K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

II. VIẾT

Câu 1:

Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ là nơi cung cấp tài nguyên mà còn là không gian sống, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tinh thần của mỗi người. Khi môi trường bị ô nhiễm hay tàn phá, con người không chỉ đối mặt với thiên tai, dịch bệnh mà còn chịu những tổn thương về mặt cảm xúc, như hiện tượng “tiếc thương sinh thái”. Vì vậy, mỗi cá nhân cần có ý thức bảo vệ môi trường bằng những hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh. Bên cạnh đó, nhà nước và các tổ chức cũng cần có biện pháp mạnh mẽ để giảm thiểu ô nhiễm và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta hôm nay và tương lai của thế hệ mai sau.

Câu 2:

Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, tránh xa danh lợi và tìm về với thiên nhiên. Qua hai bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến, hình ảnh ấy hiện lên vừa có nét tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt, thể hiện quan niệm sống và tâm trạng của mỗi tác giả.

Trước hết, điểm gặp gỡ giữa hai nhà thơ là ở lối sống ẩn dật, hòa hợp với thiên nhiên. Trong bài “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa cuộc sống giản dị với “một mai, một cuốc, một cần câu”, tự do, ung dung giữa cảnh quê thanh bình. Ông tìm thấy niềm vui trong lao động và thiên nhiên, không bị ràng buộc bởi danh lợi. Tương tự, trong bài thơ của Nguyễn Khuyến, thiên nhiên hiện lên với bầu trời thu xanh, làn nước trong và không gian tĩnh lặng. Cả hai đều thể hiện một tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tâm hồn, tránh xa sự xô bồ của cuộc sống. Điều đó cho thấy vẻ đẹp chung của người ẩn sĩ: sống thanh cao, giữ gìn nhân cách và không bị cuốn theo vòng xoáy danh lợi.

Tuy nhiên, đằng sau sự tương đồng ấy lại là những khác biệt rõ nét. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, việc lựa chọn cuộc sống “nhàn” là một sự chủ động và đầy bản lĩnh. Ông tự nhận mình là “dại” nhưng thực chất đó là cái “dại” của người khôn, biết tránh xa danh lợi để giữ trọn khí tiết. Giọng thơ của ông vì thế mang vẻ ung dung, nhẹ nhàng và có phần triết lí. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn dật lại gắn với tâm trạng buồn bã, bất lực trước thời cuộc. Là một người từng làm quan nhưng chứng kiến xã hội rối ren, ông lui về quê sống ẩn dật, nhưng trong lòng vẫn nặng trĩu nỗi niềm. Cảnh thu trong thơ ông tuy đẹp nhưng phảng phất nỗi buồn, sự cô đơn và tiếc nuối. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm thấy sự an nhiên thực sự trong cuộc sống ẩn dật, thì Nguyễn Khuyến lại mang theo nỗi đau thời thế vào trong từng vần thơ.

Về nghệ thuật, cả hai bài thơ đều sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi, hình ảnh thiên nhiên quen thuộc của làng quê Việt Nam. Tuy nhiên, giọng điệu thơ có sự khác biệt: thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính triết lí, nhẹ nhàng; còn thơ Nguyễn Khuyến lại giàu cảm xúc, sâu lắng và man mác buồn.

Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, biết giữ mình trước danh lợi, đồng thời cũng phản ánh những tâm trạng khác nhau của các nhà nho trước thời cuộc. Điều đó không chỉ giúp người đọc hiểu hơn về con người và tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến, mà còn gợi nhắc về giá trị của một lối sống giản dị, thanh sạch và giàu ý nghĩa trong cuộc sống hôm nay.

30 tháng 3

C1:

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, bảo vệ môi trường đã trở thành một vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết đối với toàn nhân loại. Môi trường là không gian sống của con người và muôn loài sinh vật, cung cấp không khí, nước, đất và các nguồn tài nguyên thiết yếu để duy trì sự sống. Khi môi trường bị ô nhiễm hoặc tàn phá, không chỉ thiên nhiên bị tổn hại mà sức khỏe và đời sống tinh thần của con người cũng chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực. Những hiện tượng như biến đổi khí hậu, băng tan, cháy rừng hay ô nhiễm nguồn nước ngày càng gia tăng đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về hậu quả nghiêm trọng của việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiếu ý thức. Bảo vệ môi trường không phải là trách nhiệm của riêng một cá nhân hay tổ chức nào mà là nghĩa vụ chung của toàn xã hội. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ nhưng thiết thực như tiết kiệm điện, hạn chế sử dụng túi ni-lông, trồng thêm cây xanh, phân loại rác thải hay nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh nơi công cộng. Khi mỗi cá nhân thay đổi nhận thức và hành động tích cực, môi trường sống sẽ dần được cải thiện. Như vậy, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính con người hôm nay và cả các thế hệ mai sau, vì thế mỗi chúng ta cần có ý thức và trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp.

C2:

Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là một hình tượng quen thuộc, thể hiện nhân cách thanh cao và thái độ sống của các nhà nho trước những biến động của xã hội. Khi con đường công danh không còn phù hợp với lý tưởng đạo đức, nhiều trí thức đã lựa chọn lối sống ẩn dật, tìm về với thiên nhiên để giữ gìn nhân cách. Điều đó được thể hiện rõ nét qua hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Qua hai tác phẩm, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên vừa có những điểm tương đồng về lối sống và nhân cách, vừa có những nét khác biệt về tâm trạng và cảm xúc, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của các trí thức xưa.

Trước hết, trong bài thơ “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc họa hình tượng người ẩn sĩ với lối sống giản dị, thanh thản và chủ động lựa chọn cuộc sống xa rời danh lợi. Ngay từ những câu thơ mở đầu:

“Một mai, một cuốc, một cần câu,

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.”

Những hình ảnh “mai”, “cuốc”, “cần câu” gợi lên cuộc sống lao động giản dị nơi thôn quê. Điệp từ “một” được lặp lại ba lần không chỉ tạo nhịp điệu khoan thai mà còn nhấn mạnh sự đơn sơ trong cuộc sống của người ẩn sĩ. Từ “thơ thẩn” thể hiện tâm trạng ung dung, tự tại, không bị ràng buộc bởi những bon chen nơi chốn quan trường. Đặc biệt, quan niệm sống của tác giả được thể hiện sâu sắc qua hai câu thơ:

“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn, người đến chốn lao xao.”

Ở đây, cách nói “ta dại” là một lối nói ngược, thể hiện sự tự ý thức của tác giả. Người đời cho rằng tìm nơi vắng vẻ là “dại”, nhưng thực chất đó lại là lựa chọn khôn ngoan của người hiểu rõ giá trị của sự thanh thản. Hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vì thế hiện lên với tư thế chủ động, coi thường danh lợi và hướng đến đời sống tinh thần trong sạch.

Cuộc sống của người ẩn sĩ trong bài thơ còn gắn bó mật thiết với thiên nhiên bốn mùa:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.”

Những hình ảnh mộc mạc, gần gũi đã khắc họa cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, giản dị mà thanh cao. Người ẩn sĩ tìm niềm vui trong những sinh hoạt bình thường, không bị chi phối bởi vật chất hay danh vọng. Điều này được khẳng định rõ hơn trong hai câu thơ cuối:

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

Qua hình ảnh “phú quý tựa chiêm bao”, tác giả thể hiện thái độ coi nhẹ danh lợi, xem giàu sang chỉ là điều phù phiếm, không đáng để đánh đổi sự bình yên của tâm hồn. Như vậy, hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ đẹp của sự ung dung, tự tại và lạc quan.

Nếu người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ ung dung và thanh thản thì trong bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng người ẩn sĩ lại gắn liền với tâm trạng sâu lắng và nỗi niềm riêng. Bức tranh thiên nhiên mùa thu hiện lên với vẻ đẹp tĩnh lặng và trong trẻo:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.”

Không gian mùa thu được mở ra với màu sắc trong trẻo nhưng lại gợi cảm giác vắng lặng. Những từ ngữ như “lơ phơ”, “hắt hiu” đã tạo nên không khí buồn nhẹ, gợi lên tâm trạng cô đơn của người ẩn sĩ. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ là nơi để sống mà còn là nơi gửi gắm tâm trạng của con người.

Những câu thơ tiếp theo tiếp tục khắc họa vẻ đẹp tĩnh lặng của cảnh vật:

“Nước biếc trông như tầng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào.”

Cảnh vật hiện lên mờ ảo, yên tĩnh, mang vẻ đẹp tinh tế và giàu chất trữ tình. Tuy nhiên, đằng sau vẻ đẹp ấy là tâm trạng suy tư của tác giả. Đặc biệt, ở những câu thơ cuối:

“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.”

Hình ảnh “thẹn với ông Đào” (Đào Tiềm – nhà thơ nổi tiếng với lối sống ẩn dật) cho thấy sự tự ý thức về nhân cách và lý tưởng sống. Người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ thưởng thức thiên nhiên mà còn suy ngẫm về bản thân, mang trong lòng nỗi niềm trăn trở trước cuộc đời.

So sánh hai bài thơ, có thể thấy hình tượng người ẩn sĩ trong cả hai tác phẩm đều có những điểm tương đồng đáng chú ý. Trước hết, cả hai đều lựa chọn lối sống xa rời danh lợi, tìm về với thiên nhiên để giữ gìn nhân cách thanh cao. Thiên nhiên trong hai bài thơ đều trở thành không gian sống lý tưởng, giúp con người tìm thấy sự bình yên và thanh thản trong tâm hồn. Đồng thời, cả hai tác giả đều thể hiện thái độ coi thường danh lợi và đề cao giá trị của đời sống tinh thần.

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tương đồng, hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ cũng có những nét khác biệt rõ rệt. Người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ ung dung, lạc quan và chủ động lựa chọn cuộc sống nhàn. Ông tìm thấy niềm vui trong lao động và sinh hoạt hằng ngày, thể hiện thái độ sống tích cực và bình thản. Trong khi đó, người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Khuyến lại mang tâm trạng trầm lắng, có phần cô đơn và suy tư. Cảnh vật thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến nhuốm màu tâm trạng, thể hiện nỗi buồn trước thời cuộc và sự bất lực trước thực tại.

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ đều mang vẻ đẹp của nhân cách cao quý và tâm hồn thanh sạch. Qua đó, các tác giả đã thể hiện quan niệm sống đề cao sự thanh cao, giản dị và hòa hợp với thiên nhiên. Đồng thời, hai tác phẩm cũng góp phần làm phong phú thêm hình tượng người ẩn sĩ trong văn học trung đại Việt Nam.

Nhìn chung, hai bài thơ không chỉ thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn khắc họa sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của con người. Hình tượng người ẩn sĩ qua thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đã để lại những giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về lối sống và nhân cách của các nhà nho xưa. Qua đó, ta càng thêm trân trọng những giá trị tinh thần cao đẹp mà cha ông đã để lại cho nền văn học dân tộc.

31 tháng 3


Câu 1

Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề cấp thiết nhất của nhân loại hiện nay. Môi trường không chỉ là không gian sống mà còn là điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người. Khi môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên bị cạn kiệt, con người không chỉ đối mặt với những hậu quả về sức khỏe mà còn chịu những tổn thương sâu sắc về tinh thần, như hiện tượng “tiếc thương sinh thái” đã chỉ ra. Thiên nhiên bị tàn phá đồng nghĩa với việc những giá trị quen thuộc, gắn bó trong đời sống cũng dần biến mất, khiến con người rơi vào trạng thái lo âu, mất mát. Vì vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân. Mỗi người cần bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh, nâng cao ý thức giữ gìn môi trường sống. Đồng thời, xã hội cần có những chính sách và biện pháp mạnh mẽ hơn để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Chỉ khi con người biết trân trọng và bảo vệ thiên nhiên, chúng ta mới có thể xây dựng một tương lai bền vững.





Câu 2

Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là một vẻ đẹp đặc sắc, thể hiện quan niệm sống và nhân cách của các nhà nho trước thời cuộc. Qua hai bài thơ của Nguyễn Bỉnh KhiêmNguyễn Khuyến, hình ảnh người ẩn sĩ hiện lên vừa có những điểm tương đồng, vừa mang những nét riêng biệt sâu sắc.


Trước hết, ở bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm, người ẩn sĩ hiện lên với lối sống thanh đạm, hòa hợp với thiên nhiên. Những hình ảnh “một mai, một cuốc, một cần câu” gợi nên cuộc sống lao động giản dị, tự cung tự cấp. Nhà thơ chủ động lựa chọn lối sống “ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ”, đối lập với “người khôn” nơi “chốn lao xao”. Đó không phải là sự trốn tránh mà là cách giữ gìn nhân cách, tránh xa danh lợi tầm thường. Cuộc sống của ông gắn bó với thiên nhiên: “thu ăn măng trúc, đông ăn giá”, “xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Nhịp sống thuận theo tự nhiên, ung dung, tự tại. Đặc biệt, thái độ coi nhẹ phú quý “nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” thể hiện rõ triết lí sống an nhiên, thoát tục của người ẩn sĩ. Ở đây, ẩn dật là một lựa chọn tích cực, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của một bậc hiền triết.


Trong khi đó, ở bài thơ của Nguyễn Khuyến, hình tượng người ẩn sĩ lại mang màu sắc khác. Bức tranh thiên nhiên hiện lên trong trẻo, tĩnh lặng với “trời thu xanh ngắt”, “nước biếc”, “song thưa”, “bóng trăng”. Không gian ấy vừa đẹp, vừa gợi cảm giác cô tịch. Người ẩn sĩ ở đây không hoàn toàn thanh thản mà ẩn chứa nỗi niềm tâm sự. Âm thanh “một tiếng trên không” càng làm nổi bật sự vắng lặng và gợi nỗi buồn man mác. Đặc biệt, câu thơ “nhân hứng cũng vừa toan cất bút / nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” cho thấy tâm trạng day dứt, tự vấn. Nhà thơ muốn sống ẩn dật nhưng vẫn còn nặng lòng với thời cuộc, chưa đạt đến sự thanh thản tuyệt đối. Như vậy, ẩn sĩ ở Nguyễn Khuyến mang vẻ đẹp của một tâm hồn nhạy cảm, nhưng cũng chất chứa nỗi buồn thời thế.


