K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

22 tháng 3 2017

chao

22 tháng 3 2017

1. Tình hình nông nghiệp ở các thế kỷ XVI - XVIII
- Từ cuối thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XVII, nông nghiệp sa sút, mất mùa đói kém liên miên, bị chiến tranh tàn phá
- Từ nửa sau thế kỷ XVII, tình hình chính trị ổn định, nông nghiệp ở Đàng Trong và Đàng Ngoài phát triển:
+ Ruộng đất ở cả 2 đàng mở rộng, nhất là ở Đàng Trong.
+ Thủy lợi được củng cố.
+ Giống cây trồng ngày càng phong phú.
+ Kinh nghiệm sản xuất được đúc kết.
Ở Đàng Trong: ruộng đất nhanh chóng mở rộng, đất đai phì nhiêu, thời tiết thuận lợi, trồng lúa, hoa màu, cây ăn trái. Ở cả 2 Đàng chế độ tư hữu ruộng đất phát triển. Ruộng đất ngày càng tập trung trong tay địa chủ.
2. Sự phát triển của thủ công nghiệp
- Nghề thủ công cổ truyền tiếp tục phát triển đạt trình độ cao: dệt, gốm,rèn sắt, đúc đồng, làm đồ trang sức..
- Một số nghề mới xuất hiện như: khắc in bản gỗ, làm đường trắng, làm đồng hồ, làm tranh sơn mài.
- Khai mỏ - một ngành quan trọng rất phát triển ở Đàng Trong và Đàng Ngoài.
- Các làng nghề thủ công xuất hiện ngày càng nhiều như làm giấy, gốm sứ, nhuộm vải …..
- Nét mới trong kinh doanh: ở các đô thị thợ thủ công đã lập phường hội, vừa sản xuất vừa bán hàng.
3. Sự phát triển của thương nghiệp.
* Nội thương: ở các thế kỷ XVI - XVIII buôn bán trong nước phát triển:
- Chợ làng, chợ huyện... xuất hiện làng buôn và trung tâm buôn bán
- Buôn bán lớn (buôn chuyến, buôn thuyền) xuất hiện.
- Buôn bán giữa miền xuôi và miền ngược phát triển, thóc gạo ở Gia Định được đem ra các dinh miền Trung để bán ….
* Ngoại thương phát triển mạnh.
- Thuyền buôn các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp, Anh đến VN buôn bán tấp nập:
+ Bán vũ khí, thuốc súng, len dạ, bạc, đồng…..
+ Mua: tơ lụa, đường gốm, nông lâm sản.
- Thương nhân nhiều nước đã tụ hội lập phố xá, cửa hàng buôn bán lâu dài.
- Giữa thế kỉ XVIII ngoại thương suy yếu dần do chế độ thuế khóa của nhà nước ngày càng phức tạp.
4. Sự hưng khởi của các đô thị
- Nhiều đô thị mới hình thành phát triển:
+ Đàng Ngoài: Thăng Long ( Kẻ chợ), Phố Hiến (Hưng Yên).
+ Đàng Trong: Hội An (Quảng Nam), Thanh Hà (Phú Xuân - Huế)
- Đầu thế kỉ XIX đô thị suy tàn dần.

22 tháng 3 2017

đầu XVIII, đất nước diễn ra các cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến cầm quyền (Mạc - Trịnh, Trịnh - Nguyễn...) và điều đó đã ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp, nhất là vào các thời điểm quyết liệt của cuộc chiến ở những vùng trở thành bãi chiến trường. Trong hoàn cảnh đó, những người trực tiếp sản xuất đã nỗ lực gấp bội để duy trì cuộc sống, xây dựng quê hương, bản quán. Mặc dù nhà nước Lê - Trịnh ở Đường ngoài, chúa Nguyễn ở Đường trong không còn đóng vai trò quan trọng được như thời Lý, Trần, Lê sơ, nhưng nông dân ở cả hai vùng vẫn tiếp nối được truyền thống lao động cần cù, duy trì và trong một mức độ, đã thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp phát triển.

Công cuộc khai hoang lập làng xóm mới, mở rộng thêm diện tích đất đaicanh tác tiếp tục được thực hiện ở nhiều địa phương trong cả nước, nhất là vùng đồng bằng, ven biển.

Ở Đường ngoài, hàng chục vạn mẫu đất đai được khai khẩn đưa vào sản xuất.

