K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

28 tháng 9 2021

Tham khảo:

Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội và là một trong những việc làm cần thiết mà mỗi người trong chúng ta cần phải làm. Hiện nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, bên cạnh tiếp thu và Việt hóa được nhiều cái hay, cái đẹp của tiếng nói, chữ viết nước ngoài, thì sự trong sáng của tiếng Việt đang bị ảnh hưởng tiêu cực. Biểu hiện rõ ràng nhất là sự lai căng tiếng nói, chữ viết của nước ngoài ngày một tăng. Dường như ngày càng có nhiều người, nhất là lớp trẻ, khi nói và viết tiếng Việt thường chen tiếng nước ngoài. Biểu hiện dễ thấy nhất là việc sử dụng thường xuyên những từ như: show (biểu diễn), live-show (biểu diễn trực tiếp), nhạc classic (nhạc cổ điển), nhạc country (nhạc đồng quê), nhạc dance (nhạc nhảy), các fan (người hâm mộ)… thay cho chữ Việt vốn đã có sẵn, đủ nghĩa, dễ hiểu, trong sáng. Cách diễn đạt này đôi khi sẽ gây nên sự khó hiểu, làm mất đi tính mạch lạc của đoạn hội thoại. Đồng thời, do ngôn ngữ còn tác động đến quá trình hình thành nhân cách, sử dụng tràn lan các từ ngữ nước ngoài không tránh được việc tạo ra tâm lí sính ngoại, coi nhẹ văn hóa cũng như đồ dùng Việt Nam. Sinh thời, Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng thường tự mình nêu gương sáng và thường nhắc nhở mọi người tránh bệnh nói chữ, sính dùng từ gốc Hán khi có thể diễn đạt bằng tiếng Việt. Thiết nghĩ, học theo những tấm gương ấy, Nhà nước nên có quy định chặt chẽ, xây dựng quy định chuẩn về việc dùng từ tiếng nước ngoài trong các văn bản, nhất là văn bản chính thức của Nhà nước. Các trường học cũng phải chú trọng, đẩy mạnh giáo dục học sinh giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Tất cả chúng ta cần ý thức được vẻ đẹp, giá trị của tiếng mẹ đẻ, nâng niu, giữ gìn nó trong từng lời nói hàng ngày. Bởi, đúng như nhà văn hóa Phạm Quỳnh từng nói: “Tiếng ta còn, nước ta còn”. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cũng là một cách để ta thể hiện tinh thần dân tộc, tình yêu quê hương đất nước.

17 tháng 9 2025

Trong đoạn trích Hòn Đất, việc lựa chọn người kể chuyện và điểm nhìn nghệ thuật thể hiện sự phù hợp sâu sắc với chủ đề tác phẩm – ca ngợi tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất của người cách mạng, đặc biệt là nhân vật chị Sứ. Tác phẩm sử dụng ngôi kể thứ ba toàn tri, nhưng điểm nhìn trần thuật lại chủ yếu đặt vào nhân vật Tư – người đồng đội gần gũi với chị Sứ. Chính qua góc nhìn đầy xúc động của Tư, người đọc cảm nhận được rõ nét hình tượng chị Sứ: một người phụ nữ nhỏ bé nhưng giàu lý tưởng, gan góc, sẵn sàng hi sinh vì quê hương. Điểm nhìn từ Tư không chỉ làm tăng tính chân thực, khách quan mà còn tạo chiều sâu cảm xúc, giúp người đọc thêm thấu hiểu và cảm phục. Việc lựa chọn người kể chuyện như vậy đã góp phần thể hiện rõ chủ đề của đoạn trích: ngợi ca phẩm chất anh hùng cách mạng, tôn vinh vẻ đẹp của con người Việt Nam trong kháng chiến. CHO MÌNH XIN TICK