So sánh hai hình tượng, có thể thấy điểm chung là cả hai đều hướng tới lối sống hòa hợp với thiên nhiên, tránh xa danh lợi, đề cao sự thanh cao trong tâm hồn. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở thái độ và trạng thái tinh thần. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự chủ động, ung dung, triết lí sống rõ ràng thì Nguyễn Khuyến lại bộc lộ sự trăn trở, chưa hoàn toàn dứt bỏ. Sự khác biệt này bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử và tâm thế cá nhân: một bên là bậc hiền triết chủ động “ở ẩn”, một bên là nhà nho yêu nước bất lực trước thời cuộc.


Qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên đa dạng, phong phú. Dù ở trạng thái ung dung hay trăn trở, họ đều thể hiện nhân cách cao đẹp, lòng tự trọng và khát vọng giữ gìn giá trị tinh thần trước những biến động của xã hội. Điều đó làm nên sức sống lâu bền của hình tượng người ẩn sĩ trong văn học Việt Nam.


31 tháng 3

✅ *Câu 1: Phương thức biểu đạt chính*

Biểu cảm, kết hợp nghị luận.


✅ *Câu 2: Thể thơ*

Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.


✅ *Câu 3: Biện pháp tu từ*

Phép đối: "đông hàn" vs "xuân noãn", "tiêu tụy" vs "huy hoàng". Nhấn mạnh quy luật: có gian khổ mới có thành công ¹.


✅ *Câu 4: Ý nghĩa của "tai ương"*

Tai ương là thử thách rèn luyện con người, giúp tinh thần vững vàng, hăng hái.


✅ *Câu 5: Bài học ý nghĩa*

Cần có thái độ sống tích cực, kiên cường trước khó khăn, xem thử thách là cơ hội rèn luyện bản thân ¹.

1 tháng 4

Văn bản của tác giả Nguyễn Bình đã mở ra một góc nhìn đầy nhân văn và mới mẻ về biến đổi khí hậu khi tiếp cận dưới lăng kính tâm lý học thông qua khái niệm "tiếc thương sinh thái" (ecological grief). Đây không đơn thuần là sự biến đổi của thời tiết mà là nỗi đau khổ hiện sinh sâu sắc trước những mất mát về hệ sinh thái đã, đang và sẽ xảy ra. Với trình tự triển khai chặt chẽ từ những dẫn chứng cụ thể tại các điểm nóng khí hậu như Bắc Canada, Australia hay vùng Amazon cháy rực, tác giả đã khéo léo mở rộng phạm vi ra toàn cầu, chạm đến nỗi lo âu của 10.000 trẻ em và thanh thiếu niên trên khắp thế giới. Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa định nghĩa khoa học của Cunsolo, Ellis và những con số thống kê thực tế đầy sức nặng, bài viết đã chứng minh rằng thiên nhiên không phải là một thực thể tách rời; khi môi trường bị hủy hoại, căn tính văn hóa và sức khỏe tâm thần của con người cũng bị tổn thương nghiêm trọng. Thông điệp sâu sắc nhất đọng lại chính là lời cảnh báo về sự kết nối vô hình nhưng bền chặt giữa con người và Trái Đất: bảo vệ hành tinh xanh giờ đây không chỉ là cứu lấy môi trường lý tính, mà còn là cứu chuộc những tâm hồn đang rơi vào khủng hoảng trước ngưỡng cửa tận thế.


Câu 1

Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề cấp thiết nhất hiện nay, bởi môi trường chính là nền tảng cho sự sống của con người và mọi sinh vật trên Trái Đất. Khi môi trường bị ô nhiễm, không khí trở nên độc hại, nguồn nước bị suy giảm, đất đai cằn cỗi, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của chúng ta. Thực tế cho thấy, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh ngày càng gia tăng phần lớn đều bắt nguồn từ sự khai thác và tàn phá thiên nhiên của con người. Vì vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức mà còn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân. Những hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh hay hạn chế sử dụng túi nilon đều góp phần tạo nên sự thay đổi lớn. Đặc biệt, đối với học sinh, việc nâng cao ý thức và lan tỏa thông điệp bảo vệ môi trường là vô cùng quan trọng. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên thì cuộc sống mới thực sự bền vững và tốt đẹp.

Câu 2

Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, thoát tục, thể hiện quan niệm sống của những trí thức trước thời cuộc. Qua hai đoạn thơ trong bài “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ của Nguyễn Khuyến**, người đọc có thể thấy được những nét tương đồng nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt trong cách cảm nhận và thể hiện vẻ đẹp của người ẩn sĩ. Trước hết, ở bài “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc họa hình ảnh người ẩn sĩ với lối sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên. Những hình ảnh “một mai, một cuốc, một cần câu” gợi lên cuộc sống lao động bình dị, tự cung tự cấp. Ông tìm thấy niềm vui trong sự thanh nhàn, tránh xa chốn “lao xao” của danh lợi. Quan niệm sống của ông thể hiện rõ qua câu “ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / người khôn, người đến chốn lao xao”. Thực chất, cái “dại” ấy lại là sự tỉnh táo, là cách lựa chọn lối sống cao đẹp, giữ gìn nhân cách. Người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với tâm thế ung dung, tự tại, sống thuận theo tự nhiên, coi nhẹ vật chất và danh vọng. Trong khi đó, thơ của Nguyễn Khuyến cũng vẽ nên hình ảnh người ẩn sĩ nhưng mang màu sắc trữ tình và sâu lắng hơn. Thiên nhiên trong thơ ông hiện lên thanh bình, trong trẻo với “trời thu xanh ngắt”, “cần trúc lơ phơ”, “nước biếc trông như tầng khói phủ”. Không gian ấy gợi cảm giác yên tĩnh, nhưng đồng thời cũng phảng phất nỗi cô đơn, man mác buồn. Người ẩn sĩ ở đây không chỉ tìm về thiên nhiên để lánh đời mà còn mang trong lòng những tâm sự, suy tư. Câu hỏi “một tiếng trên không ngẩn ngơ nào?” như một nỗi bâng khuâng trước cuộc đời. Đặc biệt, hai câu cuối “nhàn hứng cũng vừa toan cất bút / nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” cho thấy tâm trạng tự vấn, khiêm nhường của tác giả, đồng thời thể hiện lý tưởng sống cao đẹp nhưng cũng đầy trăn trở. Điểm giống nhau giữa hai hình tượng là đều đề cao lối sống thanh cao, hòa mình với thiên nhiên, tránh xa danh lợi. Cả hai nhà thơ đều tìm thấy giá trị sống trong sự giản dị, yên bình. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở sắc thái cảm xúc. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự dứt khoát, ung dung, mang tính triết lí rõ ràng thì Nguyễn Khuyến lại thiên về cảm xúc, với nỗi buồn nhẹ nhàng, kín đáo. Người ẩn sĩ của Nguyễn Bỉnh Khiêm là biểu tượng của sự chủ động lựa chọn, còn ở Nguyễn Khuyến lại mang dáng dấp của một con người vừa ẩn dật vừa day dứt với cuộc đời. Như vậy, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên vừa quen thuộc vừa đa dạng. Dù khác nhau về sắc thái biểu đạt, cả hai đều góp phần làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của người trí thức xưa: sống thanh cao, giữ gìn khí tiết và hướng tới sự hài hòa với thiên nhiên. Điều đó không chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh lịch sử mà còn gợi cho con người hôm nay những suy ngẫm sâu sắc về cách sống và giá trị của bản thân.

2 tháng 4

Câu 1:

Yêu thương vạn vật không chỉ là một đức tính tốt đẹp mà còn là sợi dây kết nối cốt lõi để duy trì sự sống bền vững trên hành tinh này. Vạn vật quanh ta, từ ngọn cỏ, dòng sông đến những sinh linh bé nhỏ, đều là một phần của hệ sinh thái mà con người là một thành tố. Khi chúng ta biết yêu thương vạn vật, tâm hồn ta trở nên rộng mở, bao dung và giàu lòng trắc ẩn hơn. Sự yêu thương ấy giúp ngăn chặn những hành động tàn phá thiên nhiên vô tội vạ và hình thành lối sống trách nhiệm. Ngược lại, nếu chỉ sống với cái tôi vị kỷ và sự vô cảm, con người sẽ dần cô độc và tự hủy hoại môi trường sống của chính mình. Đúng như Chu Văn Sơn đã gợi ý, đôi khi ta cần những "vết gai đâm" để thức tỉnh lòng nhân ái. Biết yêu thương và nâng niu từng mầm sống nhỏ nhoi chính là biểu hiện cao nhất của một nhân cách văn minh và nhân hậu.


Câu 2:

Kinh Bắc từ lâu đã đi vào tâm thức người Việt như một vùng đất của những giá trị văn hóa lâu đời, của những điệu quan họ mượt mà và những làng nghề truyền thống. Thế nhưng, khi gót giày viễn chinh xâm lược tràn đến, vùng quê ấy đã phải trải qua những cơn sang chấn đau thương. Trong bài thơ "Bên kia sông Đuống", Hoàng Cầm đã tái hiện một cách xúc động và ám ảnh sự biến đổi tàn khốc của quê hương qua hai bức tranh đối lập: quá khứ thanh bình và hiện tại tan tác. ​Mở đầu đoạn trích, tác giả đưa người đọc trở về với một Kinh Bắc trong hoài niệm – một vùng quê trù phú, giàu bản sắc và tràn đầy sức sống. Hình ảnh "lúa nếp thơm nồng" gợi lên một cuộc sống no ấm, thanh bình, nơi hơi thở của đất trời hòa quyện vào thành quả lao động của con người. Không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp vật chất, Kinh Bắc còn là cái nôi của nghệ thuật dân gian với "Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong". Những bức tranh dân gian mộc mạc, giản dị nhưng chứa đựng cả một kho tàng văn hóa dân tộc. Cụm từ "màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp" là một sự khẳng định đầy tự hào về sức sống mãnh liệt, rực rỡ của hồn cốt quê hương. Ở đó, cái đẹp và sự sống luôn hiện hữu, lấp lánh và đầy hy vọng trong ánh sáng của truyền thống. ​Thế nhưng, bức tranh tươi sáng ấy bỗng chốc bị xé toạc bởi sự xuất hiện của kẻ thù. Chiến tranh ập đến như một cơn ác mộng làm thay đổi hoàn toàn diện mạo và nhịp sống của vùng quê này: "Quê hương ta từ ngày khủng khiếp / Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn". Tác giả sử dụng những hình ảnh tương phản mạnh mẽ để cực tả tội ác của giặc. Từ cái "thơm nồng" của lúa nếp giờ chỉ còn lại "ruộng ta khô", "nhà ta cháy". Những từ ngữ chỉ sự tàn phá như "khô", "cháy", "hung tàn" tạo nên một không gian nghẹt thở, đầy u uất và chết chóc. ​Sự biến đổi tàn khốc nhất không chỉ nằm ở những mất mát về vật chất mà còn là sự giày xéo lên những giá trị tinh thần. Hình ảnh "Chó ngộ một đàn / Lưỡi dài lê sắc máu" là một ẩn dụ đầy ghê rợn về sự hung bạo, mất nhân tính của quân xâm lược. Chúng đi đến đâu, sự sống bị triệt tiêu đến đó. Đau xót hơn cả là hình ảnh "Mẹ con đàn lợn âm dương / Chia lìa trăm ngả". Hình ảnh đàn lợn trong tranh Đông Hồ vốn là biểu tượng của sự sinh sôi nảy nở, của hạnh phúc sum vầy, nay lại trở thành nạn nhân của chiến tranh. Sự "chia lìa" ấy không chỉ là sự tan rã của một gia đình mà còn là sự tan nát của một vùng văn hóa, của những giấc mơ bình dị. Ngay cả một lễ hội tưng bừng như "Đám cưới chuột" cũng trở nên lạc lõng, tan tác dưới bóng tối của kẻ thù. ​Câu hỏi tu từ kết thúc đoạn thơ: "Bây giờ tan tác về đâu?" vang lên như một tiếng nấc nghẹn ngào. Nó không chỉ là câu hỏi về số phận của những con người cụ thể, mà còn là nỗi băn khoăn về tương lai của một vùng văn hóa đang bị chà đạp. Nhịp thơ từ hào hứng, tự hào ở những câu đầu bỗng chuyển sang dồn dập, đau đớn rồi đọng lại ở một nỗi xót xa vô hạn. ​Tóm lại, qua đoạn trích, Hoàng Cầm đã sử dụng thành công nghệ thuật đối lập và những hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi để tái hiện một chương bi kịch của quê hương Kinh Bắc. Sự biến đổi từ một vùng quê "tươi trong", "sáng bừng" thành một nơi "tan tác", "hung tàn" đã khơi gợi trong lòng người đọc niềm căm thù giặc sâu sắc, đồng thời bồi đắp tình yêu thương và trách nhiệm bảo vệ những giá trị văn hóa cao đẹp của dân tộc. Bài thơ mãi là một minh chứng đau thương nhưng hào hùng về một vùng quê không bao giờ chịu khuất phục trước bạo tàn.

Đề này tập trung vào vấn đề nóng hổi về môi trường và vẻ đẹp tâm hồn của các bậc tiền nhân. Dưới đây là gợi ý giải chi tiết cho bạn:

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (TIẾC THƯƠNG SINH THÁI)

Câu 1: Theo bài viết, "tiếc thương sinh thái" (ecological grief) là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước (ví dụ: sự biến mất của loài vật, thay đổi cảnh quan...).

Câu 2: Bài viết trình bày thông tin theo trình tự từ khái quát đến cụ thể và từ trực tiếp đến gián tiếp:

* Bắt đầu bằng việc nêu hiện tượng thực tế năm 2022.

