Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Trong cuộc sống hiện đại hóa, công nghiệp hóa hôm nay, đất nước Việt Nam ta đã có những đổi mới tích cự trong việc giáo dục. Nhưng song song với những mặt tích cực đó, còn có những cái xấu, cái chưa tốt nhìn thấy rõ, mà ví dụ điển hình là việc học đối phó của phần lớn học sinh ngày nay.
Vậy học đối phó là gì và do đâu? Ai trong chúng ta dám thừa nhận mình chưa bao giờ như thế? Việc học, quan trọng là lòng yêu thích, sự say mê tìm tòi, tạo cho mình một cái nhìn mới mẻ trong việc tiếp nhận và tích lũy kiến thức. Từ đó, ta mới có thêm niềm tin, những hứng thú để tiếp tục chặng đường học tập. Hãy nhìn những đứa trẻ, học tập đối với chúng luôn là sự tự do, là những bí ẩn chúng mong muốn được giải mã. Nhưng học sinh ngày nay thì lại khác. Học tập, xem như một nghĩa vụ bắt buộc, áp đặt và nặng nề. Thầy cô giảng, ta cứ dỏng tai lên nghe, nhưng chữ có vô đầu không thì không quan trọng. Nói điều này ra, một số người bảo ta bày vẽ, họ nói rằng: "Dào, chép bài mỏi tay chết còn học này học nọ!". Vậy là việc học cũng hờ hễnh, cũng nhàm chán như một nỗi khổ. Người ta dần dần nghĩ ra những "quái chiêu" để đối phó với việc học, để qua mặt thầy cô.
Phao, copy, chép sách giải, hỏi bài bạn, đến "lò" luyện mong vớ lấy vài con chữ,... Học mà không biết mình học vì cái gì, vì một mục đích cao đẹp nào, để đạt được thành công ra sao trên đường đời. Học như học vẹt, miệng đọc qua loa, bài tập không chyên sâu, mồm miệng cố la cho lớn để ra vẻ ta đây với thiên hạ. Không những học sinh yếu kém mà các bạn có năng lực tốt cũng "đối phó". Thầy dạy cho có và trò học đối phó, một khung cảnh dễ nhận thấy ở các lò luyện thi, trường chuyên, lớp giỏi,.. Việc đối phó như một tấm khiêng chống đỡ sự thất vọng của thầy cô, cha mẹ và những lời bàn tán của bạn bè. Chúng ta dần đánh mất những truyền thống học tập của người học sinh, để đổi lấy những con điểm cao chót vót, những nguyện vọng để bằng bạn bè.
Học đối phó là vấn nạn lớn, nó ăn mòn và hủy diệt sự tự chủ trong mỗi con người, gặm nhắm những đức tính tốt đẹp trong mỗi học sinh chúng ta. Cần có biện pháp, không thể nói suông ngày một ngày hai. Mỗi khi học tập, hãy tìm tòi những câu hỏi, đi sâu và những kiến thức, dành nhiều thời gian cho những mục tiêu mình cần vươn đến. Và hãy nhớ rằng: Chúng ta là chủ nhân tương lai của đất nước, là thế hệ học sinh mới, không thể đi lên mà không có kiến thức, trí tuệ và lòng hăng say yêu thích.
Học đối phó - cần phải loại bỏ ngay từ hôm nay.
Tham khảo:
Hành động quay cóp, gian lận trong thi cử thể đem lại cho học sinh những cái "lợi" nhất định, giúp ta làm tốt và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, thi cử. Nhưng nếu suy nghĩ kĩ thì cái “lợi” trước mắt sẽ là cái hại lâu dài cho bản thân chúng ta. Việc quay cóp khiến chúng ta có thói quen ỷ lại vào người khác trong học tập, thụ động, không tư duy sáng tạo. Nó tạo cho ta những lỗ hổng kiến thức vô cùng nghiêm trọng khó có thể bù đắp, nó làm cho ta trở nên mục nát. Khi quay cóp chúng ta cảm thấy sung sướng vì đã làm được bài tập, nhưng bù lại chúng ta sẽ bị day dứt hằng đêm vì việc làm của mình. Với những cuộc thi lớn hơn, khi các giám thị coi thi nghiêm túc hơn, khi các bạn xung quanh không cho chép bài thì chúng ta sẽ ra sao? Không có kiến thức mà vẫn lên lớp ắt dẫn đến tình trạng ngồi nhầm lớp. Xã hội ngày càng phát triển, không kiến thức thì mình sẽ làm gì? Liệu ta có thể là gánh nặng của xã hội hay không? Dân tộc ta, đất nước ta sẽ ra sao khi những con người bất tài làm chủ nhân? Việc quay cóp trong giờ kiểm tra còn làm cho các thầy cô mất lòng tin đối với ta, làm nảy sinh sự nghi ngờ và làm sứt mẻ mối quan hệ thầy trò thiêng liêng. Không chỉ vậy, chúng ta còn tự tạo ra cơ hội cho mình dối trá, tự bôi bẩn nhân phẩm, tư cách của mình. Thật xấu hổ cho những ai mắc bệnh quay cóp! Việc quay cóp là cực kì đáng chê trách, nó có tác hại rất nhiều và hết sức to lớn đối với tương lai của học sinh và tương lai của đất nước. Bản thân chúng ta cần phải hiểu điều đó để trách xa việc quay cóp.
