. Họ ra khơi với câu hát ca ngợi sự giàu có của biển cả. Biển Đông giàu có với rất nhiều loài cá quý, nào là cá bạc, cá thu đang lấp lánh giữa biển trăng, là cá nhụ, cá chim, cá đé. Còn những chàng trai khỏe khoắn thì như những người nghệ sĩ khi lướt con thuyền băng băng trên mặt nước, như những người hiệp sĩ khi dàn đan một thế trận hào hùng. Họ bắt đầu nghêu ngao hát, gõ vào thuyền dụ cá vào. Một trong số họ nói với tôi răng "Mỗi ngư dân chúng tôi đều rất biết ơn biển cả, biển cho nguồn sống là cá, biển cho công việc và giúp chúng tôi được lớn lên thành người, biển cả như là người mẹ thứ hai của mỗi người." Thế mới thấy tình cảm của họ dành cho biển cả cũng lớn đến nhường nào. Tờ mờ sáng, khi sao vẫn còn, họ bắt đầu nhanh tay kéo lưới để kịp trời sáng, mẻ lưới đầy cá nặng trĩu, mấy anh chàng chung tay kéo mới lên được. Chuyến ra khơi đã bội thu, các ani xếp lưới, căng buồm quay thuyền trở về. Ra khơi hào hứng bao nhiêu thì trở về càng thêm phơi phới bấy nhiêu. Sau chuyến đi này, hồn tôi như lột xác hoàn toàn, trở nên mới mẻ và tràn đầy sức sống. Tôi bắt đầu sáng tác bài thơ về con thuyền ấy, cùng với đó là nhiều những trang ngơi ca về những người lao động mới...
Dàn ý bài Bếp Lửa-Bằng Việt
I. Mở bài: giới thiệu về bài thơ Bếp lửa.
Trong gia đình, thì mỗi gia đình sẽ có những thành viên khác nhau, có những điểm nổi bật khác nhau. Có gia đình làm nông, có gia đình làm giáo viên, có gia đình làm nhân viên hoặc các nghề khác. Trong gia đình bạn có thể ba, mẹ, ông bà, cháu, cậu, chú,…. Mọi người thân trong gia đình là một người bạn không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta, mỗi người có thể đối với ta một cách khác nhau, thể hiện tình cảm khác nhau. Một tình cảm rất thiêng liêng được thể hiện qua bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt đó là tình bà cháu.
II. Thân bài: phân tích bài thơ Bếp lửa:
1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cảm xúc:
Tình cảm của bà cháu rất sâu đậm, gắn liền với hình ảnh bếp lửa.Hình ảnh bếp lửa rất gần gũi, quen thuộc và thân thương.Người bà đã chắc chiu tình cảm của mình qua bếp lửa.2. Cảm nghĩ về bà và về bếp lửa:
- Hồi tưởng về những kỉ niệm đẹp bên bà:
Thời thơ ấu luôn lẻo đẽo theo bà.Người luôn mùi khóc.Nhem nhuốc vì than củi.Cuộc sống nghèo khó những không bao giờ quên.- Hồi tưởng những kỉ niềm bên bà:
Hình ảnh cứ quấn quýt bên bà.Tám năm hít khói bếp.Tình cảm bà cháu rất quấn quýt.Sự hi sinh vô bờ của bà dành cho người cháu thân yêu.- Cảm nghĩ về cuộc đời bà:
Cuộc đời vất vả, khó khăn.Yêu bà hơn.- Nỗi niềm thương nhớ bà:
Tình yêu và nhớ bà mãnh liệt trong tâm hồn cháu.Dù đi xa những cháu vẫn hướng về bà.III. Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em về bài thơ bếp lửa.
Dàn ý bài Đoàn thuyền đánh cá-Huy Cận
I. Mở bài:
Giới thiệu về bài thơ đoàn thuyền đánh cá.II. Thân bài: Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.
1. Cảnh đoàn thuyền ra khơi và tâm trạng của người đi biển:
Đoàn thuyền ra khơi vào buổi đêm.Cảnh đoàn thuyền ra khơi trong đêm tối những hình ảnh hết sức gần gũi và thân thương.Con người ra khơi rất háo hức, lạc quan và niềm hi vọng mới, hi vọng về ngày mai sẽ được nhiều cá.2. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển:
Cảnh không gian mênh mông, rộng lớn nhưng đoàn thuyền cũng lớn lao và hùng vĩ không kém.Đánh cá giống như một trận chiến hết sức oanh liệt và hào hùng.Đoàn thuyền giữa biển khơi rộng lớn hết sức hào hùng và oai hùng.Niềm hăng hái và mê say của những người dân trong việc đánh bắt cá.3. Cảnh đoàn thuyền đánh cá quay trở về:
Sự nhịp nhàng và đồng bộ của đoàn thuyền.Những tiếng hát như sự hối thúc và thể hiện sự chiến thắng sau một đêm làm việc mệt nhọc.Cảnh tượng thiên nhiên vô cùng hùng vĩ, con người cũng trở nên oai hùng.III. Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em về Đoàn thuyền đánh cá.