Ở vùng trung du thuộc các tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, công cuộc khẩn hoang cũng được tiến hành mạnh. Nhiều người nuớc ngoài có mặt ở Đường ngoài thời đó đã rất ngợi ca sự trù phú của đất đai. Giáo sĩ Marini trong tập ký sự về Đường ngoài đã để hẳn một chương để mô tả "sự màu mỡ của Vương quốc" này ("Vương quốc xứ Đàng ngoài"). Marini viết: "Đất đai màu mỡ và không lúc nào nghỉ sản xuất. Nhân dân rất hiểu giá trị của ruộng đất nên không bỏ hoang và những người nội trợ giỏi, sau khi thuhoạch mùa màng xong, lập tức lại cày bừa ngay và gieo hạt. Và như vậy mỗi năm họ thường thu được 2, 3 vụ. Ở những nơi nào không trồng lúa được thì họ trồng cây ăn quả và thu hoạch lớn. Cây cối tươi tốt đến nỗi lúc nào cũng chỉ thấy một màu xanh tựa như một khu rừng với một mùa xuân vĩnh viễn".

Marini còn ca ngợi sự giàu có, phong phú của các cây công nghiệp như mía, bông, đay, dâu. Lái buôn Đampiê vào Đường ngoài năm 1688 cũng có nhận xét: "ở đây có nhiều thóc gạo, nhất là ở các vùng đất thấp là chỗ được những con sông tràn ngập làm cho màu mỡ. Hàng năm người ta cấy gặt hái mùa, thu hoạch được rất nhiều".

Đampiê ca ngợi sự trù phú của nghề làm vườn, trồng cây ăn quả, trồng rau, trồng dâu nuôi tằm. Trong Vân đài loại ngữ của nhà sử học nổi tiếng Lê Quý Đôn, tác giả đã viết về sự phong phú của nông nghiệp Đường ngoài bấy giờ như sự phổ biến của cây ngô, cao lương, kê, hàng loạt các loại giống lúa tẻ và nếp (tám giống lúa chiêm, 27 giống lúa mùa, 29 loại lúa nếp), hàng loạt loại hoa quả khác như: bảy thứ cam, chín loại chuối, nhiều loại vải, quýt, xoài, v.v.. ông còn viết: "Đất ruộng màu mỡ nghìn dặm, đồng bằng muôn khoảnh, một năm cấy được hai mùa, mỗi mẫu sản xuất trị giá được hơn 200 quan tiền". Kỹ thuật sản xuất được đúc kết trên cơ sở kinh nghiệm thực hiện bốn khâu: nước, phân, cần, giống.

Tình hình trên cho thấy nền kinh tế nông nghiệp ở Đường ngoài trong các thế kỷ XVI-XVII đầu XVIII vẫn có sự phát triển trên cả hai mặt quảng canh và thâm canh. Đây là một biểu hiện rõ nét về sự ổn định của quan hệ sản xuất phong kiến và sự phát triển của chế độ phong kiến ở Đường ngoài bấy giờ.

Ở Đường trong, những người nông dân, nhất là lực lượng nông dân lưu tán đã tích cực và chủ động đẩy mạnh công cuộc khai phá đất đai dưới những hình thức và quy mô khác nhau (tự động khai phá, khai hoang do các nhà giàu, có thế lực đứng ra chiêu tập, thuê mướn..)

Đối với những dân lưu tán từ Đường ngoài vào vùng Thuận Quảng, chúa Nguyễn khuyến khích họ khẩn hoang lập làng, ruộng đất khai khẩn trở thành công điền chia cho người khai phá và họ nộp tô cho nhà nớc, có một bộ phận được nhà nước chia cho họ làm tư điền, gọi là bản bức tư điền.

Đối với bộ phận ruộng đất khẩn hoang do các nhà giàu có tổ chức khai khẩn, trong đó có một bộ phận là những người cùng quê hương với chúa Nguyễn ở Thanh Hoá theo chúa vào Thuận Quảng, còn đại bộ phận là các địa chủ ở miền Nam Bộ, thì nhà nước cho phép biến thành ruộng đất tư của người chủ đứng ra tổ chức khai hoang. Ngoài ra, các chúa Nguyễn còn sử dụng các tù binh và những người dân quê ở Nghệ An bị bắt trong chiến tranh Trịnh - Nguyễn vào việc khẩn hoang.

Đối với các vùng đất phía nam, ban đầu các chúa Nguyễn dựa vào những người Việt đã sinh sống lâu đời ở đây lập thành xóm làng và tiếp tục công cuộc khẩn hoang. Về sau số người lưu tán từ Thuận Quảng vào ngày càng nhiều, chúa Nguyễn đã cho phép và khuyến khích các quan lại, địa chủ mộ người phiêu tán đi khẩn hoang và làm chủ tất cả ruộng đất khai phá. Với cách khẩn hoang này, chúa Nguyễn đã tạo nên một tầng lớp đại địa chủ rất giàu có ở Đường trong, là cơ sở xã hội vững chắc ủng hộ chính quyền mới.