17 tháng 9 2025

Hâhhhahahahahahau

5 tháng 10 2025

như này hay hok bạn

Nhân vật hài kịch khiến em ấn tượng nhất trong đoạn trích *Quan thanh tra* của Gogol là viên Đốc học. Ông ta là hình ảnh tiêu biểu cho kiểu người lãnh đạo giáo dục nhưng lại thiếu năng lực và đầy giả dối. Ngay khi nghe tin quan thanh tra đến, ông vô cùng lo sợ, cuống cuồng tìm cách che giấu khuyết điểm, đặc biệt là việc dạy học nhồi nhét, hình thức. Đáng chú ý nhất là sự lo âu đến mức buồn cười của ông khi mô tả các thầy giáo – người thì "trợn mắt", người thì "nghiến răng", mà vẫn cố giữ cho ra vẻ nghiêm túc. Viên Đốc học không lo vì học sinh chưa được học tốt, mà chỉ sợ bị phát hiện và mất chức. Chính sự giả tạo và lúng túng đến mức ngớ ngẩn của ông khiến người đọc vừa buồn cười, vừa cảm thấy chua chát. Qua đó, Gogol đã khéo léo phê phán bộ máy quan liêu tha hóa và nền giáo dục hình thức thời Nga hoàng. Nhân vật viên Đốc học để lại trong em ấn tượng sâu sắc vì ông là điển hình cho kiểu người sống giả dối, chỉ lo giữ "mặt mũi", không thực tâm vì người dân.


Bạn hỏi google đi


Tên đề tài: Ảnh hưởng của mạng xã hội đến ngôn ngữ của giới trẻ Việt NamTính cấp thiết: Mạng xã hội đang thay đổi cách giới trẻ sử dụng ngôn ngữ, gây ra nhiều tranh cãi về sự trong sáng của tiếng Việt.Mục tiêu nghiên cứu: Xác định những thay đổi cụ thể trong ngôn ngữ của giới trẻ do ảnh hưởng của mạng xã hội.Câu hỏi nghiên cứu:Những từ ngữ, cách diễn đạt nào...
Đọc tiếp

Tên đề tài: Ảnh hưởng của mạng xã hội đến ngôn ngữ của giới trẻ Việt Nam

Tính cấp thiết: Mạng xã hội đang thay đổi cách giới trẻ sử dụng ngôn ngữ, gây ra nhiều tranh cãi về sự trong sáng của tiếng Việt.

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định những thay đổi cụ thể trong ngôn ngữ của giới trẻ do ảnh hưởng của mạng xã hội.

Câu hỏi nghiên cứu:

Những từ ngữ, cách diễn đạt nào được giới trẻ sử dụng phổ biến trên mạng xã hội?
Những thay đổi này ảnh hưởng như thế nào đến khả năng sử dụng tiếng Việt chuẩn mực của giới trẻ?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Học sinh THPT tại Hà Nội.

Phương pháp nghiên cứu: Khảo sát trực tuyến, phỏng vấn nhóm.

Cấu trúc dự kiến:

Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Kết quả khảo sát và phân tích
Chương 4: Thảo luận và kết luận

1
7 tháng 10 2025

lm văn hay là thuyết trình hay như nào bn

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:(1) Vấn đề nhìn nhận đánh giá đúng vị trí, vai trò của lịch sử là vô cùng quan trọng bởi vì lịch sử chính là điểm tựa của chúng ta, là nơi hội tụ, kết tinh những giá trị tinh thần vô giá của dân tộc. Lịch sử giúp cho chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng vào truyền thống anh hùng, bất khuất, mưu trí, sáng tạo...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

(1) Vấn đề nhìn nhận đánh giá đúng vị trí, vai trò của lịch sử là vô cùng quan trọng bởi vì lịch sử chính là điểm tựa của chúng ta, là nơi hội tụ, kết tinh những giá trị tinh thần vô giá của dân tộc. Lịch sử giúp cho chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng vào truyền thống anh hùng, bất khuất, mưu trí, sáng tạo của tổ tiên và hy vọng vào tiền đồ, tương lai tươi sáng của dân tộc. Chính vì vậy, tất cả chúng ta cần phải hăng hái, tự giác học lịch sử nước nhà để có thể đón nhận được những thông tin, tiếp thu được những kinh nghiệm quí báu từ xa xưa vận dụng vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Tổ quốc.