Chúng tôi là những ngư dân miền biển, thường xuyên cùng đoàn thuyền ra khơi đánh bắt cá trong đêm. Công việc bắt đầu khi hoàng hôn buông xuống, màn đêm tối sập, vũ trụ rộng lớn như mở ra trước mắt. Đoàn thuyền bắt đầu ra khơi đánh bắt cá mang về nguồn lợi kinh tế, chúng tôi phải đánh cá vào ban đêm khi dựa vào đặc tính của cá để dễ dàng nhử chúng vào lưới. Bất chấp màn đêm, chúng tôi vẫn toát lên không khí lao động say sưa, những tiếng hát, câu hát góp gió làm cánh buồm căng phồng, bằng mình là buồm khơi kì vĩ chúng tôi mượn tiếng hát, ” hát rằng cá bạc biển đông lặng” gọi cá biển giàu đẹp, những luồng cá thu đang dệt biển tạo ra muôn luồng sáng. Mong rằng chúng dệt lưới ta để chuyến ra khơi thật bội thu.
Khi thuyền đã dò được luồng cá chúng tôi bắt đầu hạ buồm đánh bắt cá, khung cảnh thiên nhiên đẹp với gió trời, trăng hòa cùng con người trong thế trận hăng say lao động, đánh bắt cá trong đêm thật hào hứng. Lao động trong đêm thật vui với tiếng hát xóa tan đi nặng nhọc, mệt mỏi. Bài hát gọi cá vào lưới được sự hỗ trợ của trăng trời trăng như giúp chúng tôi gặt hái được nhiều thành quả.
Khi sao mờ dần cũng là lúc trời sắp sáng, ánh rạng đông ló dạng, những đàn cá quẫy tung trong lưới nhảy nhót lấp lánh lung linh dưới ánh hồng bình minh buổi sáng. Không ai bảo ai chúng tôi thực hiện công việc cuối cùng đó là xếp lưới, căng buồm để trở về nhà.
Đoàn thuyền lướt đi trong gió để kịp về bến trước phiên chợ buổi sáng, một ngày mới đang bắt đầu thật đẹp, anh em trên thuyền ai nấy cũng đang chờ đợi thuyền trở về với tâm trạng hồ hởi. Cá đầy thuyền xếp đầy khoang lấp lánh li ti dưới ánh mặt trời thật đẹp, chúng tôi như quên sự mệt mỏi, vất vả của một đêm thức trắng lao động thay vào đó là sự vui mừng, phấn khởi khi chuyến đánh cá bội thu.
Chuyến đánh cá trong đêm của chúng tôi như vậy đó, tuy vất vả, mệt nhọc nhưng xứng đáng, những con người lao động hăng say, hết mình để làm giàu cho gia đình, đất nước. Rừng vàng biển bạc chúng tôi sẽ mãi yêu vùng biển quê mình và giữ gìn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc trước mọi kẻ thù ngoại bang.
Đóng vai người dân chài kể lại chuyến ra khơi trong bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá
Em cần gấp ạ 😭 😭 😭 😭 😭
Tham khảo:
Chúng tôi là những ngư dân, vốn đã gắn bó với biển khơi. Và một hành trình nữa lại bắt đầu.
Đoàn thuyền đánh cá bắt đầu xuất phát khi mặt trời đã xuống biển. Tầm vóc hiên ngang của người lao động hòa quyện với thiên nhiên, vũ trụ bao la. Đoàn thuyền đánh cá chúng tôi lại ra khơi như một đoàn quân sung sức, tràn đầy khí thế. Sóng gió không làm chúng tôi lo sợ mà trở thành bầu bạn. Những câu hát tràn ngập niềm vui cũng có sức đẩy mạnh mẽ như gió khơi.
Ngày hôm đó, chúng tôi hừng hực khí thế và tràn đầy cảm xúc. Những con người “ăn sóng nói gió” thể hiện niềm mơ ước về một chuyến đi biển thành công, mang về nhiều chiến lợi phẩm là cá. Đó là những cảm xúc thẩm mĩ về vẻ đẹp lộng lẫy, rực rỡ đến huyền ảo của các loài cá trên biển, giữa ánh trăng và sao. Thiên nhiên trở nên lung linh, kỳ vĩ, làm tôn thêm vẻ đẹp muôn đời của vùng biển rộng lớn, giàu tiềm năng của đất nước Việt Nam.
Điều thú vị hơn nữa, bạn có thể sẽ rất bất ngờ với cảnh đêm trên biển. Biển thật khoáng đạt với gió, trăng, mây, với chiều cao (mây cao), chiều rộng (biển bằng) và chiều sâu (dò bụng biển). Con thuyền đánh cá chúng tôi lấy gió làm lái, lấy trăng làm buồm và lướt với vận tốc phi thường giữa cái vô hạn của trời, biển, giữa mây cao và biển bằng. Chúng tôi biết công cuộc đánh cá không đơn giản. Nó chẳng khác nào một trận đánh được thua. Ngư dân như tôi phải “thăm dò bụng biển” trước rồi sau đó “dàn đan thế trận”. Mỗi lần tung ra một mẻ lưới cần đảm bảo trúng luồng cá để khi đoàn thuyền trở về, các khoang thuyền đều nặng oằn, ăm ắp cá tươi ngon.