Các chúa Nguyễn còn sử dụng quân đội vào công việc khai hoang lập đồn điền cho nhà nước.

Nhờ có chủ trương đẩy mạnh công cuộc khai phá đất đai và nhờ vào sức lao động cần cù, bền bỉ của những người dân lao động, trong đó có một bộ phận đông đảo từ Đường ngoài vào, Đường trong đã trở thành một vùng đất trù phú, đất đai canh tác và làng xóm được mở rộng. Theo sử cũ, cho đến giữa thế kỷ XVIII, Thuận Hoá đã có 265.507 mẫu trong số đó có 153.181 mẫu là ruộng đất đã sản xuất từ lâu đời. Như vậy, trong thời kỳ các chúa Nguyễn đã mở rộng thêm được 112.326 mẫu. Năm 1674, tổng số diện tích ruộng đất canh tác từ Quảng Nam vào đến Gia Định là 270.000mẫu, chưa kể diện tích đất bãi, đất quan đồn điền, quan điền trang của nhà nước.

- Ruộng đất ở Đường trong gồm có hai bộ phận như ở Đường ngoài.Một bộ phận thuộc quyền sở hữu của nhà nước và một bộ phận thuộc quyền sở hữu tư nhân, nhưng cũng có những đặc điểm riêng.

Bộ phận ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước có hai loại: loại quan đồn điền và quan điền trang và loại ruộng đất công ở các làng xã. Quan đồn điền và quan điền trang do nhà nước trực tiếp quản lý tương tự như loại ruộng quốc khố, ruộng quan ở Đường ngoài. Ở Thuận Hoá, loại ruộng này nhiều hơn ở các nơi khác, tổng số diện tích loại này ở Thuận Hoá có tới 6494 mẫu quan đồn điền và 1524 mẫu quan điền trang trong tổng số 153.181 mẫu ruộng đất của toàn xứ. Họ Nguyễn lấy một phần ruộng đất này ban cấp cho tầng lớp quý tộc và quan lại cao cấp làm ngụ lộc, nhưng chế độ ban cấp ruộng đất ở Đường trong rất nhỏ hẹp do tầng lớp quan lại quý tộc hầu hết đã là những đại địa chủ do chính sách khẩn hoang của các chúa Nguyễn tạo nên. Bổng lộc của quan lại chủ yếu là lấy dân. Ruộng đất cấp cho quan lại làm ngụ lộc chỉ từ 10 mẫu (cho đại thần, quý tộc), chưởng cơ chỉ được 5 mẫu, cai cơ 4 mẫu, cai đội 4,5 mẫu, đội trưởng 2 hoặc 3 mẫu. Số điền trang, đồn điền còn lại nhà nước giao cho dân cày và họ nộp tô theo quan hệ phát canh thu tô, hay giao cho tù nhân cày cấy theo quan hệ nông nô. Trong thực tế, bộ phận quan đồn điền, quan điền trang thuộc sở hữu riêng của nhà chúa, thu tô thuế để chi dùng trong nội phủ của gia đình chúa Nguyễn.

Ruộng đất công làng xã cũng thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước phong kiến. Nhà nước chia cho nông dân cày và họ nộp tô theo định kỳ. Ruộng đất công chia làm ba hạng để quy định suất phải nộp cho nhà nước:

Hạng 1: mỗi mẫu nộp 40 thăng thóc và 8 hợp gạo.

Hạng 2: mỗi mẫu nộp 30 thăng thóc và 6 hợp gạo.

Hạng 3: mỗi mẫu nộp 20 thăng thóc và 4 hợp gạo.

Đặc điểm của tình hình ruộng đất ở Đường trong là ở vùng Thuận Quảng, loại công điền nhiều nhưng càng vào phía nam tỷ lệ càng giảm dần và ở vùng Gia Định, công điền chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Phần lớn bộ phận ruộng đất thuộc quyền sở hữu tư nhân. Những người có loại ruộng đất này là địa chủ, quan lại, nông dân tư hữu, chủ yếu là của địa chủ, quan lại. Ở Nam bộ đã hình thành một tầng lớp đại địa chủ rất giàu có, "mỗi nhà có đến 50, 60 điền nô, trâu bò có đến 300 con, cày bừa, trồng cấy, gặt hái không lúc nào rỗi". Các chúa Nguyễn cho phép địa chủ, quan lại được nuôi nô tỳ, hợp pháp hoá việc buôn bán nô tỳ "đem con trai con gái người man ở các đầu nguồn bán cho dân làm nô tỳ. Người da nâu tóc quăn giá tiền 20 quan một người, người da trắng hơn giá 10 quan. Chúng lấy nhau, sinh sôi, khôn lớn, làm ruộng khoẻ nên thóc gạo ở đây rất nhiều’.