* Đưa ra định nghĩa khoa học (2018).

* Dẫn chứng cụ thể ở các cộng đồng "tiền tuyến" (Inuit, nông dân Australia, bộ tộc ở Amazon).

* Mở rộng ra sức ảnh hưởng đến cộng đồng "hậu phương" (trẻ em và thanh thiếu niên trên toàn cầu).

Câu 3: Tác giả sử dụng các bằng chứng:

* Bằng chứng khoa học: Định nghĩa của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis.

* Bằng chứng thực tế/nhân chứng: Tiếng lòng của người Inuit, các bộ tộc Tenharim, Guató, Guarani ở Brazil.

* Bằng chứng số liệu: Cuộc thăm dò năm 2021 của Caroline Hickman trên 10.000 trẻ em tại 10 quốc gia (với các con số cụ thể 59%, 45%).

Câu 4: Nhận xét cách tiếp cận: Cách tiếp cận của tác giả rất nhân văn và sâu sắc. Thay vì chỉ nhìn biến đổi khí hậu qua những con số khô khan về nhiệt độ hay mực nước biển, tác giả nhìn nhận nó như một vấn đề sức khỏe tâm thần và tâm linh. Cách tiếp cận này giúp người đọc thấu hiểu nỗi đau của những người gắn bó với thiên nhiên và nhận ra hệ lụy tâm lý khủng khiếp mà nhân loại đang phải đối mặt.

Câu 5: Thông điệp sâu sắc nhất: Biến đổi khí hậu không chỉ hủy hoại môi trường vật chất mà còn đang tàn phá thế giới nội tâm và bản sắc văn hóa của con người. Từ đó, thức tỉnh chúng ta cần hành động không chỉ để cứu lấy Trái Đất mà còn để bảo vệ sức khỏe tâm thần và tương lai của chính giống loài mình.

II. PHẦN VIẾT

Câu 1: Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường (Khoảng 200 chữ)

Bảo vệ môi trường không còn là một khẩu hiệu xa vời mà đã trở thành vấn đề sống còn của nhân loại. Như văn bản đọc hiểu đã chỉ ra, môi trường là "ngôi nhà" nuôi dưỡng cả thể chất lẫn tâm hồn con người. Khi thiên nhiên bị hủy hoại, chúng ta không chỉ đối mặt với thiên tai, dịch bệnh mà còn rơi vào trạng thái "tiếc thương sinh thái" – sự khủng hoảng về tâm lý và niềm tin. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ nguồn sống: từ không khí để thở, nước để uống đến những giá trị văn hóa gắn liền với đất đai, rừng rậm. Một hành động nhỏ hôm nay như giảm rác thải nhựa hay trồng thêm một cây xanh cũng góp phần xoa dịu "nỗi đau" của Trái Đất. Chúng ta cần hiểu rằng, cứu thiên nhiên cũng chính là đang tự cứu lấy bản thân và đảm bảo một tương lai bền vững cho thế hệ mai sau.

Câu 2: So sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ qua "Nhàn" và "Thu vịnh" (Khoảng 600 chữ)

Mở bài:

* Giới thiệu về đề tài ở ẩn trong văn học trung đại Việt Nam.

* Dẫn dắt vào hai bài thơ: "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến để thấy được vẻ đẹp của hình tượng người ẩn sĩ.

Thân bài:

1. Hình tượng người ẩn sĩ trong "Nhàn" (Nguyễn Bỉnh Khiêm):

* Lối sống: Thuần hậu, giản dị, hòa mình vào thiên nhiên với các công việc lao động bình thường (mai, cuốc, cần câu). Ăn những món ăn dân dã theo mùa (măng trúc, giá), tắm hồ sen, tắm ao.

* Triết lý sống: "Dại" mà "khôn". Ông chọn cách rời xa chốn quyền quý ("lợi danh") để giữ gìn nhân cách thanh cao.

* Thái độ: Ung dung, tự tại, xem phú quý như một giấc chiêm bao. Đây là hình tượng người ẩn sĩ đắc đạo, lạc quan và hoàn toàn thoát tục.

2. Hình tượng người ẩn sĩ trong "Thu vịnh" (Nguyễn Khuyến):

* Vẻ đẹp tâm hồn: Nhạy cảm và gắn bó sâu sắc với thiên nhiên làng quê Bắc Bộ (trời xanh ngắt, cần trúc, nước biếc).

* Nỗi lòng ẩn sĩ: Khác với sự an nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ẩn sĩ Nguyễn Khuyến mang tâm trạng u uất, trăn trở. Cái "thẹn" với ông Đào (Đào Tiềm) cho thấy ông vẫn chưa thực sự dứt bỏ được nỗi lo cho dân, cho nước dù đã về vườn.

* Thái độ: U buồn, thâm trầm, mang nặng suy tư về thời thế.

3. So sánh và đánh giá:

* Điểm chung: Cả hai đều chọn cách rời xa chốn quan trường để giữ gìn khí tiết, đều yêu thiên nhiên tha thiết và chọn lối sống thanh cao, giản dị.

* Điểm khác biệt: * Ẩn sĩ của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang cốt cách của một bậc tiên phong đạo cốt, đã vượt lên trên mọi buồn vui thế tục.

* Ẩn sĩ của Nguyễn Khuyến mang dáng dấp của một nhà nho nặng lòng với nước, ở ẩn nhưng tâm không yên, đầy tự trọng và ray rứt.

Kết bài:

* Khẳng định giá trị của hai hình tượng: Tuy khác nhau về tâm thế nhưng cả hai đều là những biểu tượng đẹp về nhân cách của nhà nho Việt Nam.

* Liên hệ: Vẻ đẹp ấy vẫn luôn là bài học quý giá về cách sống thanh cao cho thế hệ trẻ hôm nay.


2 tháng 4

Câu 1 (Phân tích): Tập trung vào tinh thần lạc quan cách mạng. Bác dùng quy luật thiên nhiên (đông qua xuân tới) để nói về quy luật lịch sử và đời người. Sự rèn luyện trong gian khổ chính là chìa khóa của thành công.

Câu 2 (Nghị luận về thử thách): Khẳng định thử thách là một phần tất yếu của cuộc sống. Nó giúp con người trưởng thành, khám phá những năng lực tiềm ẩn. (Dẫn chứng: Những tấm gương vượt khó, hoặc chính hành trình ôn thi đầy nỗ lực của các bạn học sinh hiện nay).


4 tháng 4

Câu 1


Môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống của con người và muôn loài. Đó là nơi cung cấp không khí để thở, nước để uống, đất đai để sinh sống và phát triển. Tuy nhiên, hiện nay môi trường đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do ý thức con người chưa cao: xả rác bừa bãi, chặt phá rừng, khai thác tài nguyên quá mức,… Điều này dẫn đến nhiều hậu quả nặng nề như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh. Vì vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của riêng ai mà là nghĩa vụ chung của toàn xã hội. Mỗi người cần bắt đầu từ những việc nhỏ như tiết kiệm điện nước, hạn chế sử dụng túi nilon, trồng cây xanh, giữ gìn vệ sinh nơi ở. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có những biện pháp nghiêm khắc để xử lý các hành vi gây hại đến môi trường. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta hôm nay và cả thế hệ mai sau.



Câu 2


Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, xa lánh danh lợi. Qua hai bài thơ của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến, hình ảnh ấy hiện lên vừa có điểm tương đồng, vừa mang những nét riêng sâu sắc.


Trước hết, ở bài “Nhàn” của Nguyễn Trãi, người ẩn sĩ hiện lên với một lối sống giản dị, ung dung và tự tại. Những hình ảnh “một mai, một cuốc, một cần câu” gợi cuộc sống lao động bình dị, hòa mình với thiên nhiên. Ông chủ động lựa chọn “nơi vắng vẻ”, tránh xa “chốn lao xao” đầy bon chen, danh lợi. Quan niệm sống của ông thể hiện rõ sự coi nhẹ phú quý: “nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Như vậy, người ẩn sĩ ở đây là người chủ động tìm đến sự thanh nhàn, giữ gìn nhân cách cao đẹp.


Trong khi đó, ở bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng ẩn sĩ lại mang sắc thái trầm lắng, suy tư hơn. Bức tranh thiên nhiên mùa thu hiện lên với vẻ đẹp thanh sơ, tĩnh lặng: trời xanh, nước biếc, gió hiu hắt,… Tất cả đều gợi một không gian yên ắng, cô tịch. Ẩn sau cảnh vật ấy là tâm trạng của con người – một nỗi buồn man mác, cảm giác cô đơn, lạc lõng trước thời cuộc. Nếu Nguyễn Trãi tìm thấy niềm vui trong cuộc sống nhàn, thì Nguyễn Khuyến lại mang nỗi niềm u hoài, bất lực trước xã hội.


Tuy có những khác biệt, cả hai nhà thơ đều gặp nhau ở lí tưởng sống cao đẹp của người ẩn sĩ. Đó là lối sống hòa hợp với thiên nhiên, giữ gìn cốt cách thanh cao, không chạy theo danh lợi tầm thường. Họ đều thể hiện thái độ phê phán xã hội đương thời đầy biến động và suy thoái. Đồng thời, qua đó, ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn của các bậc trí thức xưa: yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống giản dị và luôn hướng đến những giá trị bền vững.


Tóm lại, hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ vừa có sự tương đồng về lí tưởng sống, vừa khác biệt ở sắc thái cảm xúc. Điều đó không chỉ làm phong phú thêm hình ảnh người trí thức trong văn học trung đại mà còn giúp người đọc hôm nay hiểu hơn về nhân cách và tâm hồn của các nhà thơ lớn.

5 tháng 4

Câu 1

Bảo vệ môi trường là vấn đề vô cùng quan trọng trong cuộc sống hiện nay. Môi trường không chỉ cung cấp những điều kiện sống thiết yếu như không khí, nước, lương thực mà còn gắn bó sâu sắc với đời sống tinh thần của con người. Khi môi trường bị tàn phá, con người không chỉ chịu thiệt hại về vật chất mà còn rơi vào trạng thái “tiếc thương sinh thái” . nỗi đau tinh thần trước sự mất mát của thiên nhiên. Điều đó cho thấy con người và môi trường có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, mỗi người cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường bằng những hành động thiết thực như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải, trồng cây xanh. Đồng thời, xã hội cần hướng tới phát triển bền vững. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống và tương lai của chính chúng ta.

Câu 2

Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là biểu tượng cho lối sống thanh cao, tránh xa danh lợi để giữ gìn nhân cách. Điều này được thể hiện rõ qua bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến.

Ở bài thơ Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa người ẩn sĩ với cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên. Hình ảnh “Một mai, một cuốc, một cần câu” gợi cuộc sống lao động bình dị. Điệp từ “một” nhấn mạnh sự đơn sơ nhưng đầy đủ, thể hiện sự ung dung, tự tại. Quan niệm sống của ông thể hiện rõ qua câu: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ .Người khôn, người đến chốn lao xao”. Đây là cách nói ngược nhằm khẳng định lối sống tránh xa danh lợi mới là lựa chọn sáng suốt. Cuộc sống bốn mùa gắn với thiên nhiên: “Thu ăn măng trúc, đông ăn Giá xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” càng cho thấy sự hòa hợp tuyệt đối với tự nhiên. Đặc biệt, câu “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” thể hiện triết lí sống sâu sắc: danh lợi chỉ là phù du. Người ẩn sĩ hiện lên với vẻ thanh thản, bản lĩnh và trí tuệ.

Trong khi đó, Nguyễn Khuyến cũng xây dựng hình tượng người ẩn sĩ nhưng mang màu sắc trữ tình, tâm trạng. Bức tranh thiên nhiên hiện lên với “trời thu xanh ngắt”, “nước biếc”, “bóng trăng”, tạo cảm giác trong trẻo nhưng hiu quạnh. Hình ảnh “song thưa để mặc bóng trăng vào” cho thấy sự hòa hợp với thiên nhiên nhưng cũng gợi sự cô đơn. Câu hỏi “Một tiếng trên không ngỗng nước nào?” thể hiện nỗi bâng khuâng, trăn trở. Đặc biệt, câu “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” cho thấy sự tự vấn, chưa đạt tới sự thanh cao tuyệt đối. Người ẩn sĩ ở đây vẫn mang nặng tâm sự với cuộc đời.

So sánh hai hình tượng, ta thấy điểm chung là đều hướng tới lối sống ẩn dật, hòa mình với thiên nhiên và coi thường danh lợi. Tuy nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự dứt khoát, mang tính triết lí rõ ràng, còn Nguyễn Khuyến lại thiên về cảm xúc, có phần u hoài, day dứt.

Tóm lại, hai bài thơ đã khắc họa hình tượng người ẩn sĩ với những nét đẹp riêng, thể hiện nhân cách thanh cao của con người Việt Nam xưa, đồng thời gửi gắm những bài học sâu sắc cho cuộc sống hôm nay.

Câu 1 Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề cấp thiết nhất của nhân loại hiện nay. Môi trường không chỉ là không gian sống mà còn là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của con người. Khi môi trường bị tàn phá, con người không chỉ đối mặt với thiên tai, dịch bệnh mà còn phải chịu những tổn thương về tinh thần, như hiện tượng “tiếc thương sinh thái” đã cho thấy. Thực tế hiện nay, biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí, nguồn nước và sự suy giảm đa dạng sinh học đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Nếu không có những hành động kịp thời, con người sẽ phải trả giá đắt cho chính sự thờ ơ của mình. Vì vậy, mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường thông qua những việc làm cụ thể như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh và tuyên truyền cho cộng đồng. Bảo vệ môi trường không phải là trách nhiệm của riêng ai mà là nghĩa vụ chung của toàn xã hội, bởi đó chính là bảo vệ tương lai của chính chúng ta.