(2) Lịch sử không chỉ truyền dạy cho chúng ta nguồn gốc con Rồng, cháu Tiên mà lịch sử còn tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta, truyền lại cho chúng ta quá khứ vẻ vang của dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, thời nào đất nước ta cũng xuất hiện những nhân tài có công trị nước yên dân, xây dựng cuộc sống thanh bình, hạnh phúc. Đặc biệt là những khi Tổ quốc bị xâm lăng, từ những người nông dân áo vải bình dị đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt có lòng yêu nước nồng nàn, có tài cầm quân thao lược đánh Bắc, dẹp Nam giữ yên bờ cõi, trở thành tấm gương sáng, để lại tiếng thơm cho muôn đời.

(TS. Phạm Ngọc Trung, Học viện Báo chí và Tuyên truyền)

Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 2. Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào?  

Câu 3. Nêu nội dung chính của đoạn trích

Câu 4: Anh/chị hãy nêu vai trò của môn lịch sử trong trường THPT theo quan điểm riêng của mình.Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. 
 

1
27 tháng 9 2025
Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Đoạn trích được viết theo phong cách ngôn ngữ văn nghị luận, vì nó nêu lên một quan điểm, một lập luận về vai trò và tầm quan trọng của lịch sử, đồng thời dùng lý lẽ và dẫn chứng để thuyết phục người đọc.  Câu 2. Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận bình luận và chứng minh. Tác giả bình luận về những di sản mà lịch sử mang lại (nguồn gốc, sức mạnh) và chứng minh điều đó bằng cách dẫn chứng về những nhân tài, anh hùng hào kiệt đã xuất hiện qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.  Câu 3. Nêu nội dung chính của đoạn trích Nội dung chính của đoạn trích là khẳng định tầm quan trọng của việc học và nghiên cứu lịch sử, nhấn mạnh vai trò của nó trong việc cung cấp điểm tựa tinh thần, truyền lại quá khứ vẻ vang, tiếp thêm sức mạnh và bài học kinh nghiệm từ tổ tiên, từ đó xây dựng niềm tự hào dân tộc và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước.  Câu 4: Anh/chị hãy nêu vai trò của môn lịch sử trong trường THPT theo quan điểm riêng của mình. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. Trong trường THPT, môn Lịch sử có vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc. Nó giúp học sinh hiểu rõ cội nguồn, biết được quá khứ hào hùng của dân tộc, từ đó xây dựng ý thức trách nhiệm bảo vệ và phát triển đất nước. Môn Lịch sử cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu từ quá khứ để đối mặt với thử thách trong tương lai, hình thành cho học sinh một bản lĩnh vững vàng và nhân cách tốt đẹp. 
Lựa Chọn Đề Tài Nghiên Cứu: Tư Tưởng Nhân Đạo Trong Văn Xuôi Việt Nam Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945Đề tài “Tư tưởng nhân đạo trong văn xuôi Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945” mang tính thời sự và có nhiều dư địa để khai thác. Giai đoạn văn học này chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của văn xuôi quốc ngữ, phản ánh chân thực những biến động xã hội và tâm tư con người,...
Đọc tiếp

Lựa Chọn Đề Tài Nghiên Cứu: Tư Tưởng Nhân Đạo Trong Văn Xuôi Việt Nam Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945


Đề tài “Tư tưởng nhân đạo trong văn xuôi Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945” mang tính thời sự và có nhiều dư địa để khai thác. Giai đoạn văn học này chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của văn xuôi quốc ngữ, phản ánh chân thực những biến động xã hội và tâm tư con người, với tư tưởng nhân đạo là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt.