Giai cấp địa chủ ở Đường trong chủ yếu cũng phát canh thu tô, bóc lột theo quan hệ địa chủ - tá điền, nhưng ở một số nơi vẫn còn duy trì chế độ nô tỳ, trong khi chế độ nô tỳ ở Đường ngoài đã suy tàn và về căn bản đã bị thủ tiêu.

Do có đất đai màu mỡ, được khai khẩn nhiều, nhất là ở phương nam mà nền kinh tế nông nghiệp ở Đường trong trong các thế kỷ XVI - XVII đầuXVIII khá phát triển.

- Sự phát triển của kinh tế hàng hoá và sự hưng khởi của thành thị.

Những biến diễn và phát triển của nông nghiệp trong các thế kỷ XVI-XVIIvà đầu thế kỷ XVIII đã có tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá bấy giờ ở cả Đường ngoài và Đường trong.

Sự tăng cường buôn bán với các thương nhân nước ngoài và việc tiếp xúc với luồng thương mại tư bản chủ nghĩa phương Tây càng kích thích thêm sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Thủ công nghiệp phát triển thêm một bước, buôn bán phồn vinh, những thành thị hưng khởi, những mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có điều kiện nảy sinh.Trong nhân dân, các nghề thủ công truyền thống tiếp tục phát triển và trở nên phổ biến rộng khắp ở nhiều làng xã. Nghề làm gốm được cải tiến, nâng cao trình độ kỹ thuật và mỹ thuật, đã xuất hiện các lò gồm lớn nổi tiếng như Chu Đậu, Hợp Lễ (Hải Dương), Bát Tràng nay thuộc Gia Lâm - Hà Nội. Nhiều làng, nghề thủ công chuyên nghiệp nổi tiếng ra đời như làng Mỹ Thiện (Quảng Ngãi), Phú Trạch (Thừa Thiên) làm nồi đất nung, dệt chiếu, lụa hoa, làng Thổ Hà (Bắc Ninh), Hương Canh (Phú Thọ) chuyên sản xuất chum vại, vò, chĩnh, làng Yên Thái (Hà Nội) chuyên làm giấy...Nổi tiếng nhất là nghề dệt vải, lụa. Hầu như các làng xã Đường ngoài đều làm nghề trồng bông dệt vải, chăn tằm dệt lụa. Ngườ...

22 tháng 3 2017

các bạn tóm tắt ngắn một chút được ko. Các bạn biết đấy tiết dự giờ cho thời gian học sinh thảo luận nhóm và viết kq vào phiếu học tập có 5 phút thôi.gianroi

22 tháng 3 2017

khocroi XIN LỖI NHÉ

22 tháng 3 2017

Hổng sao đâuhaha

* Kinh tế :

1. Nông nghiệp :

_ Đàng ngoài :

+ Thời Mạc : nhân dân no đủ

+ Thời chiến tranh Trịnh - Nguyễn : ruộng vườn bỏ hoang cuộc sống vô cùng cực khổ.

_ Đàng trong :

+ Chúa Nguyễn khai hoang, lập làng; năm 1698 : chúa Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định

==> Hình thành địa chủ chiếm đất

2. Thủ công, buôn bán :

_ Xuất hiện nhiều làng nghề

_ Buôn bán mở rộng

* Văn hóa :

1. Tôn giáo :

_ Từ thế kỉ XVI - XVII :

+ Nho giáo được coi trọng

+ Phật giáo, đạo giáo được phục hồi

_ Thế kỉ XVII - XVIII :

+ Được các giáo sĩ nước ngoài truyền bá thiên chúa giáo

_ Nếp sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng vẫn được duy trì

2. Văn học, nghệ thuật dân gian :

_ Thế kỉ XVI - XVII : văn học chữ hán vẫn chiếm ưu thế song song với văn học chữ nôm

_ Thế kỉ XVII : các giáo sĩ truyền bá chữ cái la tinh phiên âm tiếng việt và thành chữ quốc ngữ : là nhữ viết tiện lợi và khoa học

Tick cho mk nha bn

giờ còn kịp k bn

9 tháng 4 2017

Bình Trần ThịBình Trần ThịBình Trần Thị

giúp em với

9 tháng 4 2017

Bình Trần Thị๖ۣۜÁc☼๖ۣۜQuỷSen PhùngDoraemonTrân Cao Anh TriêtTrương Hồng Hạnhhelp me

21 tháng 11 2017

Văn minh, hiện đại nhưng Hà Nội vẫn giữ được nét truyền thống cổ kính, là một trong những nơi đông dân nhất và có nền kinh tế phát triển nhất Việt Nam.