Câu 2 Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là biểu tượng cho lối sống thanh cao, thoát tục, tránh xa danh lợi. Qua hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình ảnh này hiện lên vừa có điểm tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt. Trước hết, ở cả hai tác giả, người ẩn sĩ đều lựa chọn lối sống hòa mình với thiên nhiên, rời xa chốn quan trường đầy bon chen. Trong bài “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với hình ảnh giản dị: “Một mai, một cuốc, một cần câu”. Cuộc sống của ông gắn liền với lao động nhẹ nhàng, tự cung tự cấp và thư thái. Ông chủ động tìm “nơi vắng vẻ”, đối lập với “chốn lao xao” của danh lợi. Tương tự, trong bài thơ của Nguyễn Khuyến, khung cảnh thiên nhiên mùa thu hiện lên tĩnh lặng, trong trẻo với “trời thu xanh ngắt”, “nước biếc”, “song thưa”. Không gian ấy phản ánh tâm hồn thanh tĩnh, xa rời bụi trần của nhà thơ. Tuy nhiên, giữa hai hình tượng ẩn sĩ vẫn có những điểm khác biệt rõ nét. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, sự “nhàn” mang tính chủ động, thể hiện triết lí sống rõ ràng. Ông tự nhận mình là “dại” nhưng thực chất đó là cái “dại khôn”, là sự lựa chọn tỉnh táo để tránh xa danh lợi phù phiếm. Cuộc sống của ông ung dung, tự tại: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá…”, tất cả đều toát lên vẻ thanh cao và an nhiên. Đặc biệt, câu thơ “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” thể hiện thái độ coi thường danh lợi, đạt đến sự giác ngộ sâu sắc. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, hình ảnh ẩn sĩ lại mang nhiều tâm trạng hơn. Ông không hoàn toàn thanh thản mà vẫn vương nỗi niềm trăn trở. Câu thơ “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” cho thấy sự tự ý thức về bản thân khi so sánh với Đào Tiềm – một ẩn sĩ mẫu mực của Trung Hoa. Nỗi “thẹn” ấy không phải là sự tự ti, mà là biểu hiện của nhân cách cao đẹp, luôn tự soi xét mình. Đồng thời, ẩn sau bức tranh thiên nhiên là nỗi buồn thời thế, nỗi cô đơn của một nhà nho bất lực trước hiện thực xã hội. Như vậy, nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện một lối sống ẩn dật mang tính triết lí, ung dung và dứt khoát, thì Nguyễn Khuyến lại khắc họa hình tượng ẩn sĩ với chiều sâu tâm trạng, giàu cảm xúc và suy tư. Dù khác nhau, cả hai đều gặp nhau ở điểm chung: đó là khát vọng giữ gìn nhân cách, sống thanh sạch giữa cuộc đời nhiều biến động. Tóm lại, hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ không chỉ phản ánh phong cách riêng của mỗi tác giả mà còn thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của trí thức Việt Nam xưa: luôn hướng đến lối sống cao khiết, coi nhẹ danh lợi và trân trọng sự hài hòa với thiên nhiên.

Câu 1

Bài làm

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và ô nhiễm đang trở thành mối đe dọa toàn cầu, việc bảo vệ môi trường không còn là trách nhiệm của riêng ai mà là nhiệm vụ sống còn của toàn nhân loại. Môi trường chính là "lá phổi xanh", là nguồn cung cấp dưỡng khí, nước sạch và tài nguyên thiết yếu để duy trì sự sống. Việc bảo vệ môi trường có ý nghĩa tiên quyết trong việc cân bằng hệ sinh thái, ngăn chặn các thiên tai khắc nghiệt như lũ lụt, hạn hán và dịch bệnh. Một môi trường trong lành không chỉ bảo vệ sức khỏe thể chất mà còn nuôi dưỡng sức khỏe tinh thần của con người, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy mẹ thiên nhiên đang bị tổn thương nghiêm trọng bởi rác thải nhựa và khí thải công nghiệp. Vì vậy, mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần ý thức rằng bảo vệ môi trường bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất: hạn chế sử dụng túi nilon, tiết kiệm điện nước và trồng thêm cây xanh. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ tương lai của chính chúng ta và các thế hệ mai sau. Đừng để đến khi cái cây cuối cùng bị chặt hạ, dòng sông cuối cùng bị nhiễm độc, chúng ta mới nhận ra rằng mình không thể ăn được tiền.

Câu 2 :

Bài làm

Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ luôn là một đề tài lớn, thể hiện cốt cách cao khiết của những bậc trí giả trước thời cuộc nhiễu nhương. Nếu như Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ XVI tìm về với thiên nhiên để giữ trọn vẹn sự thanh cao qua bài thơ "Nhàn", thì đến thế kỷ XIX, "Yên Đổ" Nguyễn Khuyến lại khắc họa một tâm thế ẩn sĩ đầy ưu tư, trăn trở qua "Thu vịnh". Dù cùng chọn lối sống lánh đời thoát tục, nhưng hình tượng người ẩn sĩ ở mỗi tác giả lại mang những sắc thái thẩm mỹ và nỗi niềm riêng biệt.

Điểm chung đầu tiên giữa hai vị ẩn sĩ chính là sự khước từ danh lợi để trở về với cuộc sống giản dị, giao hòa cùng tạo hóa. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là hình ảnh một lão nông tri điền với "một mai, một cuốc, một cần câu", tự cung tự cấp và tận hưởng thú vui "thơ thẩn". Với Nguyễn Khuyến, đó là sự đắm mình trong không gian mùa thu tĩnh lặng với "cần trúc lơ phơ", với "nước biếc" và "bóng trăng". Cả hai ông đều coi khinh phú quý, xem vinh hoa chỉ như một "chiêm bao" hay một sự phù phiếm cần lánh xa để bảo vệ thiên lương của chính mình.

Trong bài "Nhàn", hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp tự tại, chủ động và đầy kiêu hãnh. Nguyễn Bỉnh Khiêm chọn "nơi vắng vẻ" không phải vì trốn chạy mà là một sự lựa chọn khôn ngoan để giữ mình sạch trong giữa một xã hội "lao xao" đầy rẫy những cạm bẫy. Vẻ đẹp của ông nằm ở sự thuận theo mùa: "thu ăn măng trúc, đông ăn giá", "xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao". Đây là một cái "Nhàn" mang tầm vóc của một bậc đại ẩn, người đã thấu triệt quy luật của vũ trụ và tìm thấy hạnh phúc trong sự tối giản, thanh cao.

Ngược lại, người ẩn sĩ trong "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến lại mang vẻ đẹp trầm mặc và đượm buồn. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm hài lòng với thực tại thì Nguyễn Khuyến lại luôn "thẹn với ông Đào" (Đào Tiềm). Sự "thẹn" này xuất phát từ nỗi đau của một nhà nho yêu nước nhưng bất lực trước cảnh nước mất nhà tan. Cảnh thu tuy đẹp nhưng "gió hắt hiu", "tầng khói phủ" gợi lên sự u uẩn. Hình tượng ẩn sĩ ở đây không hoàn toàn thanh thản mà luôn canh cánh nỗi lòng thời thế, cho thấy một nhân cách lớn đang tự dằn vặt vì chưa tròn đạo nghĩa với dân với nước.

Bút pháp nghệ thuật của hai nhà thơ cũng góp phần làm nên sự khác biệt cho hình tượng người ẩn sĩ. Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng lối nói ngụ ý, điệp cấu trúc và các hình ảnh dân dã để khẳng định một triết lý sống vững vàng, ít biểu lộ cảm xúc cá nhân trực tiếp. Trong khi đó, Nguyễn Khuyến lại sử dụng bút pháp gợi tả tinh tế, lấy cái tĩnh để nói cái động của tâm hồn. Những màu sắc "xanh ngắt", "nước biếc" và âm thanh "tiếng ngỗng" của ông mang đậm tính chủ thể, phản chiếu một tâm hồn nhạy cảm, đa sầu đa cảm của một ẩn sĩ làng quê.

Nhìn chung, cả hai hình tượng đều đại diện cho vẻ đẹp của trí thức phong kiến khi "độc thiện kỳ thân" (giữ mình tốt đẹp khi một mình). Nguyễn Bỉnh Khiêm cho ta bài học về sự tự tại, trí tuệ vượt thoát khỏi danh lợi. Nguyễn Khuyến lại cho ta thấy sự cao thượng của một tâm hồn biết tự trọng và luôn đau đáu với vận mệnh quốc gia. Dù ở vị thế nào, hình tượng người ẩn sĩ của hai ông vẫn tỏa sáng như những tấm gương về nhân cách sáng trong, không bị bụi trần làm mờ đục.

Tóm lại, qua bài thơ "Nhàn" và "Thu vịnh", chúng ta thấy được hai chân dung ẩn sĩ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đến một bức tranh sống động về sự an nhiên, tự tại giữa điền viên, thì Nguyễn Khuyến lại để lại một nốt trầm sâu lắng về nỗi niềm ưu thời mẫn thế. Cả hai bài thơ không chỉ ghi lại vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn là nơi lưu giữ cốt cách cao đẹp của những con người luôn chọn đứng về phía lẽ phải và sự thanh cao.

9 tháng 4

Câu 1: mà là mệnh lệnh sinh tồn của nhân loại. Môi trường tự nhiên trong lành chính là chiếc nôi duy trì sự sống, cung cấp không khí, nước uống và nguồn tài nguyên thiết yếu cho con người. Khi môi trường bị hủy hoại bởi ô nhiễm, chất lượng cuộc sống suy giảm, bệnh tật gia tăng, và các thảm họa thiên nhiên trở nên khốc liệt hơn, như việc rác thải nhựa đang đe dọa cả hệ sinh thái biển và đất liền. Vì lẽ đó, việc bảo vệ môi trường mang tầm quan trọng tối thượng, quyết định tương lai của chính chúng ta. Trách nhiệm này không của riêng ai mà đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội. Mỗi người cần thay đổi hành vi, từ những việc nhỏ nhất như tiết kiệm điện nước, hạn chế sử dụng đồ nhựa dùng một lần, đến việc tham gia các hoạt động dọn dẹp và tuyên truyền. Chỉ khi ý thức được môi trường là tài sản quý giá nhất, chúng ta mới có thể kiến tạo một tương lai bền vững và tươi đẹp cho các thế hệ mai sau.

Câu 2: Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ luôn giữ một vị trí đặc biệt, phản ánh tâm hồn thanh cao, lý tưởng nhân sinh của các nhà thơ tài danh. Hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và đoạn thơ thu trong tác phẩm của Nguyễn Khuyến đã khắc họa hai hình ảnh ẩn sĩ riêng biệt nhưng cùng mang vẻ đẹp của đời sống yên bình, thoát tục. Qua đó, ta có thể thấy được cái nhìn đa chiều về người trí thức chọn lánh đời để tìm thú vui an nhàn và ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống ẩn dật.


Trước hết, người ẩn sĩ trong bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện thái độ dứt khoát với chốn quan trường phồn tạp và cám dỗ danh lợi. Câu thơ “Một mai, một cuốc, một cần câu, / Thơ thẩn đâu ai vui thú nào” gợi lên hình ảnh giản dị của cuộc sống nơi chốn đồng quê, với những công cụ lao động thô sơ nhưng nhẹ nhàng, thanh thản. Người ẩn sĩ tự nhận mình “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ”, khẳng định thái độ hòa mình vào thiên nhiên, tránh xa những ồn ào và cạm bẫy của xã hội. Bài thơ như một tâm sự chân thành đầy tự trào nhưng cũng rất đỗi sâu sắc về giá trị của sự “nhàn” – niềm vui sống bình dị, không bon chen. Không những thế, thái độ “Người khôn, người đến chốn lao xao” cho thấy sự phân biệt rõ ràng giữa người chạy theo danh lợi và kẻ biết an hưởng cuộc sống thanh thản, nhấn mạnh quan điểm nhân sinh cao đẹp của nhà thơ.


Ngược lại, hình tượng ẩn sĩ trong bài thơ thu của Nguyễn Khuyến lại mang nét đẹp tinh tế, hài hòa với thiên nhiên theo mùa thu thanh nhã. Cảnh “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, / Cành trúc lơ phơ gió hắt hiu” tạo nên một không gian vắng lặng, mênh mang, khiến lòng người dễ rung cảm. Người ẩn sĩ không chỉ sống biệt lập mà còn là người quan sát tinh tế thiên nhiên, “Nước biếc trông như tầng khói phủ, / Song thưa để mặc bóng trăng vào”, thể hiện một tâm hồn thảnh thơi, hòa hợp với vũ trụ. Tiếng ngỗng kêu xa xa như lời nhắn nhủ cho một cuộc đời an nhiên không bon chen. Hình ảnh “Nhàn hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” được xem như cách người thi nhân khiêm nhường, giữ gìn nét thanh cao trong tài năng và đam mê văn chương, vừa tự nhắc nhở bản thân về sự giản dị trong cuộc sống.


So sánh hai hình tượng này, ta thấy cả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều tôn vinh vẻ đẹp của sự an nhàn, của đời sống lánh đời bình yên không hổ thẹn với lương tâm. Tuy nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhấn mạnh sự “dại” để thoát khỏi chốn lao xao, thể hiện một thái độ sống độc lập, tự tại vừa hài hước, vừa triết lý. Ngược lại, Nguyễn Khuyến lại thể hiện sự hòa hợp giữa người và cảnh, lấy thiên nhiên làm bạn, với tâm hồn tinh tế và biết tự nhắc nhở mình giữ gìn phẩm cách, biết quý trọng những giá trị truyền thống. Người ẩn sĩ của Nguyễn Khuyến không chỉ rời xa thế tục mà còn sáng tạo, trăn trở với nghệ thuật và cuộc sống.


Nói tóm lại, hai bài thơ đã khắc họa thành công những bức chân dung sinh động của người ẩn sĩ Việt Nam với những góc nhìn khác biệt nhưng không kém phần sâu sắc, góp phần làm giàu thêm quan niệm triết lý về cuộc sống thanh cao, an nhiên. Qua đó, ta nhận thấy giá trị bền vững của triết lý ẩn dật trong văn hóa truyền thống dân tộc, luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho người đọc và người sáng tác hôm nay.