Trời sáng cũng là lúc kết thúc công việc, đoàn thuyền quay về bình minh cũng đó mà lên.
Nói về cuộc sống mới, tôi nhớ lại năm 1958, 10 năm sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Khi ấy, nhân dân cả nước bắt đầu lao động sản xuất, xây dựng xã hội mới, những người ngư dân như chúng tôi cũng trở về với biển, bám biển, nuôi thân, giúp gia đình, làm giàu cho quê hương.
Một hôm, tôi và anh trai khỏe mạnh ra khơi vào lúc hoàng hôn. Khi mặt trời lặn xuống biển và không gian bước vào màn đêm cũng là lúc đoàn thuyền bắt đầu hải trình. Thuyền em ra khơi, khỏe như chiến mã, gió làm bánh lái, trăng sáng làm buồn, biển khóc đêm. Biển Hoa Đông rất giàu cá mồi trắng, cá thu lấp lánh ánh trăng, cá bông lau, cá trê, cá da trơn và nhiều loại cá quý khác. Ngư dân ta ra khơi với tâm thế phấn khởi, tràn đầy niềm tin vào một vụ mùa bội thu. Không còn là nô lệ của áp bức, được tự do có một công việc khiến ai cũng hăng say lao động, được cái không mất công. Xua tan muộn phiền trước biển ta ngâm nga bài ca đêm dài đánh cá, đó là bài ca lao động chan hòa niềm vui với thiên nhiên. Lưới được giăng xung quanh thuyền như một vòng vây, và chúng tôi bắt đầu hát, vừa gõ thuyền vừa hát, vừa dụ cá vào lưới. Mỗi ngư dân chúng tôi đều rất biết ơn biển, biển là nguồn sống của cá, biển là biển nuôi sống và giúp chúng tôi trưởng thành làm người, biển là người mẹ thứ hai của mỗi người. Sáng sớm sao còn nên phải nhanh tay kéo lưới cho kịp sáng, mẻ lưới đầy cá nặng trĩu, hai anh em cùng nhau kéo lên. Chuyến ra khơi thành công tốt đẹp, chúng tôi giăng lưới, giong buồm, rồi quay về. Ra khơi càng háo hức bao nhiêu thì ngày về lại càng háo hức bấy nhiêu.
Trong công việc hàng ngày của mình, tôi luôn thầm ấp ủ ước mơ hòa hợp và chinh phục thiên nhiên. Tôi muốn làm giàu từ biển, nhưng tôi cũng muốn bảo vệ sự giàu có của biển.
nghĩ đc có mỗi thế này
1. Mở đoạn:
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn trích.
2. Thân đoạn:
- Bức tranh cá thứ nhất: là những nét vẽ tài hoa về bức tranh cá trong tưởng tượng, trong mơ ước.
- Bức tranh cá thứ hai: là bức tranh hiện thực được vẽ bằng bút pháp lãng mạn. Trên ngư trường những người dân vừa ca hát, vừa gõ mái chèo đuổi bắt cá.
- Bức tranh cá đầy màu sắc và ánh sáng, có giá trị thẩm mĩ đặc sắc gợi tả và ngợi ca biển quê hương rất giàu và đẹp.
3. Kết đoạn:
Bức tranh cá thể hiện cảm hứng vũ trụ, tình yêu biển của Huy Cận.
Tham khảo:
Chúng tôi là những ngư dân, vốn đã gắn bó với biển khơi. Và một hành trình nữa lại bắt đầu.
Đoàn thuyền đánh cá bắt đầu xuất phát khi mặt trời đã xuống biển. Tầm vóc hiên ngang của người lao động hòa quyện với thiên nhiên, vũ trụ bao la. Đoàn thuyền đánh cá chúng tôi lại ra khơi như một đoàn quân sung sức, tràn đầy khí thế. Sóng gió không làm chúng tôi lo sợ mà trở thành bầu bạn. Những câu hát tràn ngập niềm vui cũng có sức đẩy mạnh mẽ như gió khơi.
Ngày hôm đó, chúng tôi hừng hực khí thế và tràn đầy cảm xúc. Những con người “ăn sóng nói gió” thể hiện niềm mơ ước về một chuyến đi biển thành công, mang về nhiều chiến lợi phẩm là cá. Đó là những cảm xúc thẩm mĩ về vẻ đẹp lộng lẫy, rực rỡ đến huyền ảo của các loài cá trên biển, giữa ánh trăng và sao. Thiên nhiên trở nên lung linh, kỳ vĩ, làm tôn thêm vẻ đẹp muôn đời của vùng biển rộng lớn, giàu tiềm năng của đất nước Việt Nam.