Đề Cương Nghiên Cứu Chi Tiết


Một đề cương nghiên cứu khoa học thường bao gồm các phần chính sau, giúp định hình rõ ràng phạm vi, mục tiêu và phương pháp tiếp cận của đề tài.


I. Đặt Vấn Đề


• Lý do chọn đề tài:

◦ Tầm quan trọng của tư tưởng nhân đạo trong việc định hình giá trị văn học và phản ánh hiện thực xã hội.

◦ Giai đoạn văn xuôi trước Cách mạng tháng Tám 1945 là một giai đoạn bản lề, đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của văn học Việt Nam, nơi các nhà văn bắt đầu đặt con người vào trung tâm sáng tạo.

◦ Nghiên cứu tư tưởng nhân đạo giúp hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn, khát vọng và sự đấu tranh của con người Việt Nam trong bối cảnh lịch sử đầy biến động.

◦ Sự ảnh hưởng và kế thừa tư tưởng nhân đạo trong văn học hiện đại.


• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

◦ Đối tượng: Tư tưởng nhân đạo được biểu hiện qua các khía cạnh: tình yêu thương, sự đồng cảm với con người, đặc biệt là những tầng lớp dưới đáy xã hội; tinh thần đấu tranh chống áp bức, bất công; đề cao giá trị, phẩm giá con người.

◦ Phạm vi: Văn xuôi Việt Nam (tiểu thuyết, truyện ngắn) từ đầu thế kỷ XX đến trước Cách mạng tháng Tám 1945. Tập trung vào các tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn lớn như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan…


• Mục đích nghiên cứu:

◦ Phân tích, làm rõ các biểu hiện và sắc thái của tư tưởng nhân đạo trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn này.

◦ Đánh giá vai trò và ý nghĩa của tư tưởng nhân đạo trong việc hình thành diện mạo văn học hiện đại.

◦ Chỉ ra sự khác biệt và kế thừa tư tưởng nhân đạo so với văn học trung đại.


• Phương pháp nghiên cứu:

◦ Phương pháp phân tích văn bản: Nghiên cứu sâu các tác phẩm văn học, phân tích ngôn ngữ, hình tượng, cốt truyện, nhân vật… để tìm ra những biểu hiện của tư tưởng nhân đạo.

◦ Phương pháp so sánh: Đối chiếu các tác phẩm, các nhà văn, hoặc so sánh với các giai đoạn văn học khác để làm nổi bật đặc điểm riêng.

◦ Phương pháp thống kê, phân loại: Sắp xếp, phân loại các biểu hiện của tư tưởng nhân đạo theo từng khía cạnh.

◦ Tham khảo các công trình nghiên cứu: Tiếp cận các bài phê bình, nghiên cứu trước đó để có cái nhìn toàn diện và định hướng sâu hơn.


• Cấu trúc bài nghiên cứu: Trình bày ngắn gọn bố cục các phần chính sẽ được triển khai.


II. Giải Quyết Vấn Đề


• Chương 1: Cơ sở lý luận và Bối cảnh lịch sử - xã hội

◦ Khái niệm “tư tưởng nhân đạo” trong văn học: Nguồn gốc, ý nghĩa.

◦ Khái quát về sự phát triển của văn xuôi quốc ngữ trước Cách mạng tháng Tám 1945.

◦ Bối cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn này: Nạn đói, áp bức, bất công, các phong trào đấu tranh,… và tác động đến văn học.


• Chương 2: Tư tưởng nhân đạo trong các tác phẩm tiêu biểu

◦ Tiểu mục 2.1: Nêu cao thân phận và số phận con người khổ đau:

◦ Phân tích hình ảnh người nông dân, người phụ nữ, người lao động nghèo trong các tác phẩm (ví dụ: Chị Dậu trong “Tắt đèn”, người vợ người mẹ trong “Lão Hạc” hay “Số phận con người”…).