9 tháng 4

câu1

Môi trường là ngôi nhà chung, là nguồn sống thiết yếu của con người. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm sống còn.Cung cấp tài nguyên nước, không khí, thực phẩm, điều hòa khí hậu và che chở con người trước thiên tai.Ô nhiễm môi trường dẫn đến biến đổi khí hậu, dịch bệnh, đe dọa sự sinh tồn của mọi loàiBảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta và thế hệ mai sau. Cần bắt đầu từ những việc nhỏ: hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh, tiết kiệm năng lượng.

Câu2

Trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ luôn là biểu tượng cho nhân cách cao thượng, lánh đục tìm trong. Vẻ đẹp này được khắc họa rõ nét qua hai tác phẩm: "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và những vần thơ miêu tả cảnh thu của Nguyễn Khuyến. Dù cùng hướng tới lối sống thoát tục, hình tượng người ẩn sĩ ở mỗi nhà thơ lại mang những sắc thái riêng biệt.


9 tháng 4

Câu 1:

Từ việc tìm hiểu về hiện tượng “tiếc thương sinh thái”, tôi nhận ra rằng bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm mà còn là nhu cầu thiết yếu để bảo vệ chính sức khỏe tinh thần của con người. Biến đổi khí hậu đang gây ra những mất mát sinh thái nghiêm trọng: băng tan, rừng cháy, loài vật tuyệt chủng… Những mất mát ấy không chỉ phá hủy hệ sinh thái mà còn khiến con người rơi vào nỗi đau sâu sắc, được gọi là tiếc thương sinh thái. Nhiều cộng đồng bản địa mất đi lối sống truyền thống, trẻ em và thanh thiếu niên cảm thấy lo lắng, bất an về tương lai. Điều này chứng tỏ môi trường chính là nền tảng của đời sống vật chất và tinh thần. Vì vậy, bảo vệ môi trường là bảo vệ chính chúng ta. Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức, tham gia các hành động thiết thực như giảm thải nhựa, trồng cây xanh, tiết kiệm năng lượng. Nhà nước và cộng đồng phải chung tay thực hiện các chính sách bền vững. 

   Chỉ khi môi trường được bảo vệ, con người mới có thể sống bình an, hạnh phúc và không phải chịu những tổn thương tâm lý không đáng có. Bảo vệ môi trường hôm nay chính là đầu tư cho một tương lai bền vững cho thế hệ mai sau.

Câu 1: mà là mệnh lệnh sinh tồn của nhân loại. Môi trường tự nhiên trong lành chính là chiếc nôi duy trì sự sống, cung cấp không khí, nước uống và nguồn tài nguyên thiết yếu cho con người. Khi môi trường bị hủy hoại bởi ô nhiễm, chất lượng cuộc sống suy giảm, bệnh tật gia tăng, và các thảm họa thiên nhiên trở nên khốc liệt hơn, như việc rác thải nhựa đang đe dọa cả hệ sinh thái biển và đất liền. Vì lẽ đó, việc bảo vệ môi trường mang tầm quan trọng tối thượng, quyết định tương lai của chính chúng ta. Trách nhiệm này không của riêng ai mà đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội. Mỗi người cần thay đổi hành vi, từ những việc nhỏ nhất như tiết kiệm điện nước, hạn chế sử dụng đồ nhựa dùng một lần, đến việc tham gia các hoạt động dọn dẹp và tuyên truyền. Chỉ khi ý thức được môi trường là tài sản quý giá nhất, chúng ta mới có thể kiến tạo một tương lai bền vững và tươi đẹp cho các thế hệ mai sau.

Câu 2: Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ luôn giữ một vị trí đặc biệt, phản ánh tâm hồn thanh cao, lý tưởng nhân sinh của các nhà thơ tài danh. Hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và đoạn thơ thu trong tác phẩm của Nguyễn Khuyến đã khắc họa hai hình ảnh ẩn sĩ riêng biệt nhưng cùng mang vẻ đẹp của đời sống yên bình, thoát tục. Qua đó, ta có thể thấy được cái nhìn đa chiều về người trí thức chọn lánh đời để tìm thú vui an nhàn và ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống ẩn dật.


Trước hết, người ẩn sĩ trong bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện thái độ dứt khoát với chốn quan trường phồn tạp và cám dỗ danh lợi. Câu thơ “Một mai, một cuốc, một cần câu, / Thơ thẩn đâu ai vui thú nào” gợi lên hình ảnh giản dị của cuộc sống nơi chốn đồng quê, với những công cụ lao động thô sơ nhưng nhẹ nhàng, thanh thản. Người ẩn sĩ tự nhận mình “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ”, khẳng định thái độ hòa mình vào thiên nhiên, tránh xa những ồn ào và cạm bẫy của xã hội. Bài thơ như một tâm sự chân thành đầy tự trào nhưng cũng rất đỗi sâu sắc về giá trị của sự “nhàn” – niềm vui sống bình dị, không bon chen. Không những thế, thái độ “Người khôn, người đến chốn lao xao” cho thấy sự phân biệt rõ ràng giữa người chạy theo danh lợi và kẻ biết an hưởng cuộc sống thanh thản, nhấn mạnh quan điểm nhân sinh cao đẹp của nhà thơ.


Ngược lại, hình tượng ẩn sĩ trong bài thơ thu của Nguyễn Khuyến lại mang nét đẹp tinh tế, hài hòa với thiên nhiên theo mùa thu thanh nhã. Cảnh “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, / Cành trúc lơ phơ gió hắt hiu” tạo nên một không gian vắng lặng, mênh mang, khiến lòng người dễ rung cảm. Người ẩn sĩ không chỉ sống biệt lập mà còn là người quan sát tinh tế thiên nhiên, “Nước biếc trông như tầng khói phủ, / Song thưa để mặc bóng trăng vào”, thể hiện một tâm hồn thảnh thơi, hòa hợp với vũ trụ. Tiếng ngỗng kêu xa xa như lời nhắn nhủ cho một cuộc đời an nhiên không bon chen. Hình ảnh “Nhàn hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” được xem như cách người thi nhân khiêm nhường, giữ gìn nét thanh cao trong tài năng và đam mê văn chương, vừa tự nhắc nhở bản thân về sự giản dị trong cuộc sống.


So sánh hai hình tượng này, ta thấy cả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều tôn vinh vẻ đẹp của sự an nhàn, của đời sống lánh đời bình yên không hổ thẹn với lương tâm. Tuy nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhấn mạnh sự “dại” để thoát khỏi chốn lao xao, thể hiện một thái độ sống độc lập, tự tại vừa hài hước, vừa triết lý. Ngược lại, Nguyễn Khuyến lại thể hiện sự hòa hợp giữa người và cảnh, lấy thiên nhiên làm bạn, với tâm hồn tinh tế và biết tự nhắc nhở mình giữ gìn phẩm cách, biết quý trọng những giá trị truyền thống. Người ẩn sĩ của Nguyễn Khuyến không chỉ rời xa thế tục mà còn sáng tạo, trăn trở với nghệ thuật và cuộc sống.


Nói tóm lại, hai bài thơ đã khắc họa thành công những bức chân dung sinh động của người ẩn sĩ Việt Nam với những góc nhìn khác biệt nhưng không kém phần sâu sắc, góp phần làm giàu thêm quan niệm triết lý về cuộc sống thanh cao, an nhiên. Qua đó, ta nhận thấy giá trị bền vững của triết lý ẩn dật trong văn hóa truyền thống dân tộc, luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho người đọc và người sáng tác hôm nay.

9 tháng 4

Câu 1 : Bảo vệ môi trường không còn là lời kêu gọi xa vời mà đã trở thành nhiệm vụ sống còn của mỗi cá nhân. Môi trường chính là "lá phổi xanh", cung cấp nguồn sống thiết yếu như không khí, nước và thực phẩm. Khi chúng ta bảo vệ môi trường, thực chất là đang bảo vệ chính sự sống và sức khỏe của mình trước sự đe dọa của biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch bệnh. Hơn thế nữa, môi trường trong sạch còn tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững về kinh tế và xã hội, đảm bảo một tương lai tốt đẹp cho các thế hệ mai sau. Nếu mỗi người chỉ cần thay đổi một thói quen nhỏ như giảm thiểu rác thải nhựa hay trồng thêm một cây xanh, chúng ta sẽ tạo nên một sức mạnh to lớn để chữa lành trái đất. Tóm lại, bảo vệ môi trường là biểu hiện của lối sống có trách nhiệm và là nền tảng để duy trì sự tồn tại của nhân loại.

Câu 2 : Đề bài yêu cầu so sánh hình tượng người ẩn sĩ trong bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và một đoạn thơ (thuộc bài "Thu điếu" - Câu cá mùa thu) của Nguyễn Khuyến. Cả hai tác giả đều là những bậc đại tri thức chọn lối sống ẩn dật, nhưng mỗi người lại mang một phong thái riêng.

  • Lối sống lánh đục tìm trong: Cả hai đều chọn rời xa chốn quan trường "lao xao" để về với thiên nhiên, giữ gìn nhân cách cao khiết, không màng danh lợi.
  • Sự gắn kết với thiên nhiên: Hình tượng người ẩn sĩ hiện lên gắn liền với những thú vui bình dị: câu cá, ngắm cảnh, hòa mình vào nhịp sống của đất trời.
  • Trong bài "Nhàn" (Nguyễn Bỉnh Khiêm):
    • Phong thái: Hiện lên với vẻ tự tại, chủ động và đầy triết lý. Ông coi cái "dại" của mình (tìm nơi vắng vẻ) chính là cái "khôn" của bậc đại trí.
    • Cuộc sống: Bình dị, thuận theo tự nhiên (thu ăn măng trúc, đông ăn giá...). Cái "nhàn" ở đây là sự thư thái trong tâm hồn, coi phú quý chỉ như một giấc chiêm bao.
  • Trong bài "Thu điếu" (Nguyễn Khuyến):
    • Phong thái: Mang đậm nét u hoài, tĩnh lặng đến tuyệt đối. Hình ảnh người ẩn sĩ ngồi câu cá giữa không gian mùa thu xanh ngắt, nước biếc... cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế.
    • Tâm trạng: Cái tĩnh của cảnh vật thực chất là để bộc lộ cái "tĩnh" trong lòng người – một nỗi buồn thời thế sâu sắc, kín đáo của một nhà nho nặng lòng với nước nhưng bất lực trước thời cuộc.
    • Nguyễn Bỉnh Khiêm đại diện cho cốt cách của một bậc tiên phong, dùng lối sống nhàn để đối lập với sự băng hoại của xã hội đương thời.
    • Nguyễn Khuyến lại khắc họa hình ảnh người ẩn sĩ gắn liền với tình yêu quê hương đất nước thiết tha, ẩn sau vẻ ngoài bình thản là một nỗi đau đời đau đáu.
    Cả hai hình tượng đều là những bài học quý giá về giữ gìn thiên lương và bản lĩnh sống trước những cám dỗ của danh lợi.


Câu 1: mà là mệnh lệnh sinh tồn của nhân loại. Môi trường tự nhiên trong lành chính là chiếc nôi duy trì sự sống, cung cấp không khí, nước uống và nguồn tài nguyên thiết yếu cho con người. Khi môi trường bị hủy hoại bởi ô nhiễm, chất lượng cuộc sống suy giảm, bệnh tật gia tăng, và các thảm họa thiên nhiên trở nên khốc liệt hơn, như việc rác thải nhựa đang đe dọa cả hệ sinh thái biển và đất liền. Vì lẽ đó, việc bảo vệ môi trường mang tầm quan trọng tối thượng, quyết định tương lai của chính chúng ta. Trách nhiệm này không của riêng ai mà đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội. Mỗi người cần thay đổi hành vi, từ những việc nhỏ nhất như tiết kiệm điện nước, hạn chế sử dụng đồ nhựa dùng một lần, đến việc tham gia các hoạt động dọn dẹp và tuyên truyền. Chỉ khi ý thức được môi trường là tài sản quý giá nhất, chúng ta mới có thể kiến tạo một tương lai bền vững và tươi đẹp cho các thế hệ mai sau.

Câu 2: Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ luôn giữ một vị trí đặc biệt, phản ánh tâm hồn thanh cao, lý tưởng nhân sinh của các nhà thơ tài danh. Hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và đoạn thơ thu trong tác phẩm của Nguyễn Khuyến đã khắc họa hai hình ảnh ẩn sĩ riêng biệt nhưng cùng mang vẻ đẹp của đời sống yên bình, thoát tục. Qua đó, ta có thể thấy được cái nhìn đa chiều về người trí thức chọn lánh đời để tìm thú vui an nhàn và ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống ẩn dật.


Trước hết, người ẩn sĩ trong bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện thái độ dứt khoát với chốn quan trường phồn tạp và cám dỗ danh lợi. Câu thơ “Một mai, một cuốc, một cần câu, / Thơ thẩn đâu ai vui thú nào” gợi lên hình ảnh giản dị của cuộc sống nơi chốn đồng quê, với những công cụ lao động thô sơ nhưng nhẹ nhàng, thanh thản. Người ẩn sĩ tự nhận mình “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ”, khẳng định thái độ hòa mình vào thiên nhiên, tránh xa những ồn ào và cạm bẫy của xã hội. Bài thơ như một tâm sự chân thành đầy tự trào nhưng cũng rất đỗi sâu sắc về giá trị của sự “nhàn” – niềm vui sống bình dị, không bon chen. Không những thế, thái độ “Người khôn, người đến chốn lao xao” cho thấy sự phân biệt rõ ràng giữa người chạy theo danh lợi và kẻ biết an hưởng cuộc sống thanh thản, nhấn mạnh quan điểm nhân sinh cao đẹp của nhà thơ.