CHÚC BẠN HỌC TỐT ♪♫♬

22 tháng 11 2017

cảm ơn bạn nhahihihihihihihihihihihihi

3 tháng 10 2017

Mục tiêu tấn công của ta chỉ là các căn cứ quân sự, kho lương thảo - là những nơi quân Tống chuẩn bị cho cuộc tiến công xâm lược nước ta.Việc chủ động tấn công để tự vệ của nhà Lý có ý nghĩa :

- Mục tiêu tấn công của ta chỉ là các căn cứ quân sự, kho lương thảo - là những nơi quân Tống chuẩn bị cho cuộc tiến công xâm lược nước ta. Nên cuộc tiến công của ta mặc dù sang đất Tống nhưng là chính đáng. Trên đường tiến công, quân ta treo bảng nói rõ mục đích của mình, khi thực hiện xong mục đích ta chủ động rút khỏi đất Tống - "Tiến công trước để tự vệ" là một chủ trương độc đáo, sáng tạo. Tiến công để tự vệ chứ không phải là xâm lược. Thắng lợi này là đòn phủ đầu, làm cho quân Tống hoang mang, bị động

23 tháng 10 2018

Việc chủ động tấn công để tự vệ của nhà Lý có ý nghĩa :
- Mục tiêu tấn công của ta chỉ là các căn cứ quân sự, kho lương thảo - là những nơi quân Tống chuẩn bị cho cuộc tiến công xâm lược nước ta. Nên cuộc tiến công của ta mặc dù sang đất Tống nhưng là chính đáng. Trên đường tiến công, quân ta treo bảng nói rõ mục đích của mình, khi thực hiện xong mục đích ta chủ động rút khỏi đất Tống.
- "Tiến công trước để tự vệ" là một chủ trương độc đáo, sáng tạo. Tiến công để tự vệ chứ không phải là xâm lược. Thắng lợi này là đòn phủ đầu, làm cho quân Tống hoang mang, bị động.

CHÚC BẠN HỌC TỐT !

14 tháng 9 2017

thành thị trung đại vì ở đây được buôn bán trao đổi hàng hóa với bên ngoài,lập xưởng sản xuất.còn ở lãnh địa phong kiến thì bị bóc lột chèn ép,nền kinh tế tự cung tự cấp ko trao đổi với thế giới bên ngoài

P/S:mình không chắc nha bạnhihi

14 tháng 9 2017

tick hộ mình nha

1 tháng 3 2017

Sông Giang - ranh giới chia cắt đất nước thành 2 đang: đàng trong( từ sông Giang trở vào) và đàng ngoài( từ sông Giang trở ra).

1 tháng 3 2017

k có lược đồ thì làm s mk xác định được

8 tháng 3 2017

-Kết thúc 20 năm đô hộ tàn bạo của nhà Minh

-Nhờ tình hình kinh tế xã hội phát triển, chính trị, quân sự, pháp luật đượccủng cố và ổn định; triều đình nhà Lê đã đưa nước ta trở thành một trong những nước cường thịnh nhất Đông Nam Á thời bấy giờ.

Theo ý của mk là thế, có gì sai thì giúp mk nha hihi

9 tháng 10 2017

1. Phong Châu ( Văn Lang)

2. Cổ Loa (Âu Lạc)

3. Hoa Lư (Đại Cồ Việt)

4. Thăng Long(Đại Việt)

9 tháng 10 2017

câu này dễ mà đậubucminh

14 tháng 9 2017

Những biểu hiện sự phát triển thịnh vượng của nhà Đường về : tổ chức nhà nước, kinh tế, đối ngoại. Đồng thời, giải thích được vì sao đến thời Đường, xã hội Trung Quốc phát triển thịnh vượng (đất nước thống nhất, chính quyền vững mạnh, là cơ sở để đẩy mạnh phát triển kinh tế,...).

14 tháng 9 2017

Dưới thời Đường nha, ghi lộn