◦ Lý giải sự đồng cảm, xót thương của nhà văn đối với những thân phận bi kịch.

◦ Tiểu mục 2.2: Lên án những bất công xã hội và thế lực tàn bạo:

◦ Phân tích các tệ nạn xã hội, bộ máy cai trị tàn bạo qua ngòi bút của các nhà văn (ví dụ: “Cái chết của con chó Vàng”, “Giông Tố”, “Số đỏ”…).

◦ Làm rõ tinh thần phản kháng, tố cáo tội ác của con người.

◦ Tiểu mục 2.3: Đề cao giá trị phẩm giá và khát vọng sống lương thiện:

◦ Phân tích các nhân vật dù trong hoàn cảnh cùng cực vẫn giữ gìn đạo đức, nhân phẩm (ví dụ: nhân vật Chí Phèo, Thị Nở sau khi thay đổi…).

◦ Khám phá khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp, công bằng hơn.


• Chương 3: Đóng góp và ý nghĩa của tư tưởng nhân đạo trong văn xuôi giai đoạn này

◦ Sự chuyển biến từ văn học trung đại sang văn học hiện đại về quan niệm con người.

◦ Vai trò của tư tưởng nhân đạo trong việc thức tỉnh ý thức xã hội và khơi gợi tinh thần yêu nước, đấu tranh.

◦ Ảnh hưởng của tư tưởng nhân đạo đến các giai đoạn văn học tiếp theo.


III. Kết Luận

• Tóm lược những kết quả nghiên cứu chính về tư tưởng nhân đạo trong văn xuôi Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945.

• Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tư tưởng nhân đạo trong việc làm nên chiều sâu nhân văn cho nền văn học nước nhà.

• Gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo (nếu có).


IV. Tài Liệu Tham Khảo


• Liệt kê danh mục các sách, bài báo, công trình nghiên cứu đã được sử dụng, tuân thủ quy cách trích dẫn khoa học.


Lời Khuyên Cho Quá Trình Nghiên Cứu


• Đọc kỹ và chọn lọc: Đọc nhiều tác phẩm, nhiều bài phê bình để có cái nhìn đa chiều.

• Ghi chép cẩn thận: Ghi lại các ý tưởng, dẫn chứng quan trọng và nguồn gốc tài liệu.

• Trao đổi và học hỏi: Thường xuyên trao đổi với thầy cô, bạn bè để nhận góp ý và làm rõ những vấn đề còn khúc mắc.

0
24 tháng 2 2018

Mở bài

  • Cùng với quá trình hội nhập thế giới, sự giao thoa văn hóa xã hội đòi hỏi ngôn ngữ phải có những thay đổi để đáp ứng các nhu cầu giao tiếp mới.
  • Từ khi nước ta bắt đầu hội nhập thì ngôn ngữ cũng dần dần xuất hiện những hiện tượng mới mẻ.
  • Những từ ngữ mới, cách diễn đạt mới được hình thành để thêm vào những khái niệm, ngữ nghĩa mà trong vốn tiếng Việt trước đó còn thiếu vắng. Cùng với mặt tích cực ấy, mặt tiêu cực cũng biểu hiện với không ít các cách nói, cách viết “khác lạ” trong giới trẻ làm mất đi hoàn toàn bản sắc vốn có của tiếng Việt.

Thân bài

Giải thích:

  • Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người và xã hội loài người, đảm bảo một mặt truyền đạt và hiểu biết lẫn nhau của các thành viên xã hội.
  • Ngôn ngữ không chỉ truyền đạt thông tin mà còn tác động đến nhân cách, hình thành nhân cách và biến đổi theo chiều hướng tốt hoặc xấu.
  • Ngôn ngữ không chỉ là tấm gương phản chiếu thụ động đời sống xung quanh mà còn can thiệp vào bức tranh thế giới nhân cách, vào văn hóa ngôn ngữ của nó, đặt vào nó nhãn quan thế giới, chỉnh sửa, làm biến đổi nhân cách một cách hợp lý.