Đặt vấn đề: Chăm sóc và bảo vệ trẻ em lang thang cỡ nhỡ là trách nhiệm của toàn xã hội.
Giải quyết vấn đề:
* Thực trạng trẻ em lang thang cơ nhỡ:
- Theo số liệu của Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em, năm 2003 cả nước có trên 21.000 trẻ em lang thang cơ nhỡ, đông nhất là ở TP.HCM với 8.500 em. Năm 2008, mặc dù đã được các cá nhân, tổ chức thu nhận về những mái ấm tình thương để nuôi dạy nhưng hiện vẫn còn trên 10.000 trẻ em không nơi nương tựa. Con số này không ngừng gia tăng.
- Trẻ em đường phố đối diện với nguy cơ thất học cao và rơi vào tệ nạn xã hội.
- Trẻ em đường phố đang có nguy cơ phạm tội ngày càng tăng; nạn xin ăn tràn lan ảnh hưởng tới văn minh đô thị.
- Trẻ em đang bị bóc lột sức lao động và nguy cơ bị xâm hại tình dục rất cao.
* Nguyên nhân
- Do đói nghèo: Trẻ đường phố thường xuất thân từ các gia đình nông dân nghèo hoặc gia đình mà bố mẹ không có việc làm, khó khăn về kinh tế và đông con (77% trẻ bỏ nhà ra đi vì gia đình nghèo khổ).
- Do tổn thương tình cảm như: bị gia đình ruồng bỏ, từ chối hoặc đánh đập (23%).
- Còn lại là do mồ côi hoặc các trường hợp bố mẹ li hôn.
* Hiện nay, những "mái ấm tình thương" đang xuất hiện ngày càng nhiều ở nước ta, nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp.
* Ý nghĩa:
Chăm sóc và bảo vệ trẻ em lang thang cơ nhỡ là trách nhiệm không chỉ của cá nhân mà còn là của toàn xã hội. Điều này không chỉ có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa kinh tế mà quan trọng hơn là giúp cho các em hướng thiện, đưa các em đi đúng với quỹ đạo phát triển tích cực của xã hội. Đây là tình cảm tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách... biểu hiện của truyền thống nhân đạo ngàn đời nay của dân tộc Việt Nam.
* Các tổ chức cá nhân tiêu biểu:
Tổ chức: Làng trẻ em SOS; Làng trẻ em Hòa Bình ( Từ Dũ); Cô nhi viện Thánh An ( Giáo phận Bùi Chu, Xuân Trường, Nam Định); Chùa Kì Quang II ( Gò Vấp); Chùa Bồ Đề (Huế)...
Cá nhân: Mẹ Phạm Ngọc Oanh ( Hà Nội) với 800 đứa con tình thương; Anh Phạm Việt Tuấn với mái ấm KOTO ( Hà Nội); Thầy Koyama với mái ấm tình thương 37, Nguyễn Trãi, Huế...
* Quan điểm và biện pháp nhân rộng
Quan điểm: Có cái nhìn đúng đắn về hiện tượng trẻ em lang thang cơ nhỡ từ đó nâng cao tình cảm và trách nhiệm đối với hiện tượng ấy. Lên án và kịp thời phát hiện, tố cáo những kẻ bóc lột sức lao động và xâm hại trẻ em.
Biện pháp nhân rộng:
Dùng biện pháp tuyên truyền.
Kêu gọi các cá nhân, tổ chức.
Quyên góp tiền cho các hoạt động từ thiện.