Điều thú vị hơn nữa, bạn có thể sẽ rất bất ngờ với cảnh đêm trên biển. Biển thật khoáng đạt với gió, trăng, mây, với chiều cao (mây cao), chiều rộng (biển bằng) và chiều sâu (dò bụng biển). Con thuyền đánh cá chúng tôi lấy gió làm lái, lấy trăng làm buồm và lướt với vận tốc phi thường giữa cái vô hạn của trời, biển, giữa mây cao và biển bằng. Chúng tôi biết công cuộc đánh cá không đơn giản. Nó chẳng khác nào một trận đánh được thua. Ngư dân như tôi phải “thăm dò bụng biển” trước rồi sau đó “dàn đan thế trận”. Mỗi lần tung ra một mẻ lưới cần đảm bảo trúng luồng cá để khi đoàn thuyền trở về, các khoang thuyền đều nặng oằn, ăm ắp cá tươi ngon.
Trời sáng cũng là lúc kết thúc công việc, đoàn thuyền quay về bình minh cũng đó mà lên.
Tham khảo:
Hôm nay tôi có dịp cùng đồng đội cũ về thăm chiến trường cũ. Kí ức những năm đỏ lửa 1968 như ùa về trong tâm trí tôi. Đồng đội tôi người còn sống, người mãi nằm lại chiến trường. Một cơn gió lùa qua tôi, mang theo câu chuyện về những tháng ngày gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc.
Vào những năm tháng chiến đấu chống Mỹ ác liệt, khi cả nước hướng về miền Nam ruột thịt. Chúng tôi là lớp thanh niên, tạm gác bút vở sang một bên, nộp đơn xin nhập ngũ. Quyết không để miền Nam đơn độc trong trận chiến này, tôi đã vào chiến trường, mong muốn đóng góp công sức cùng cả dân tộc “ đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”.
Vào chiến trường, mỗi người một nhiệm vụ phục vụ cho kháng chiến. Tôi là chiến sĩ lái xe, nhiệm vụ chính là đảm bảo người, vũ khí và chi viện từ Miền Bắc vào chiến trường. Hằng ngày, trên chiếc xe của mình, tôi rong ruổi trên khắp chiến trường Miền Nam, chi viện thuốc men, quân tư trang đến những địa điểm cần thiết.
Những năm tháng ác liệt 1968. Mỹ như trút bom xuống Trường Sơn, muốn dập tắt tinh thần chiến đấu của cả dân tộc. Thế nhưng bom Mỹ có đội xuống thế nào, cả dân tộc cũng không nao lòng. Chúng tôi bên chiếc xe của mình, một chiếc xe vô cùng “ đặc biệt” đảm bảo giao nhận hàng hóa kịp phục vụ chiến trường.
Dưới sức ép của bom, hàng loạt kính xe của tôi bị vỡ hết. Dù nhiều lần được thay kính mới, nhưng chỉ vài ngày lại bị bom Mỹ giật rung cho bể hết kính. Cánh lái xe chúng tôi cũng không thiết thay kính mới thêm lần nào nữa. Ấy thế mà kính vỡ cũng có cái hay của nó nhé!
Ngồi trong buồng lái, tôi cảm nhận từng cơn gió lùa vào, xua đi những cơn mỏi mệt, buồn ngủ đang hiện hữu. Con đường hằng ngày mà tôi cùng đồng đội đang đi, tuy có bị bom Mỹ tàn phá dữ dội. Thế nhưng tôi không hề nao núng, bởi lẽ con đường ấy còn là lý tưởng cách mạng, là con đường chính nghĩa cho hòa bình dân tộc.
Ban đêm, cánh lái xe chúng tôi lấy sao trời soi sáng, bánh xe vẫn lăn đều trong đêm. Thật ra một phần chúng tôi cũng không dám mở đèn nhiều, vì sợ tụi Mỹ sẽ thấy mà thả bom. Điều kiện khắc nghiệt là thế, nhưng chúng tôi không bao giờ bỏ cuộc hay kêu ca.
Có những hôm trời nắng, đường khô gió bụi bay vào cay cả mắt, lúc bước xuống xe quần áo, mặt mũi đều đầy bụi. Những hôm mưa rừng xối xả, ngồi trong xe mà vẫn ướt như thường. Cái lạnh của rừng Trường Sơn có đôi lúc như muốn quật ngã chúng tôi.
Cái lạnh thấm vào quần áo, da thịt, lạnh đến run người. Thế nhưng chúng tôi vẫn không quan tâm, quần áo ướt đã có gió hong khô. Cánh lái xe chúng tôi đã quá quen với cuộc sống vất vả và khắc nghiệt này.
Thế nhưng, vì Miền Nam vì hòa bình dân tộc chúng tôi đã có những lúc “ cái gạt nước xua đi nỗi nhớ”, “cái nhành cây gạt mối riêng tư”. Những nỗi nhớ thương, mong nhớ đều dằn lòng lại. Tuy ở đây chỉ có núi rừng, chuyến xe vào ra liên tục, thế nhưng tình đồng đội đồng chí của chúng tôi vẫn luôn gắn bó.