Kết bài

  • Vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong giai đoạn hiện nay đã trở thành vấn đề cấp bách, cần sự chung tay của các lực lượng xã hội.
  • Chủ thể của nhận thức và hành động, giới trẻ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt trên cơ sở “kế thừa và phát huy truyền thống đi đôi với việc sáng tạo những giá trị mới phù hợp với tinh thần thời đại…”.
24 tháng 2 2018

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn chú trọng việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và giáo dục nhân dân phải làm cho tiếng nói, chữ viết ngày càng thêm đẹp, thêm phong phú, hiện đại.

Thế nhưng, hiện nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, bên cạnh tiếp thu và Việt hóa được nhiều cái hay, cái đẹp của tiếng nói, chữ viết nước ngoài, thì sự trong sáng của tiếng Việt đang bị ảnh hưởng tiêu cực. Đáng quan tâm nhất là sự lai căng tiếng nói, chữ viết của nước ngoài ngày một tăng. Dường như ngày càng có nhiều người, nhất là lớp trẻ, khi nói và viết tiếng Việt thường chen tiếng nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh. Tất nhiên, cũng phải thừa nhận rằng trong sự phát triển mau lẹ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin, nhiều thuật ngữ mới ra đời mà chưa có trong tiếng Việt, nên phải dùng những thuật ngữ bằng tiếng nước ngoài khi nói và viết tiếng Việt như Internet, trang web..., song đáng chê trách nhất vẫn là việc dùng chữ viết nước ngoài (chủ yếu là chữ Anh) thay cho chữ Việt vốn đã có sẵn, đủ nghĩa, dễ hiểu, trong sáng như show (biểu diễn), live-show (biểu diễn trực tiếp), nhạc classic (nhạc cổ điển), nhạc country (nhạc đồng quê), nhạc dance (nhạc nhảy), các fan (người hâm mộ)... một cách tự nhiên như thể đó là những từ tiếng Việt mà ai cũng hiểu. Có ý kiến ngụy biện cho rằng hiện tượng này nên khuyến khích vì đấy là một cách học và thực hành tiếng Anh, một công cụ không thể thiếu để hội nhập quốc tế. Nhưng thực ra, muốn thực hành ngoại ngữ, chúng ta hoàn toàn có thể nói, viết hẳn bằng tiếng nước ngoài mà mình học ở các lớp học ngoại ngữ, các lớp đại học dạy bằng tiếng nước ngoài, hoặc tạo cơ hội tiếp xúc với người nước ngoài ở Việt Nam. Còn khi nói và viết tiếng Việt thì tránh dùng tiếng lai, trừ trường hợp bất đắc đĩ. Các cụ xưa gọi người sính dùng chữ gốc Hán là người “hay chữ lỏng" và có câu nói “dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng”.

Hồi nước ta còn thuộc Pháp, thói quen dùng chen tiếng Pháp cũng khá phổ biến và được gọi là nói “tiếng lai”. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, phong trào cứu quốc, nâng cao tinh thần dân tộc thôi thúc sinh viên, học sinh từ bỏ cách nói chen tiếng Pháp.

Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng trước đây thường tự mình nêu gương sáng và thường nhắc nhở mọi người tránh bệnh nói chữ, sính dùng tin gốc Hán khi có thể diễn đạt bằng tiếng Việt. Ví dụ như vì sao báo chí, hay thậm chí cả trong văn bản chính thức của nhà nước, thường dùng cụm từ “người tham gia giao thông” thay cho “người đi đường"? Thực tế, người dân không bao giờ sử dụng từ “tham gia giao thông”. Người ta thường dặn dò nhau “đi đường phải cẩn thận” chứ chẳng ai nói “tham gia giao thông phải cẩn thận” bao giờ!

Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt theo tấm gương Bác Hồ, Nhà nước có quy định chặt chẽ và Viện Ngôn ngữ học phải có trách nhiệm đề xuất, xây dựng quy định chuẩn về việc dùng từ tiếng nước ngoài trong các văn bản, nhất là văn bản chính thức của Nhà nước. Các trường học cũng phải chú !tr ng, đẩy mạnh giáo dục học sinh giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Loại trừ sự lố bịch trong việc dùng tiếng lai cũng là một khía cạnh thể hiện niềm tự hào và tôn trọng ý thức dân tộc trong ngôn ngữ, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.



Đề tài: Phân tích hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945. *Đặt vấn đề:Lý do chọn đề tàiĐối tượng phạm vi nghiên cứuMục đích nghiên cứuPhương pháp nghiên cứuViết nghiên cứu *Mở đầu: Giới thiệu đề tài, lý do chọn đề tài, mục đích và phạm vi nghiên cứu. -1: Cơ sở lý luận và bối cảnh giai đoạn 1930-1945 +Khái niệm hình tượng văn học và vai trò...
Đọc tiếp

Đề tài: Phân tích hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

*Đặt vấn đề:

Lý do chọn đề tài

Đối tượng phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Viết nghiên cứu

*Mở đầu: Giới thiệu đề tài, lý do chọn đề tài, mục đích và phạm vi nghiên cứu.

-1: Cơ sở lý luận và bối cảnh giai đoạn 1930-1945

+Khái niệm hình tượng văn học và vai trò của hình tượng người phụ nữ trong văn học.

+Bối cảnh xã hội, văn hóa và tư tưởng giai đoạn 1930-1945 (những ảnh hưởng đến văn học và quan niệm về phụ nữ).

-2: Hình tượng người phụ nữ trong các sáng tác tiêu biểu

+Hình tượng người phụ nữ bi kịch, đau khổ (ví dụ: nhân vật của Nam Cao).

+Hình tượng người phụ nữ với khát vọng đổi đời, tìm kiếm sự giải phóng (ví dụ: nhân vật của Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam).

+Phân tích sự đa dạng trong cách khai thác: từ thân phận nô lệ đến những nét tính cách mới.

-3: Đánh giá và những đóng góp của văn học giai đoạn 1930-1945

+Giá trị nhân văn trong việc khắc họa thân phận người phụ nữ.

+Sự thể hiện những trăn trở, đấu tranh và khát vọng của người phụ nữ trong xã hội.

+Đóng góp của hình tượng người phụ nữ vào sự phát triển của văn học hiện đại Việt Nam.

Kết luận: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu, khẳng định ý nghĩa của đề tài.

Tài liệu tham khảo: Liệt kê các sách, bài báo, công trình đã sử dụng.

0
4 tháng 10 2025

Trong một thế giới nơi mọi giá trị đều có thể bị thay thế, và mọi chân lý đều có thể bị diễn giải lại, liệu niềm tin còn có thể là thật, hay nó chỉ là một ảo tưởng đẹp mà con người tự tạo ra để không sụp đổ?

Hãy viết một bài nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về bản chất của niềm tin trong thời đại mất phương hướng.

PLS PLS PLS !!!


5 tháng 7 2016

Hãy kể ra 2 từ láy 3 từ tả tính chất của sự vật

long lanh, mỏng manh, lung linh,...(cái cây này thật là lung linh huyền ảo, đôi mắt này thật long lanh,...)

Hãy kể ra 2 từ láy 4 từ tả thái độ của con người 

nhí nhảnh, nhóp nhép, nhũn nhặn, hồng hộc,hờ hững, minh mẫn,....( con bé kia thật nhí nhảnh, em tồi làm việc rất hờ hững,...)

Hãy kể ra 2 từ láy 4 từ tả cảnh thiên nhiên

mênh mông, mịn màng, mịt mờ, mù mịt,....( Nước biển mênh mông đại hải, cát chạy dọc theo bờ biển đến nỗi mịn màng luôn cả nước,....)