Thành lập đội thanh niên tình nguyện
Những năm gần đây, có một thực trạng đáng báo động đó là tình trạng học sinh coi thường các môn học Khoa học xã hội và nhân văn. Ở xu thế xã hội nào, các môn học này vẫn có vai trò vô cùng quan trọng đến nhân cách và văn hóa ứng xử. Do đó, học sinh coi thường các môn xã hội đã gây ra những tác hại nghiêm trọng và ảnh hưởng không nhỏ của mỗi học sinh. Vậy nguyên nhân dẫn đến những thái độ đó của học sinh là gì?
Trước tiên có thể thấy, các môn khoa học xã hội và nhân văn đã không tạo được niềm hứng thú đối với các môn khoa học tự nhiên. Thường ngày trong chương trình học không chỉ có các môn tự nhiên, các môn xã hội mà còn có rất nhiều môn học khác như sinh học, thể dục. Vì vậy các em không những học bài mà còn phải chuẩn bị rất nhiều bài tập trước khi đến lớp. Thêm vào đó, các môn khoa học xã hội như văn học, lịch sử, địa lí... kiến thức vô cùng rộng với những sự kiến thức dài dễ tạo ra học sinh cảm giác chán nản, mệt mỏi. Không như các môn khoa học xã hội và nhân văn, các môn tự nhiên tạo được cho học sinh nhiều hứng thú hơn với những con số, công thức ngắn gọn, dễ nhớ, dễ học thuộc, từ đó các môn này tạo cho học sinh được cảm giác kích thích, đào sâu suy nghĩ và tìm tòi hướng giải quyết.
Thứ đến phải kể là cách giảng dạy của giáo viên. Cách học “cô đọc trò chép” đã làm cho học sinh trở nên thụ động, lười suy nghĩ. Chính vì vậy, những giờ học môn khoa học xã hội và nhân văn đã không được học sinh yêu thích và coi trọng.
Khi nhìn nhận một vấn đề ta không chỉ nhìn từ một phía, có thể thấy do bản chất của các môn học xã hội, do cách truyền đạt của giáo viên mà học sinh coi thường các môn học xã hội nhưng đã bao giờ ta thử lật ngược lại vấn đề? Nếu như các bạn học sinh yêu thích các môn học xã hội thì liệu có dẫn đến tình trạng chán nản đó hay không?
Gorki đã từng nói: “Văn học là nhân học” tức là Văn học không chi cung cấp những kiến thức về môn học đó nói chung mà các môn học xã hội còn hướng con người sống “chân, thiện, mỹ, giúp con người yêu thương con người hơn.
Hậu quả của việc coi thường các môn khoa học xã hội và nhân văn để lại là vô cùng nghiêm trọng, tác hại của sự thiên lệch trong tư duy đã làm cho một số học sinh rơi vào những cảnh tiếc nuối. Và chỉ khi ở trong những cảnh tiếc nuối đó, học sinh học lệch mới thấy học đều các môn tốt biết bao.
Nhìn chung, vấn đề học sinh coi thường các môn học khoa học xã hội và nhân văn đang được rất nhiều nhà trường quan tám. Vì vậy, ta nên có thái độ tích cực và bình đẳng đối với tất cả môn khoa học xã hội và nhân văn và các môn học tự nhiên. Như vậy, ta vừa có thêm kiến thức, vừa không gặp những rủi ro mà việc học đem lại.
Có ba nguyên nhân chính dẫn đến việc không thích học môn văn của học sinh:
- Trước hết là do nhận thức và ý thức của các bạn học sinh chưa đúng. Các bạn ấy chưa nhận thức được tầm quan trong của môn văn, chưa nhận thấy những ứng dụng vào thực tế của môn văn là như thế nào. Học văn là phải viết nhiều, đọc nhiều, tìm hiểu chuyên sâu ý nghĩa câu văn nhưng học sinh ngày nay quá lười biếng, bỏ bê việc cầm bút để rồi dần dần đâm ra ngại viết, lâu lâu không viết dẫn đến kĩ năng cơ bản của việc viết văn bị mai một, cô giáo giao bài tập về nhà thì vứt đấy với một suy nghĩ tiêu cực "việc hôm nay hãy để ngày mai!". Đến kì thì cử thì "không sao đã có văn mẫu" một khẩu hiệu như một câu cửa miệng quá đỗi quen thuộc với học sinh ngày nay, học môn văn đối với các bạn ấy chỉ là để đủ điểm sàn cho học sinh giỏi, đủ điểm để lên lớp vì môn văn là môn bắt buộc.