Công việc liên tục, xe chạy ngày đêm để kịp chi viện cho Miền Nam, cánh lái xe chúng tôi chỉ có thể chào nhau bằng cái bắt tay vội vàng qua ô cửa xe đã vỡ. Cái bắt tay như tiếp thêm sức mạnh, nhưng đôi lúc cũng là cái bắt tay cuối cùng. Chiến tranh mà, cái chết luôn nằm ở trên đầu, nhưng chúng tôi vẫn không hề nao lòng.
với cánh lái xe chúng tôi, niềm vui là khi hàng hóa giao đến nơi an toàn. Từ trong bom đạn, nhìn thấy đồng đội của mình vẫn nguyên vẹn, cùng ngồi với nhau bên bếp Hoàng Cầm. Bữa ăn của lính tuy đạm bạc, đơn sơ nhưng đầy tình cảm.
Chúng tôi ngồi lại kể chuyện nhau nghe, kể về bức thư nhà, ruộng đồng, mùa vụ. Kể về những con đường đã đi qua, những vất vả khó khăn mà chúng tôi gặp phải. Rồi chúng tôi cùng nuôi lớn hy vọng về hòa bình, độc lập vào một ngày gần nhất. Chiếc võng mắc vội nằm ngả lưng bên bìa rừng, tôi tranh thủ chợp mắt cho chuyến xe sắp tới.
Tuy không trực tiếp cầm súng chiến đấu như những đồng đội khác. Những lái xe chúng tôi vẫn đóng góp công sức và có lúc cả tính mạng. Không biết bao nhiêu đồng đội của tôi đã nằm lại trên con đường huyết mạch Trường Sơn. Thế nhưng, chuyến xe chi viện cho Miền Nam không khi nào bị đứt mạch. Bởi lẽ những chuyến hàng là cả niềm tin và sức mạnh mà đồng bào Miền Bắc gửi gắm cho chiến trường Miền Nam.
Chiếc xe cho dù không thùng, không kính, bị bom Mỹ làm cho méo mó. Thế nhưng cũng thể nào làm suy dời ý chí của chúng tôi. Chiếc xe của chúng tôi vẫn luôn chạy vì Miền Nam phía trước và cũng vì trong xe vẫn có “ một trái tim”.
Chiến tranh đã lùi xa, ngày hôm nay tôi cùng đồng đội của mình tìm về chiến trường xưa. Những chiếc xe năm nào đã nằm yên trong viện bảo tàng, tiểu đội xe không kính năm nào người còn, kẻ nằm mãi nơi Trường Sơn. Tôi cùng đồng đội xưa vẫn không thể nào quên năm tháng gian khổ nhưng hào hùng ấy. Tôi luôn mong muốn lớp thanh niên ngày nay, luôn tiếp bước và thắp sáng con đường mà lớp cha anh đã ngã xuống để gìn giữ.
TK
Tiểu đội xe vận tải của tôi có đặc điểm chung là không chiếc xe nào có kính. Qua bao trận mưa bom trên đường chở hàng ra tiền tuyến, kính xe đã vỡ hết cả. Cánh lái xe chúng tôi vẫn ung dung ngồỉ trong buồng lái, thoả thích nhìn đất, nhìn trời và nhìn thẳng con đường hướng vào chiến trường miền Nam đang đánh Mĩ.
Không có kính, gió tha hồ ùa vào buồng lái. Gió thổi làm mắt cay xè nhưng chẳng hề chi, chúng tôi vẫn nhìn rõ con đường đất đỏ như son như đang chạy thẳng vào tim. Ban ngày thì những cánh chim rừng, ban đêm thì những vì sao sáng như đột ngột sa vào, ùa vào buồng lái.
Lái xe trên đường Trường Sơn là công việc hết sức khó khăn, nguy hiểm. Trời mưa, ngồi trong xe mà ướt sũng như ngoài trời. Mặc! Chúng tôi vẫn cho xe chạy thêm hàng trăm cây số nữa. Mưa mãi thì cũng phải tạnh. Gió lùa, quần áo sẽ mau khô thôi!
Mưa đã cực, nắng cũng chẳng sướng gì hơn. Đất Trường Sơn khô rang dưới cái nắng như nung. Đoàn xe đi qua, bụi đỏ tung mù trời giống cơn lốc cuốn. Quần áo, đầu tóc chúng tôi bụi phun trắng xoá, trông chẳng khác người già. Bụi mặc bụi, xe vẫn cứ chạy. Đến cánh rừng nào đó có suối, có khe, chúng tôi dừng lại rửa mặt, nhìn nhau anh nọ cười anh kia mặt lấm, tiếng cười ha ha vang rộn, trẻ trung, yêu đời biết mấy!
Trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, những chiếc xe từ trong bom rơi đã về đây họp thành tiểu đội xe không kính. Trên đường Trường Sơn, chúng tôi gặp nhau, những cái bắt tay thật chặt nồng ấm tình đồng đội, truyền hơi ấm và sức mạnh cho nhau. Tất cả đều thể hiện quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện ý nguyện tha thiết của Bác Hồ - vị Cha già dân tộc, trước lúc Người đi xa.
Ở đây tác giả tả khí thế của đoàn thuyền ra khơi kết hợp với động từ “lại” diễn tả công việc lao động hằng ngày đầy hứng khởi
→ Khí thế phơi phới, mạnh mẽ của người lao động trên biển làm chủ cuộc đời đang chinh phục biển khơi
Tham khảo:
Chúng tôi là những ngư dân miền biển, thường xuyên cùng đoàn thuyền ra khơi đánh bắt cá trong đêm. Công việc bắt đầu khi hoàng hôn buông xuống, màn đêm tối sập, vũ trụ rộng lớn như mở ra trước mắt. Đoàn thuyền bắt đầu ra khơi đánh bắt cá mang về nguồn lợi kinh tế, chúng tôi phải đánh cá vào ban đêm khi dựa vào đặc tính của cá để dễ dàng như chúng vào lưới. Bất chấp màn đêm, chúng tôi vẫn toát lên không khí lao động say sưa, những tiếng hát, câu hát góp gió làm cánh buồm căng phồng, bằng mình là buồm khơi kì vĩ chúng tôi mượn tiếng hát, ” hát rằng cá bạc biển đông lặng” gọi cá biển giàu đẹp, những luồng cá thu đang dệt biển tạo ra muôn luồng sáng. Mong rằng chúng dệt lưới ta để chuyến ra khơi thật bội thu.
Khi thuyền đã dò được luồng cá chúng tôi bắt đầu hạ buồm đánh bắt cá, khung cảnh thiên nhiên đẹp với gió trời, trăng hòa cùng con người trong thế trận hăng say lao động, đánh bắt cá trong đêm thật hào hứng. Lao động trong đêm thật vui với tiếng hát xóa tan đi nặng nhọc, mệt mỏi. Bài hát gọi cá vào lưới được sự hỗ trợ của trăng trời trăng như giúp chúng tôi gặt hái được nhiều thành quả.
Khi sao mờ dần cũng là lúc trời sắp sáng, ánh rạng đông ló dạng, những đàn cá quẫy tung trong lưới nhảy nhót lấp lánh lung linh dưới ánh hồng bình minh buổi sáng. Không ai bảo ai chúng tôi thực hiện công việc cuối cùng đó là xếp lưới, căng buồm để trở về nhà.
Đoàn thuyền lướt đi trong gió để kịp về bến trước phiên chợ buổi sáng, một ngày mới đang bắt đầu thật đẹp, anh em trên thuyền ai nấy cũng đang chờ đợi thuyền trở về với tâm trạng hồ hởi. Cá đầy thuyền xếp đầy khoang lấp lánh li ti dưới ánh mặt trời thật đẹp, chúng tôi như quên sự mệt mỏi, vất vả của một đêm thức trắng lao động thay vào đó là sự vui mừng, phấn khởi khi chuyến đánh cá bội thu.
Chuyến đánh cá trong đêm của chúng tôi như vậy đó, tuy vất vả, mệt nhọc nhưng xứng đáng, những con người lao động hăng say, hết mình để làm giàu cho gia đình, đất nước. Rừng vàng biển bạc chúng tôi sẽ mãi yêu vùng biển quê mình và giữ gìn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc trước mọi kẻ thù ngoại bang.
Ko spam
nhầm
Okla
Có spam đou?
Yes yes
Ồ, ok không sao, hahaha
TK
Để kịp cho chuyến ra khơi tối nay được thuận lợi, chúng tôi đã tấp nập chuẩn bị từ sớm. Bác Ba lo vá lại tấm lưới bị rách, còn anh Sáu đưa nước và mấy cái thùng phi lên thuyền. Tôi cũng lo kết lại mấy cái dây thừng cho thật chặt. Mùa này sóng lớn, ra biển mà nhớ nó bị đứt thì không biết làm thế nào. Bên kia, thuyền viên của các thuyền khác cũng nhộn nhịp chuẩn bị không kém gì. Đến chiều thì mọi thứ đã sẵn sàng.
Trưởng đoàn đứng trên con thuyền lớn nhất đang dẫn đầu, lặng lẽ nhìn khơi xa. Đôi mắt đăm đăm nhìn về không cùng. Chắc ông đang hướng tìm ngọn gió, xem khí trời thế nào. Lão ngư già dặn ấy đã có trên 50 năm tuổi nghề, mọi biến chuyển của đại dương ông đều cảm nhận được hết. Trên biển, mặt trời từ từ chìm xuống biển, ánh sáng vàng rực hắt thẳng lên trời cao.