Ngược lại, hình tượng ẩn sĩ trong bài thơ thu của Nguyễn Khuyến lại mang nét đẹp tinh tế, hài hòa với thiên nhiên theo mùa thu thanh nhã. Cảnh “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, / Cành trúc lơ phơ gió hắt hiu” tạo nên một không gian vắng lặng, mênh mang, khiến lòng người dễ rung cảm. Người ẩn sĩ không chỉ sống biệt lập mà còn là người quan sát tinh tế thiên nhiên, “Nước biếc trông như tầng khói phủ, / Song thưa để mặc bóng trăng vào”, thể hiện một tâm hồn thảnh thơi, hòa hợp với vũ trụ. Tiếng ngỗng kêu xa xa như lời nhắn nhủ cho một cuộc đời an nhiên không bon chen. Hình ảnh “Nhàn hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” được xem như cách người thi nhân khiêm nhường, giữ gìn nét thanh cao trong tài năng và đam mê văn chương, vừa tự nhắc nhở bản thân về sự giản dị trong cuộc sống.


So sánh hai hình tượng này, ta thấy cả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều tôn vinh vẻ đẹp của sự an nhàn, của đời sống lánh đời bình yên không hổ thẹn với lương tâm. Tuy nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhấn mạnh sự “dại” để thoát khỏi chốn lao xao, thể hiện một thái độ sống độc lập, tự tại vừa hài hước, vừa triết lý. Ngược lại, Nguyễn Khuyến lại thể hiện sự hòa hợp giữa người và cảnh, lấy thiên nhiên làm bạn, với tâm hồn tinh tế và biết tự nhắc nhở mình giữ gìn phẩm cách, biết quý trọng những giá trị truyền thống. Người ẩn sĩ của Nguyễn Khuyến không chỉ rời xa thế tục mà còn sáng tạo, trăn trở với nghệ thuật và cuộc sống.


Nói tóm lại, hai bài thơ đã khắc họa thành công những bức chân dung sinh động của người ẩn sĩ Việt Nam với những góc nhìn khác biệt nhưng không kém phần sâu sắc, góp phần làm giàu thêm quan niệm triết lý về cuộc sống thanh cao, an nhiên. Qua đó, ta nhận thấy giá trị bền vững của triết lý ẩn dật trong văn hóa truyền thống dân tộc, luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho người đọc và người sáng tác hôm nay.

10 tháng 4
Câu 1: Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường (Khoảng 200 chữ) Gợi ý triển khai:
  • Mở đoạn: Dẫn dắt và khẳng định bảo vệ môi trường là nhiệm vụ sống còn của nhân loại.
  • Thân đoạn:
    • Môi trường là nguồn sống: Cung cấp không khí để thở, nước để uống và tài nguyên để phát triển kinh tế.
    • Lá chắn bảo vệ: Hệ sinh thái ổn định giúp hạn chế thiên tai (lũ lụt, hạn hán) và biến đổi khí hậu.
    • Sức khỏe con người: Môi trường sạch giúp giảm thiểu bệnh tật, nâng cao chất lượng cuộc sống.
    • Trách nhiệm: Nếu không bảo vệ môi trường, chúng ta đang tự hủy hoại tương lai của chính mình.
  • Kết đoạn: Bài học hành động (giảm rác thải nhựa, trồng cây xanh, nâng cao ý thức cộng đồng).
Câu 2: So sánh hình tượng người ẩn sĩ qua hai bài thơ "Nhàn" (Nguyễn Bỉnh Khiêm) và "Thu vịnh" (Nguyễn Khuyến) 1. Giới thiệu chung
  • Nguyễn Bỉnh Khiêm: Một bậc trí giả chọn lối sống ẩn dật để giữ cốt cách thanh cao giữa thời thế loạn lạc.
  • Nguyễn Khuyến: "Tam nguyên Yên Đổ", cáo quan về quê với nỗi niềm ưu thời mẫn thế sâu sắc.
2. Điểm tương đồng
  • Lối sống thanh cao: Cả hai đều chọn rời xa chốn quan trường "lao xao", "bụi bặm" để tìm về với thiên nhiên, giữ gìn nhân cách.
  • Sự giao hòa với thiên nhiên: Coi thiên nhiên là bầu bạn, tìm thấy niềm vui trong sự tĩnh lặng của đất trời.
3. Điểm khác biệt (Nét riêng trong hình tượng) Đặc điểm"Nhàn" (Nguyễn Bỉnh Khiêm)"Thu vịnh" (Nguyễn Khuyến)
Thái độ sống
Chủ động, tự tại:Ông tự nhận mình "dại" để tìm nơi vắng vẻ, ung dung tự tại với "mai, cuốc, cần câu", ăn măng trúc, giá đỗ.
Trầm tư, u uẩn:Hình tượng người ẩn sĩ gắn liền với không gian thu tĩnh lặng, thanh khiết nhưng đượm buồn.
Triết lý
Triết lý "Nhàn":Xem thường danh lợi, coi phú quý như một giấc chiêm bao. Đó là sự trí tuệ, vượt lên trên danh lợi.
Nỗi lòng đất nước:Ẩn sau vẻ nhàn tản là nỗi thẹn (thẹn với ông Đào) vì chưa làm được gì cho nước nhà trong cảnh mất nước.
Bút pháp
Ngôn ngữ mộc mạc, dân dã, giọng điệu hóm hỉnh, bản lĩnh.
Bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế, mang đậm phong vị cổ điển và nỗi niềm tâm sự.
4. Đánh giá chung
  • Hình tượng người ẩn sĩ ở cả hai bài thơ đều đại diện cho vẻ đẹp đạo đức của nhà nho chân chính: "Lạc đạo vong ưu" (Vui đạo quên nghèo).
  • Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện một bản lĩnh hành đạo trí tuệ, quyết đoán thì Nguyễn Khuyến lại thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, giàu lòng yêu nước và đầy trăn trở.
10 tháng 4

Câu 1: mà là mệnh lệnh sinh tồn của nhân loại. Môi trường tự nhiên trong lành chính là chiếc nôi duy trì sự sống, cung cấp không khí, nước uống và nguồn tài nguyên thiết yếu cho con người. Khi môi trường bị hủy hoại bởi ô nhiễm, chất lượng cuộc sống suy giảm, bệnh tật gia tăng, và các thảm họa thiên nhiên trở nên khốc liệt hơn, như việc rác thải nhựa đang đe dọa cả hệ sinh thái biển và đất liền. Vì lẽ đó, việc bảo vệ môi trường mang tầm quan trọng tối thượng, quyết định tương lai của chính chúng ta. Trách nhiệm này không của riêng ai mà đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội. Mỗi người cần thay đổi hành vi, từ những việc nhỏ nhất như tiết kiệm điện nước, hạn chế sử dụng đồ nhựa dùng một lần, đến việc tham gia các hoạt động dọn dẹp và tuyên truyền. Chỉ khi ý thức được môi trường là tài sản quý giá nhất, chúng ta mới có thể kiến tạo một tương lai bền vững và tươi đẹp cho các thế hệ mai sau.

Câu 2: Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ luôn giữ một vị trí đặc biệt, phản ánh tâm hồn thanh cao, lý tưởng nhân sinh của các nhà thơ tài danh. Hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và đoạn thơ thu trong tác phẩm của Nguyễn Khuyến đã khắc họa hai hình ảnh ẩn sĩ riêng biệt nhưng cùng mang vẻ đẹp của đời sống yên bình, thoát tục. Qua đó, ta có thể thấy được cái nhìn đa chiều về người trí thức chọn lánh đời để tìm thú vui an nhàn và ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống ẩn dật.


Trước hết, người ẩn sĩ trong bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện thái độ dứt khoát với chốn quan trường phồn tạp và cám dỗ danh lợi. Câu thơ “Một mai, một cuốc, một cần câu, / Thơ thẩn đâu ai vui thú nào” gợi lên hình ảnh giản dị của cuộc sống nơi chốn đồng quê, với những công cụ lao động thô sơ nhưng nhẹ nhàng, thanh thản. Người ẩn sĩ tự nhận mình “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ”, khẳng định thái độ hòa mình vào thiên nhiên, tránh xa những ồn ào và cạm bẫy của xã hội. Bài thơ như một tâm sự chân thành đầy tự trào nhưng cũng rất đỗi sâu sắc về giá trị của sự “nhàn” – niềm vui sống bình dị, không bon chen. Không những thế, thái độ “Người khôn, người đến chốn lao xao” cho thấy sự phân biệt rõ ràng giữa người chạy theo danh lợi và kẻ biết an hưởng cuộc sống thanh thản, nhấn mạnh quan điểm nhân sinh cao đẹp của nhà thơ.


Ngược lại, hình tượng ẩn sĩ trong bài thơ thu của Nguyễn Khuyến lại mang nét đẹp tinh tế, hài hòa với thiên nhiên theo mùa thu thanh nhã. Cảnh “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, / Cành trúc lơ phơ gió hắt hiu” tạo nên một không gian vắng lặng, mênh mang, khiến lòng người dễ rung cảm. Người ẩn sĩ không chỉ sống biệt lập mà còn là người quan sát tinh tế thiên nhiên, “Nước biếc trông như tầng khói phủ, / Song thưa để mặc bóng trăng vào”, thể hiện một tâm hồn thảnh thơi, hòa hợp với vũ trụ. Tiếng ngỗng kêu xa xa như lời nhắn nhủ cho một cuộc đời an nhiên không bon chen. Hình ảnh “Nhàn hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” được xem như cách người thi nhân khiêm nhường, giữ gìn nét thanh cao trong tài năng và đam mê văn chương, vừa tự nhắc nhở bản thân về sự giản dị trong cuộc sống.


So sánh hai hình tượng này, ta thấy cả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều tôn vinh vẻ đẹp của sự an nhàn, của đời sống lánh đời bình yên không hổ thẹn với lương tâm. Tuy nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhấn mạnh sự “dại” để thoát khỏi chốn lao xao, thể hiện một thái độ sống độc lập, tự tại vừa hài hước, vừa triết lý. Ngược lại, Nguyễn Khuyến lại thể hiện sự hòa hợp giữa người và cảnh, lấy thiên nhiên làm bạn, với tâm hồn tinh tế và biết tự nhắc nhở mình giữ gìn phẩm cách, biết quý trọng những giá trị truyền thống. Người ẩn sĩ của Nguyễn Khuyến không chỉ rời xa thế tục mà còn sáng tạo, trăn trở với nghệ thuật và cuộc sống.


Nói tóm lại, hai bài thơ đã khắc họa thành công những bức chân dung sinh động của người ẩn sĩ Việt Nam với những góc nhìn khác biệt nhưng không kém phần sâu sắc, góp phần làm giàu thêm quan niệm triết lý về cuộc sống thanh cao, an nhiên. Qua đó, ta nhận thấy giá trị bền vững của triết lý ẩn dật trong văn hóa truyền thống dân tộc, luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho người đọc và người sáng tác hôm nay.

Câu 1 bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loạiTầm quan trọng: Môi trường là "lá phổi xanh", cung cấp nguồn sống (không khí, nước, thức ăn) cho con người.: Môi trường sạch giúp hạn chế dịch bệnh, thiên tai và đảm bảo sự phát triển bền vững cho thế hệ tương lai.Trước tình trạng biến đổi khí hậu, mỗi cá nhân cần có ý thức từ những việc nhỏ nhất (hạn chế rác thải nhựa, trồng cây, tiết kiệm năng lượn Bài học nhận thức và thông điệp (Bảo vệ môi trường là bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta).

Câu 2Ung dung, tự tại với những công cụ lao động thuần phác (mai, cuốc, cần câu).Tránh xa chốn "lao xao" (quan trường, danh lợi) để tìm về nơi "vắng vẻ" (sự thanh thản trong tâm hồn).

  • Thuận theo tự nhiên (ăn măng trúc, giá đỗ; tắm hồ sen, tắm ao), coi thường phú quý như giấc chiêm bao.
  • Hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Khuyến (Thu vịnh):
  • Mang đậm nét đặc trưng của làng quê Bắc Bộ (trời xanh ngắt, cần trúc, nước biếc).U uẩn, trầm mặc. Cái "nhàn" của Nguyễn Khuyến không hoàn toàn thảnh thơi mà trĩu nặng nỗi niềm thời thế (tiếng ngỗng nước nào) điểm giống nhau Đều chọn lối sống xa rời danh lợi, tìm về thiên nhiên để giữ cốt cách thanh cao.Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự kiên định, trí tuệ và có phần đắc ý với triết lý "Nhàn". Nguyễn Khuyến lại mang nỗi ưu tư, băn khoăn của một trí sĩ yêu nước trước cảnh nước mất nhà tan.

Câu 1

Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề cấp thiết nhất của nhân loại hiện nay. Môi trường không chỉ là nơi con người sinh sống mà còn là nguồn cung cấp tài nguyên, duy trì sự sống và cân bằng sinh thái. Tuy nhiên, trước tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm và khai thác quá mức, môi trường đang bị tổn hại nghiêm trọng.Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thiên nhiên mà còn tác động trực tiếp đến sức khỏe, đời sống và cả tinh thần của con người, đặc biệt là giới trẻ. Vì vậy, việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Mỗi cá nhân cần bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm điện, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh và nâng cao ý thức giữ gìn môi trường soongs . Đồng thời nhà nước và các tổ chức cần có những chính sách ưu đãi và hành động mạnh mẽ hơn để bảo vệ sinh thái



10 tháng 4

Câu 1: mà là mệnh lệnh sinh tồn của nhân loại. Môi trường tự nhiên trong lành chính là chiếc nôi duy trì sự sống, cung cấp không khí, nước uống và nguồn tài nguyên thiết yếu cho con người. Khi môi trường bị hủy hoại bởi ô nhiễm, chất lượng cuộc sống suy giảm, bệnh tật gia tăng, và các thảm họa thiên nhiên trở nên khốc liệt hơn, như việc rác thải nhựa đang đe dọa cả hệ sinh thái biển và đất liền. Vì lẽ đó, việc bảo vệ môi trường mang tầm quan trọng tối thượng, quyết định tương lai của chính chúng ta. Trách nhiệm này không của riêng ai mà đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội. Mỗi người cần thay đổi hành vi, từ những việc nhỏ nhất như tiết kiệm điện nước, hạn chế sử dụng đồ nhựa dùng một lần, đến việc tham gia các hoạt động dọn dẹp và tuyên truyền. Chỉ khi ý thức được môi trường là tài sản quý giá nhất, chúng ta mới có thể kiến tạo một tương lai bền vững và tươi đẹp cho các thế hệ mai sau.