- Nguyên nhân thứ 2 là do sự nhìn nhận của phụ huynh, nhà trường và xã hội. Xã hội, nhà trường không coi trọng môn văn, chỉ chú trong vào các môn tự nhiên như toán, lí, hóa, thi đại học thì khối A chỉ độc môn tự nhiên, rất ít các cuộc thi lớn dành cho môn văn, như vậy là không khuyến khích học sinh học môn văn còn phụ huynh dưới cái nhìn nhận của xã hội muốn con em mình học giỏi các môn tự nhiên, những môn thiên về tư duy, những môn học được cho là vận dụng nhiều chất xám và trí thông minh chính vì vậy họ bắt ép con em mình theo đuổi các môn toán học, vật lí, hóa học, thậm chí một số người còn cấm con em mình học môn văn.
- Một nguyên nhân nữa đó là do những người có trách nhiệm-những giáo viên dạy bộ môn văn. Nguyên nhân khách quan khiến học sinh ghét, chán học môn văn là do giáo viên dạy văn. Những giáo viên này còn nhiều hạn chế về năng lực. Nước ta có rất nhiều trường Cao đẳng sư phạm trong khi các trường Đại học sư phạm là rất ít, mà phần lớn những người thi trượt các trường Đại học mới vào học trong trường sư phạm, như vậy ngay bản thân họ đã không có lòng yêu thích, đam mê nghề dạy học mà chỉ là do hoàn cảnh bắt buộc nên họ mới chọn con đường sư phạm. Những người như thế thử hỏi lấy nhiệt huyết ở đâu ra, niềm đam mê ở đâu ra để mà truyền thụ cho học sinh? Có một số người đi làm chỉ để kiếm tiền với cái vốn kiến thực học trong trường mà không tìm tòi, thường xuyên mở mang kiến thức, không bao giờ đổi mới khiến cho học sinh cảm thấy nhàm chán, trình độ giảng dạy kém khiến học sinh không hiểu bài, nghe giảng mà cứ như sao bay vòng vòng trên đầu và vô tình bước vào giấc mộng hồng tự lúc nào không hay. Văn học là sự sáng tạo về việc biểu đạt ngôn ngữ, ý tưởng những sự thật việc học văn ở trường không như thế. Cấp một, giáo viên dạy văn cho học sinh, để viết một bài văn ngắn là áp dụng cấu trúc 3 câu một bài văn. Ví dụ đề bài là miêu tả con vật, cô giáo hướng dẫn mở bài là :"em rất yêu con mèo của em" thân bài:"dáng nó nhỏ, lông trắng,đầu bằng một phần 3 thân, mắt nó thế nào, mồm nó ra sao rồi abc,xyz...v.v.." và kết bài "em rất yêu con mèo của em." Như vậy là xong một bài văn! Mà hầu hết các bài đểu có cấu trúc như trên, học sinh nào thông minh thì viết dài hơn được 4,5 câu, thân bài chỉ mang tính chất liệt kê, so sánh, cảm xúc gần như không có. Lên đến cấp 2 thì việc học văn khó khăn hơn là phải tiếp xúc các tác phẩm, số tiết văn nhiều lên, các kiến thức đi sâu và nhiều hơn là hồi tiểu học chỉ hời hợt. Tuy nhiên, những ý tưởng viết văn táo bạo và mới mẻ của học sinh vẫn bị hạn chế, những suy nghĩ thực tế của học sinh không được giáo viên chấp nhận mà phải đi theo một khuân mẫu như trong sách giải. Điều này khiến học sinh cảm thấy học môn văn một cách máy móc, gò bó. Giáo viên không biết linh động trong việc lắng nghe cảm nhận của học sinh, chấm một bài văn theo một biểu điểm có sẵn. Đó chính là những mặt rất hạn chế trong phương pháp dạy học.
mình cho rằng việc tô son,đánh phấn (trang điểm nói chung) không phải là một việc hay. Thực sự nó ko làm bạn đẹp hơn vì tuổi trẻ vẻ đẹp trong sáng thánh thiện là đã tột đỉnh rồi. Ngoài ra, việc tô son đánh phấn làm các anh(chj) bị phân tâm và cả mn xung quanh nx. Thay vì tập trung vào hc thì ta phân tâm vào việc hiệu quả của việc trang điểm của mk sẽ ra sao, như thế nào. Cha mẹ nên khuyên nhủ và định hướng cho con bỏ thói quen tô son hay trang điểm, mua cho con son dưỡng ko màu ko mùi là sẽ giải quyết được chuyện môi bị khô
(ý kiến của tui)