Tôi cứ ngỡ như đó là một hòn lửa khổng lồ bị dìm vào biển nước, sức mạnh vô biên của nó có thể tạo nên những đợt sóng kinh hồn. Đêm cũng từ từ buông xuống. Cái khoảnh khắc giao điểm giữa đêm và ngày thật kì diệu. Nó cứ khiến lòng ta nôn nao khó tả. Trời mới còn đang sáng đáy thôi, bỗng chốc tối sầm lại, vệt sáng tối kéo dài trên mặt biển rồi mất hút tận khơi xa.
Dưới kia, các thuyền viên đã lên thuyền cả rồi, cột buồm rùng rùng chuyển động, cánh buồm căng lên đồng loạt. Bỗng lão ngư hét lớn: “Gió đã thổi, ra khơi thôi!”. Hàng mấy chục thuyền viên đồng loạt “dạ” ran, tiếng vang kinh bạt cả biển trời. Đoàn thuyền thuyền đánh cá rùng mình chuyển động rồi xếp hàng ra khơi. Thuyền này nối đuôi thuyền kia tạo thành một vệt dài trên biển.
Tiếng hát ra khơi lại rộn vang khắp các thuyền. Dân chài lưới đầu sóng ngọn gió nhưng yêu đời lắm. Lần ra khơi nào chúng tôi cũng ca hát. Hát từ bờ hát đến khơi xa. Tôi nhớ rất rõ bài hát ấy chính do lão ngư già hát và chúng tôi hát theo. Hát mãi trong mỗi chuyến ra khơi đến giờ thuộc nằm lòng luôn:
“Ơi biển sâu! Ơi biển sâu
Nơi nào nước chảy, nơi nào cá bơi
Thuyền ta đi tới! Thuyền ta đi tới!
Bao nhiêu năm căng gió buồm khơi
Sóng đã bạc đầu, chim trời mỏi cánh
Bao nhiêu năm cuộc đời hiu quạnh
Nay ra khơi ta bắt cá về.
Ơi hỡi đại dương muôn trùng sóng vỗ!
Ơi hỡi Biển Đông muôn luồng cá chạy!
Ta soi, ta rọi, ta vớt, ta giăng
Đây đoàn cá bạc biển Đông lặng,
Đây luồng cá thu như đoàn thoi
Đây ánh lưng vây con nục trắng…
“Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”
Bao nhiêu năm căng gió buồm khơi
Bấy nhiêu gian khổ ở trên đời
Cuộc đời đã mới, đời đã mới
Hãy tiến lên nào anh em ơi!”
Lời hát cứ dặt dìu theo nhịp sóng biển. Tiếng hát khơi bừng khí thế ra trận. Ai cũng tràn đầy tin tưởng ở trong lòng. Cánh buồm no gió đẩy thuyền lướt mạnh ra khơi.
Thoáng chốc, bãi bờ, làng xóm đã mấy hút, không còn nhìn thấy nữa. Lúc này, trăng cũng đã lên cao. mà thú thật, giữa biển khơi bao la, trăng có lên hay xuống chúng tôi cũng không biết nữa. Không lấy gì để so sánh mà biết nó lên hay lặn. Đoàn thuyền vẫn giữ hàng ngũ, trật tự băng băng lao tới. Nhìn cảnh ấy cứ ngỡ như rằng nó đang lướt đi giữa mây cao với biển bằng. Nhiều lúc tôi nghĩ cả đoàn thuyền đang bay chứ không phải đang bơi vì biển và trời gần nhau quá.
Đến 10 giờ đêm là chúng tôi buông lưới. Lão ngư già đã cảm nhận có luồng cá chạy gần đây. Linh tính ông mách bảo thế. Ông lại ra đứng trên mũi thuyền, mắt nhìn vào con nước, đôi tai khẽ rung rung như đang nghe ngóng cái gì đó. Các bạn sẽ không thể tin được rằng chỉ cần ngửi mùi nước biển thôi là ông ấy có thể biết đàn cá đang ở đâu, nhiều hay ít, chìm sâu hay nổi cạn. Ông lấy chèo gõ nhẹ vào mạn thuyền rồi lại lắng nghe. Đôi tai kì diệu của ông dường như có thể nghe được đàn cá đang chạy rộn ràng trong lòng biển sâu sau mỗi tiến gõ. Sau ông lệnh: “Rẽ thuyền, thả lưới”.
Các thuyền viên bắt đầu chuyển hướng, phân làm hai đội. Một đội dùng lưới giăng hình cánh cung đi trước đón cá. Một đội giăng lưới hàng chữ nhất thả lưới chìm đi sau. Xong đâu tất cả, lão ngư già lệnh cho đoàn thuyền đi tới. Mặt biển dội sóng dữ dội do lưới cào vào lòng bể. Chính giữa, luồng nước chảy xiết mạnh như thác lũ. lão ngư già vẫn đứng trên mũi tàu, vững chãi như một cây đinh ba. Bỗng lão phất tay nói lớn: “Cá đã vào, khép lưới lại”.