Câu 2: Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ luôn giữ một vị trí đặc biệt, phản ánh tâm hồn thanh cao, lý tưởng nhân sinh của các nhà thơ tài danh. Hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và đoạn thơ thu trong tác phẩm của Nguyễn Khuyến đã khắc họa hai hình ảnh ẩn sĩ riêng biệt nhưng cùng mang vẻ đẹp của đời sống yên bình, thoát tục. Qua đó, ta có thể thấy được cái nhìn đa chiều về người trí thức chọn lánh đời để tìm thú vui an nhàn và ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống ẩn dật.


Trước hết, người ẩn sĩ trong bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện thái độ dứt khoát với chốn quan trường phồn tạp và cám dỗ danh lợi. Câu thơ “Một mai, một cuốc, một cần câu, / Thơ thẩn đâu ai vui thú nào” gợi lên hình ảnh giản dị của cuộc sống nơi chốn đồng quê, với những công cụ lao động thô sơ nhưng nhẹ nhàng, thanh thản. Người ẩn sĩ tự nhận mình “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ”, khẳng định thái độ hòa mình vào thiên nhiên, tránh xa những ồn ào và cạm bẫy của xã hội. Bài thơ như một tâm sự chân thành đầy tự trào nhưng cũng rất đỗi sâu sắc về giá trị của sự “nhàn” – niềm vui sống bình dị, không bon chen. Không những thế, thái độ “Người khôn, người đến chốn lao xao” cho thấy sự phân biệt rõ ràng giữa người chạy theo danh lợi và kẻ biết an hưởng cuộc sống thanh thản, nhấn mạnh quan điểm nhân sinh cao đẹp của nhà thơ.


Ngược lại, hình tượng ẩn sĩ trong bài thơ thu của Nguyễn Khuyến lại mang nét đẹp tinh tế, hài hòa với thiên nhiên theo mùa thu thanh nhã. Cảnh “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, / Cành trúc lơ phơ gió hắt hiu” tạo nên một không gian vắng lặng, mênh mang, khiến lòng người dễ rung cảm. Người ẩn sĩ không chỉ sống biệt lập mà còn là người quan sát tinh tế thiên nhiên, “Nước biếc trông như tầng khói phủ, / Song thưa để mặc bóng trăng vào”, thể hiện một tâm hồn thảnh thơi, hòa hợp với vũ trụ. Tiếng ngỗng kêu xa xa như lời nhắn nhủ cho một cuộc đời an nhiên không bon chen. Hình ảnh “Nhàn hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” được xem như cách người thi nhân khiêm nhường, giữ gìn nét thanh cao trong tài năng và đam mê văn chương, vừa tự nhắc nhở bản thân về sự giản dị trong cuộc sống.


So sánh hai hình tượng này, ta thấy cả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều tôn vinh vẻ đẹp của sự an nhàn, của đời sống lánh đời bình yên không hổ thẹn với lương tâm. Tuy nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhấn mạnh sự “dại” để thoát khỏi chốn lao xao, thể hiện một thái độ sống độc lập, tự tại vừa hài hước, vừa triết lý. Ngược lại, Nguyễn Khuyến lại thể hiện sự hòa hợp giữa người và cảnh, lấy thiên nhiên làm bạn, với tâm hồn tinh tế và biết tự nhắc nhở mình giữ gìn phẩm cách, biết quý trọng những giá trị truyền thống. Người ẩn sĩ của Nguyễn Khuyến không chỉ rời xa thế tục mà còn sáng tạo, trăn trở với nghệ thuật và cuộc sống.


Nói tóm lại, hai bài thơ đã khắc họa thành công những bức chân dung sinh động của người ẩn sĩ Việt Nam với những góc nhìn khác biệt nhưng không kém phần sâu sắc, góp phần làm giàu thêm quan niệm triết lý về cuộc sống thanh cao, an nhiên. Qua đó, ta nhận thấy giá trị bền vững của triết lý ẩn dật trong văn hóa truyền thống dân tộc, luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho người đọc và người sáng tác hôm nay.

Câu 1: Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường (200 chữ)
  • Mở đoạn: Khẳng định môi trường là ngôi nhà chung, quyết định sự sinh tồn của nhân loại.
  • Thân đoạn:
    • Vai trò: Cung cấp nguồn sống (không khí, nước, thực phẩm) và là nơi chứa đựng chất thải.
    • Thực trạng & Hệ quả: Ô nhiễm dẫn đến biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch bệnh đe dọa trực tiếp đến sức khỏe con người.
    • Hành động: Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà là của mỗi cá nhân (giảm nhựa, tiết kiệm điện, trồng cây).
  • Kết đoạn: Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ tương lai của chính chúng ta.
Câu 2: So sánh hình tượng người ẩn sĩ trong "Nhàn" và "Thu vịnh" (600 chữ) 1. Mở bài
  • Giới thiệu hai tác giả lớn: Nguyễn Bỉnh Khiêm (nhà trí thức uyên bác) và Nguyễn Khuyến (ông quán Tam Nguyên Yên Đổ).
  • Nêu vấn đề: Hình tượng người ẩn sĩ với lối sống thanh cao, lánh đục tìm trong qua hai tác phẩm.
2. Thân bài
  • Hình tượng người ẩn sĩ trong "Nhàn" (Nguyễn Bỉnh Khiêm):
    • Vẻ đẹp ung dung, tự tại: Hình ảnh "một mai, một cuốc, một cần câu" thể hiện sự chủ động trở về với lao động thuần túy.
    • Triết lý sống: Chọn "nơi vắng vẻ" để giữ cốt cách, đối lập với "chốn lao xao" của danh lợi. Ăn món ăn dân dã, tắm hồ sen, ao nhà - hòa mình tuyệt đối vào thiên nhiên.
    • Thái độ: Coi phú quý như một giấc chiêm bao, giữ tâm thế tĩnh lặng trước mọi biến động.
  • Hình tượng người ẩn sĩ trong "Thu vịnh" (Nguyễn Khuyến):
    • Vẻ đẹp tâm hồn tinh tế: Người ẩn sĩ đắm mình trong cảnh thu thanh vắng, tĩnh lặng ("xanh ngắt", "lơ phơ", "khói phủ").
    • Nỗi niềm u uẩn: Khác với vẻ lạc quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm, người ẩn sĩ ở đây mang nỗi ưu tư về thời thế ("ngỗng nước nào", "toan cất bút lại thôi").
    • Nhân cách: Thanh cao nhưng nặng lòng với quê hương, đất nước.
  • So sánh và đánh giá:
    • Giống nhau: Cùng chọn con đường ẩn dật để bảo vệ nhân cách, yêu thiên nhiên tha thiết.
    • Khác nhau: Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện bản lĩnh của một bậc hiền triết đắc đạo, ung dung; Nguyễn Khuyến lại thể hiện cái tôi nhạy cảm, có phần buồn bặm, trăn trở của một trí sĩ yêu nước trong cảnh nước mất nhà tan.
3. Kết bài
  • Khẳng định giá trị của hình tượng người ẩn sĩ trong văn học trung đại.
  • Liên hệ ý nghĩa lối sống đẹp, giữ gìn nhân phẩm trong xã hội hiện đại.
13 tháng 4

Câu 1:

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức toàn cầu, việc bảo vệ môi trường không còn là lựa chọn mà là trách nhiệm sống còn của mỗi cá nhân. Môi trường chính là "ngôi nhà chung", cung cấp cho chúng ta từ không khí để thở, nước để uống đến nguồn tài nguyên để phát triển kinh tế. Khi môi trường được bảo vệ, con người mới có được một không gian sống an toàn, hạn chế được những dịch bệnh nguy hiểm và những cơn thịnh nộ từ thiên tai như lũ quét hay hạn hán. Ngược lại, nếu chúng ta tiếp tục thờ ơ, xả rác bừa bãi hay tàn phá rừng xanh, chính chúng ta đang tự cắt đứt mạch sống của mình và thế hệ mai sau. Bảo vệ môi trường không nhất thiết phải là những dự án vĩ mô; nó bắt đầu ngay từ ý thức nhỏ nhất: hạn chế túi nilon, tiết kiệm điện nước hay trồng thêm một mầm xanh. Hãy nhớ rằng, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ hơi thở và tương lai của chính chúng ta. "Sống xanh" không chỉ là một trào lưu, mà là tấm vé duy nhất để nhân loại hướng tới sự phát triển bền vững.

Câu 2:

Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ luôn là biểu tượng cho nhân cách cao khiết trước thời cuộc tao loạn. Qua bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến, ta thấy hiện lên hai chân dung ẩn sĩ với những sắc thái tâm lý và triết lý sống riêng biệt. Trước hết, ẩn sĩ trong "Nhàn" là một người đã hoàn toàn tự do. Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện ra như một lão nông thực thụ: "Một mai, một cuốc, một cần câu". Con số "một" lặp lại khẳng định tư thế chủ động, sẵn sàng hòa mình vào cuộc sống lao động chân tay. Với ông, "nhàn" không phải là lười biếng mà là sự lựa chọn về thái độ sống: "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chốn lao xao". Cách nói ngược đầy kiêu hãnh cho thấy một trí tuệ thấu triệt lẽ đời, coi thường danh lợi phù phiếm như giấc chiêm bao. Ngược lại, người ẩn sĩ trong "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến lại hiện lên với vẻ đẹp trầm mặc và đầy u hoài. Cảnh thu hiện ra tuyệt đẹp nhưng cũng đầy tĩnh lặng đến mức hiu hắt: "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao/ Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu". Khác với sự phóng khoáng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ẩn sĩ Nguyễn Khuyến thu mình sau "song thưa", đối diện với "mấy chùm hoa năm ngoái" và tiếng ngỗng lạc lõng. Đó là cái nhìn của một tâm hồn đang mang nặng nỗi đau mất nước. Câu thơ cuối bài "Nhân hứng cũng vừa toan cất bút/ Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào" đã bộc lộ cốt lõi của hình tượng ẩn sĩ này: một nỗi thẹn cao cả của kẻ sĩ không thể giúp gì cho đời. Tóm lại, nếu hình tượng ẩn sĩ của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ đẹp của một bậc tiên phong đạo cốt, đã vượt thoát khỏi bụi trần thì ẩn sĩ Nguyễn Khuyến lại là một "ẩn sĩ đau đời". Cả hai bài thơ đều là những tuyệt tác về ngôn ngữ và hình ảnh, giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp nhân cách của những con người dù ở ẩn nhưng vẫn tỏa sáng lý tưởng sống thanh cao.

8 tháng 2

gg

I. ĐỌC HIỂUĐọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình?

3
21 tháng 7 2021

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

- PTBĐ: Nghị luận.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

- Lý do đầu tiên để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba nhân vật: “Nhưng ba

muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud

có ý nghĩa gì?

- Câu kinh đó ý nói: khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả

mọi người xung quanh và dạy dỗ những thế hệ sau này. Những điều tốt đẹp ấy sẽ như một hạt giống tốt tươi được lan xa, lan rộng.

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình?

- Đó là điều đặc biệt. Vì khi chính cha mình – bằng tất cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng, chúng ta sẽ

cảm thấy ấm áp và có nhiều kỉ niệm để nhớ về trên những chặng đường sau này hơn là được học từ một người khác.

 

24 tháng 10 2023

yêu cái mmb ấy

         Vén Màn Bí Mật Một Số Chuẩn Mực Của CTV OLM      Cô Thương Hoài thân ái chào tất cả các em là thành viên của olm. Chúc các em ngày nghỉ cuối tuần thật an nhiên bên gia đình, cùng những phút giây học tập thú vị với olm nhé. Thầy Hà Đức Thọ đã và đang trao giải ctv của olm nhiệm kỳ hè 2022 - 2023. Chắc hẳn rất nhiều bạn đang hóng tiêu chí, và chuẩn mực của dàn ctv nhiệm...
Đọc tiếp

         Vén Màn Bí Mật Một Số Chuẩn Mực Của CTV OLM

     Cô Thương Hoài thân ái chào tất cả các em là thành viên của olm. Chúc các em ngày nghỉ cuối tuần thật an nhiên bên gia đình, cùng những phút giây học tập thú vị với olm nhé. Thầy Hà Đức Thọ đã và đang trao giải ctv của olm nhiệm kỳ hè 2022 - 2023. Chắc hẳn rất nhiều bạn đang hóng tiêu chí, và chuẩn mực của dàn ctv nhiệm kỳ tới của olm. Vậy cô xin vén chút màn bí mật cho các bạn thêm phần kịch tính, hồi hộp và ngóng đợi nhá.

Dưới đây là quy chuẩn bắt buộc phải có với những thí sinh ứng tuyển ctv olm:

I, Điều kiện cần:

1, Bắt buộc phải có điểm hỏi đáp trên olm

2, Phải có thời gian hoạt động tích cực trong ba tháng gần đây

3, Độ tuổi tham gia đăng ký cộng tác viên phải phù hợp với vị trí, vai trò cộng tác viên

4, Tên đăng ký tham gia phải là tên thật 

5, Tài khoản olm khi đăng ký tham gia ctv phải là tài khoản đã được xác thực số điện thoại.

II, Điều kiện đủ: 

Sau khi lọt qua vòng sơ tuyển của olm, các bạn được thầy Hà Đức Thọ tuyển dụng làm ctv thì các bạn nhất định phải đạt các tiêu chí sau:

1, Văn hóa ứng xử:

+ Tuyệt đối không coppy bài giải của người khác, trang khác, của bạn khác làm lời giải của mình trong mục hỏi đáp.