Các thuyền viên nhanh chóng bẻ lái rẽ thuyền. Những thuyền viên khác lập tức gồng tay kéo dây chão khép lưới lại. Mặt biển lại sôi sục dữ dội. Khi lưới vừa khép, đoàn cá từ dưới sâu dội lên, đội cả lưới định tìm đường tháo chạy. Anh Sáu vội cầm dây chão móc vào cần cẩu, rút miệng lưới lên cao tóm gọn lại. Đàn cá hết đường chạy thoát. Phía sau, đoàn thuyền cào vớt cũng thu được đầy lưới cá.
Lão ngư già quả thật tinh tế. Ông hiểu tính cá rất sâu sắc. Đoàn đi trước vây hình cánh cung dụ cá vào luồng giữa. Khi đụng phải lưới, thế nào một phần cá cũng lặn xuống sâu hơn tìm đường chạy trốn. Thế nên, ông bố trí đội thuyền giăng hàng chữ nhất đi sâu và thả lưới chìm để đón đầu đoàn cá ấy. Quả thật, đoàn cá bị tóm gọn chẳng sót con nào.
Bắt gọn đoàn cá, chúng tôi lại giong thuyền đi. bài hát rộn rã lại vang lên. Tôi nhìn lão ngu già mà thầm kính phục. Đúng thật, gừng càng già càng cay. Đời ông đã có hàng nghìn chuyến đi biển, gian nan nào cũng đã trải qua. Nhớ có lần, trong trận bão cách đây bảy năm, thuyền của ông không kịp về bến để tránh bão. Cơn bão đến thật nhanh, phá nát cả xóm làng.
Trong mịt mù sóng gió, tưởng ông và các thuyền viên đã bỏ mình trong bụng ca. Nào ngờ, khi cơn bão tan, người ta thấy con thuyền lừ lừ từ khơi xa trở về. Không ai tin được đó lại là sự thật. Có người còn nghĩ đó là bóng ma, là ảo ảnh thôi. Đến khi thuyền cập bến, mọi người mới tin.
Chuyến đó, cũng may nhờ tài năng lão luyện của lão ngư già mà cả đoàn viên đã thoát nạn. Họ mang ơn ông đến suốt cuộc đời. Từ mẻ lưới đầu tiên đến quá nửa đêm, chúng tôi kéo ba mẻ lưới nữa, thu được rất nhiều cá tôm. Đến khi thuyền đã đầy cá, lão ngư già lệnh dừng lại và cho thuyền quay trở về.
Đoàn thuyền lại rùng rùng tập kết, xếp thành ba hàng rồi hướng bờ thẳng tiến. Bài hát lại vang lên. Tiếng hát bội thu vang khắp biển trời, lúc khoan thai dìu dặt theo sóng biển, lúc vút cao khí thế cùng gió cùng mây:
“…Bao nhiêu năm căng gió buồm khơi
Sóng đã bạc đầu, chim trời mỏi cánh
Bao nhiêu năm cuộc đời hiu quạnh
Nay ra khơi ta bắt cá về.
Ơi hỡi đại dương muôn trùng sóng vỗ!
Ơi hỡi Biển Đông muôn luồng cá chạy!
Ta soi, ta rọi, ta vớt, ta giăng
Đây đoàn cá bạc biển Đông lặng,
Đây luồng cá thu như đoàn thoi
Đây ánh lưng vây con nục trắng…”
Biển với chúng tôi như người mẹ vĩ đại. Biển mẹ che chở chúng tôi, nuôi lớn chúng tôi từng ngày. Có lúc biển mẹ bao dung, hiền hòa, trìu mến. Có lúc biển mẹ giận dữ như muốn trừng phạt những đứa con ngỗ nghịch không biết nghe lời. Cuộc sống dân chài sớm bờ tối biển chẳng ngày nào yên. Nhưng chúng tôi mạnh mẽ, chúng tôi tự hào về công việc của mình. Mỗi chuyến ra khơi bồi đắp trong tôi một tình yêu lớn đối với biển cả.
Thuyền gần tới bờ thì trời cũng hững sáng. Lúc đầu ánh sáng mờ mờ nhưng đã có thể nhìn rõ. Đi một lúc, ánh sáng đã thực rõ. Trên biển là thế nhưng giờ này trên đất liền vẫn còn tối lắm. Chắc các chị em đã sẵn sàng thúng rổ chờ thuyền về rồi.
Mặt trời đội biển nhô lên kỳ vĩ. Đó là khung cảnh ấn tượng nhất mỗi ngày mà chúng tôi vẫn thường thấy. Một chiếc mâm bạc khổng lồ từ từ dưới biển sâu nhô lên rực sáng chói gắt. Ánh sáng kéo một vệt dài trên biển rồi tỏa ra giống hệt như ánh đèn màu mà tôi vẫn thường thấy trong những đêm văn nghệ. Tiếng hát vui mừng cùng gió thổi căng cánh buồm. Có lẽ con thuyền cũng háo hức trở về nên băng băng vượt sóng.
I'm cheems
No cheems
???