+ Ngôn ngữ mà các bạn sử dụng khi trả lời hoặc bình luận phải đầy đủ, rõ ràng, không viết tắt, viết không dấu, viết kiểu ký hiệu của tuổi tin.

+ Không được sử dụng các ngôn từ thô tục, hay có hàm ý gây hiểu lầm trong câu bình luận hoặc trả lời.

+ Không tuyên truyền tin nhảm nhí, tin rác, đả kích người khác hay kích bác chính trị, không chèn link khác vào olm

+ Thận trọng trong việc xóa các bài đăng, câu hỏi của các thành viên khác trên diễn đàn olm tránh gây bức xúc, khó chịu cho người hỏi vì câu hỏi bị xóa không có lý do rõ ràng.

+ Khẩn trương báo lỗi vi phạm trong câu trả lời nếu có của các thành viên khác cho cô để cô kịp thời điều tra, xử lý, giữ môi trường học tập an toàn, lành mạnh cho olm.

+ Thái độ và lời nói, ngôn ngữ của các bạn phải thể hiện sự thanh lịch, nhã nhặn xứng với môi trường làm việc chuyên nghiệp và tính chất giáo dục của hệ thống olm. Vì sẽ có rất nhiều thầy cô của các trường khác, hệ thống giáo dục khác, cũng như các bậc phụ huynh thường xuyên ghé thăm môi trường sự phạm của hệ thống olm.

2, Kỹ năng tin học: 

+ Trong câu trả lời cho câu hỏi toán học của các bạn phải gõ công thức toán học trực quan của olm

+ Đối với tiếng việt bắt buộc phải gõ có dấu.

3, Chất lượng câu trả lời:

+ Tuyệt đối không trả lời linh tinh, lan man không liên quan đến nội dung câu hỏi.

+ Thận trọng khi làm bài, làm toán, giải chi tiết rõ ràng đầy đủ.

+ Không coppy, buff, gian lận, tích chéo 

4, Tinh Thần yêu thương, tương trợ, đoàn kết, giúp đỡ:

     Cùng là thành viên olm nếu vinh hạnh được làm cộng tác viên của olm thì phải có tinh thần yêu thương, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, không chia bè, phe phái, cấu kết trục lợi cá nhân trên olm.

5,Tiêu chí chấm giải cộng tác viên:

+ Khi chấm trao giải cộng tác viên olm các nhiệm kỳ những thành viên có điểm văn hóa ứng xử từ 9 trở xuống sẽ không bao giờ được giải nhất.

Giống như học sinh giỏi thì hạnh kiểm phải tốt ý. Vậy nên các bạn cố gắng đừng để cô trừ điểm văn hóa ứng xử.

+ Dựa trên số lượng câu trả lời trong nhiệm kỳ lúc trao giải

+ Dựa trên số lượng câu trả lời chất lượng của các bạn 

+ Dựa vào sự tích cực của bạn đối với cộng đồng Olm.

+ Dựa vào các ý tưởng hay mà các bạn đóng xây dựng cho cho olm.

+ Đối với những học sinh, sinh viên, xuất sắc trên trường sẽ được cộng thêm điểm ưu tiên

+ Tất cả các tiêu chí trên sẽ được tính điểm và xếp giải theo điểm 

III, Lời kết:

          Trên đây là một số yếu tố cốt lõi để các cộng tác viên, học sinh tham gia olm muốn đạt giải học sinh tích cực các nhiệm kỳ sắp tới trên olm được rõ. Từ đó, Các bạn cố gắng phấn đấu nỗ lực cùng nhau xây dựng một cộng đồng tri thức lớn mạnh, an toàn, văn minh, tích cực thân thiện, vượt trội mọi thời đại trên olm.

                      Thay mặt olm cô: Nguyễn Thị Thương Hoài.

loading...

                                       

 

 

 

 

 

 

 

 

                    

    

 

12
16 tháng 9 2023

Dù điều kiện xét CTV sẽ chặt chẽ hơn nhưng nó cũng sẽ đảm bảo các Cộng Tác Viên luôn hoạt động tích cực, chăm chỉ công bằng hơn để có thể phát triển diễn đàn hỏi đáp cũng như trang OLM.VN, mình mong rằng sẽ có nhiều bạn đạt được danh hiệu CTV trong nhiệm kỳ tới nhé!

16 tháng 9 2023

Em sẽ cố gắng để được làm CTV ạ

Thưởng 3 gp và thẻ cào 10k cho 5 bạn đăng ký đầu tiên          Cô Thương Hoài thân ái chào tất cả các em học viên của olm.vn. Vậy là mùa hè thú vị sắp trôi qua rồi các em nhỉ! Các em lại tiếp tục chuẩn bị bước vào năm học mới thật háo hức và nhiều điều mới lạ bên sách vở, bên mái trường. Hẳn là sẽ có rất nhiều bài vở, nhiều vấn đề mà các em muốn chia sẻ cùng diễn đàn...
Đọc tiếp

Thưởng 3 gp và thẻ cào 10k cho 5 bạn đăng ký đầu tiên 

        Cô Thương Hoài thân ái chào tất cả các em học viên của olm.vn. Vậy là mùa hè thú vị sắp trôi qua rồi các em nhỉ! Các em lại tiếp tục chuẩn bị bước vào năm học mới thật háo hức và nhiều điều mới lạ bên sách vở, bên mái trường. Hẳn là sẽ có rất nhiều bài vở, nhiều vấn đề mà các em muốn chia sẻ cùng diễn đàn olm phải vậy không nào?

          Để diễn đàn OLM ngày càng trở nên sôi nổi hấp dẫn, thân thiện tích cực lan tỏa được kiến thức, chia sẻ yêu thương giúp đỡ và thực sự là một môi trường an toàn lành mạnh cho các em. Cô Thương Hoài thành lập:       

                     Biệt Đội Thân Thiện Tích cực.

Nhiện vụ của biệt đội là báo cho cô link các câu hỏi, câu trả lời vi phạm, các vấn đề về các thành viên olm ... Để cô điều tra và xử lý. Cô tiếp nhận báo cáo của các em 24/24 nhá. Các em không phải e sợ gì cả về thời gian hay về việc bị admin khiển trách vì báo cáo vi phạm vào những giờ cao điểm hoặc đêm khuya. Cuối tháng cô sẽ có tổng kết thành tích của các em và trao thưởng gp cũng như kèm thêm chút quà nhỏ nữa của cô tặng cho các em. Đó là lời cảm ơn cô dành cho các em đã phụ giúp cô quản lý diễn đàn olm.vn

  Các em báo vào zalo cho cô nhá, mã qr bên dưới nhá. Em nào muốn tham gia để được nhận thưởng hàng tháng thì cmt tại đây. Các cánh tay của các chiến binh đâu giơ lên tại cmt cho cô nhé.

                                                            Cô và olm sẽ luôn mang đến cho các em những điều tốt đẹp nhất trân trọng!  

                       loading...

loading...

                                            

                              

30
29 tháng 8 2023

em đăng kí tham gia ak

em đăng ký tham gia ạ

Bài thơ "Thu Điếu " của tác giả Nguyễn Khuyến là một bài thơ hay và thú vị ,trong đó em thích nhất là hai câu thơ đầu: "Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,''Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.' Trong hai câu thơ này của tác giả Nguyễn Khuyến đã viết về hình ảnh mùa thu được hiện lên với một không gian tĩnh lặng ở chốn làng quê trong một dòng ao nhỏ với chiếc thuyền câu nhẹ nổi lên giữa...
Đọc tiếp

Bài thơ "Thu Điếu " của tác giả Nguyễn Khuyến là một bài thơ hay và thú vị ,trong đó em thích nhất là hai câu thơ đầu: "Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,''Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.' Trong hai câu thơ này của tác giả Nguyễn Khuyến đã viết về hình ảnh mùa thu được hiện lên với một không gian tĩnh lặng ở chốn làng quê trong một dòng ao nhỏ với chiếc thuyền câu nhẹ nổi lên giữa làn nước tĩnh lặng mùa thu . Từ đó giúp em cảm nhận đc nước ao vào mùa thu tĩnh lặng chỉ có những làn sóng nhè nhẹ lướt qua. Hình ảnh chiếc thuyền nhỏ bé trôi trên dòng nước nhẹ làm cho khung cảnh nơi đây trở lên đẹp đẽ toát lên vẻ dẹp của mùa thu . Hình ảnh ao chảy nhẹ với con thuyền nhỏ đâ để lại cho em vào người đọc ấn tượng sâu sắc .



0
         Bảng xếp hạng Siêu Chiến Binh Olm  nửa đầu Tháng 9/2023             Các em vào hóng xem có tên mình không nhé     Cô Thương Hoài chào thân ái tất cả các em! Chúc các em cuối tuần với những giây phút nghỉ ngơi thư giãn thật vui vẻ, Cũng như học được thật nhiều điều bổ ích trên olm nhé.   Vậy là đã hết nửa tháng 9 rồi nhỉ, Các em đã đến trường gặp lại thầy cô,...
Đọc tiếp

         Bảng xếp hạng Siêu Chiến Binh Olm  nửa đầu Tháng 9/2023

            Các em vào hóng xem có tên mình không nhé

    Cô Thương Hoài chào thân ái tất cả các em! Chúc các em cuối tuần với những giây phút nghỉ ngơi thư giãn thật vui vẻ, Cũng như học được thật nhiều điều bổ ích trên olm nhé. 

 Vậy là đã hết nửa tháng 9 rồi nhỉ, Các em đã đến trường gặp lại thầy cô, bạn bè và học thêm biết bao nhiêu điều mới mẻ sau mỗi tiết học nữa chứ. Ngoài ra còn bao nhiêu điều thú vị, những câu hỏi, những câu bài tập các em đăng trên olm mỗi ngày. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều bạn đã giúp cô rất nhiều trong việc giữ gìn môi trường an toàn lành mạnh trên diễn đàn olm. Cô cảm ơn các em sau đây là bảng xếp hạng của các em.

Mã Chiến Binh  Số điểm hiện tại
OLMCB_001 13
OLMCB_002 26
OLMCB_004 18
OLMCB_005 22
OLMCB_006 13
OLMCB_007 7
OLMCB_008 6

 Một lần nữa biết ơn các em vì những đóng góp tích cực của các em cho cộng đồng. Mong các em tiếp tục phát huy để đến cuối tháng rinh giải danh giá siêu chiến binh từ cô Thương Hoài nhé.

                Thân Mến! Cô Nguyễn Thị Thương Hoài

 

 

 

27
15 tháng 9 2023

Cảm ơn cô nhiều ạ!

15 tháng 9 2023

Dạ vâng, em sẽ cố gắng giữ cho trang hỏi đáp OLM luôn sạch sẽ và không có những câu hỏi vi phạm ạ.

1 tháng 12 2023

Cô cho em 10 coin đi ạ

1 tháng 12 2023

Cô cho em 10coin e xin cảm ơn trước 

    THÔNG BÁO TRAO GIẢI ĐỘI CHIẾN BINH OLM THÁNG 8/2023                                        Tin Hot đây nhá các em. Cô Thương Hoài chào thân ái tất cả các học viên của olm. Như cô đã thông báo vào ngày 29 tháng 8 việc thành lập biệt đội : " Biệt đội thân thiện tích cực". Có tên gọi là "CHIẾN BINH OLM". nhiệm vụ của các em là báo cáo các sai phạm của các học viên khác cho cô...
Đọc tiếp

    THÔNG BÁO TRAO GIẢI ĐỘI CHIẾN BINH OLM THÁNG 8/2023                                        Tin Hot đây nhá các em.

Cô Thương Hoài chào thân ái tất cả các học viên của olm. Như cô đã thông báo vào ngày 29 tháng 8 việc thành lập biệt đội : " Biệt đội thân thiện tích cực". Có tên gọi là "CHIẾN BINH OLM". nhiệm vụ của các em là báo cáo các sai phạm của các học viên khác cho cô trong việc các bạn đăng câu trả lời hay trả lời vi phạm tiêu chuẩn cộng đồng của olm, phụ giúp cô trong việc quản lý diễn đàn hỏi đáp olm. Đảm bảo một diễn đàn an toàn, lành mạnh, thân thiện và tích cực, đoàn kết, chia sẻ, tương trợ, giúp đỡ, yêu thương. Cuối tháng cô xét thành tích xếp hạng các siêu chiến binh và trao giải. Sau đây là danh sách các bạn đoạt giải của tháng 8. 

STT Mã Số Chiến Binh Điểm Hạng Thưởng Hình Thức Thưởng
1 OLMCB_001 21 Nhất 20 000 đồng + 5gp Tiền mặt
2 OLMCB_002 9 Nhì 10 000 đồng + 5gp Thẻ cào
3 OLMCB_003 2 Ba  5 coin           + 5gp  

Dù mới hoạt động có mấy ngày nhưng các em đã hoạt động rất tích cực và hăng hái, giúp cô phát hiện sai phạm để cô xử lý kịp thời, nhanh chóng. Cô vẫn tuyển chiến binh nhé. Em nào đăng ký thì bình luận bên dưới để cô xét duyệt và cấp mã số chiến binh cho các em tiện nhận giải thưởng trân trọng.

        Rất mong các em là trợ thủ đắc lực cho cô trong vai trò người quản lý chung diễn đàn olm trân trọng và biết ơn các em!

Chú ý: Những bạn đoạt giải chiến binh olm tháng 8 năm 2023 đã được cô nhắn tin riêng trong chat olm, đó mới là những bạn đoạt giải, bạn nào trong đội chiến binh mà không nhận đươc tin nhắn trao giải thì tức là các em không đạt giải. Mong các em cố gắng vào tháng 9 nhá 

                          loading...

 

36
2 tháng 9 2023

Em cảm ơn cô Thương Hoài đã tạo ra cuộc thi này cho bọn con ạ.

2 tháng 9 2023

Hình như em không có trong giải thưởng nhưng em cũng cảm ơn cô Thương Hoài rất nhiều đã thành lập đội ạ