K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

17 tháng 2 2022

Phần lớn là đất đỏ bazan; thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp như chè, cà phê,...

17 tháng 2 2022

Diện tích đất chủ yếu là đất đỏ bazan, tầng phong hoá dày, địa hình lượn sóng nhẹ tạo thành các cao nguyên đất đỏ như cao nguyên Buôn Ma Thuột, Plâycu, Đăk Nông, Kon Tum chiếm diện tích khoảng 1 triệu ha, thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây cao su, cà phê,chè, hồ tiêu, điều

 

17 tháng 2 2022

bạn có thể xem thêm tại ây : https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%AFk_L%E1%BA%AFk

17 tháng 2 2022

Tham Khảo:

 

I. Vị trí địa lý
Huyện Lăk là một huyện miền núi, nằm phía nam dãy trường sơn, phía Đông Nam của Tỉnh Đắk Lắk, cách Thành phố Buôn Ma Thuột 54 km theo quốc lộ 27, tổng diện tích tự nhiên là 1.256 km2 dân số 61.599 người, mật độ dân số 49 người/1km2 (tính đến năm 2011) bao gồm 11 đơn vị hành chính xã (gồm: thị trấn Liên Sơn, các xã: Yang Tao, Bông Krang, Đăk Liêng, Đăk Phơi, Đăk Nuê, Buôn Tría, Buôn Triêk, Krông Knô, Nam Ka và Ea Rbin; ranh giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Krông Ana và Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk
- Phía Tây giáp huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông
- Phía Nam giáp huyện Đam Rông và Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
- Phía Đông giáp huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.
II. Địa hình, địa mạo
a) Địa hình: Trên địa bàn huyện Lắk có núi, cao nguyên thung lũng, sông suối và các đầm hồ.
+  Núi cao: Hình thành do dãy Chư Yang Sin chạy dài từ Đông Bắc xuống Tây Nam bao bọc, độ cao trung bình từ 800 - 1.000m so với mặt nước biển, độ dốc trung bình 20 - 250, thấp dần từ Đông sang Tây, những đỉnh núi cao trên 1.000m tập trung hầu hết ở phía Đông như đỉnh Chư Pan Phan cao 1.928 m, đỉnh Chư Drung Yang cao 1.802 m. Loại địa hình này phân bố ở hầu hết các xã tạo nên mái nhà ngang qua huyện dốc về phía Bắc (lưu vực sông Krông Ana) và phía Nam (lưu vực sông Krông Knô). Địa hình này chủ yếu là rừng. Khó bố trí tưới tự chảy nhưng dễ bố trí hồ chứa tạo nguồn cung cấp nước cho vùng.
+ Vùng trũng ven sông: Được tạo bởi phù sa trên núi và phù sa sông Krông Knô, Krông Ana. Địa hình vùng trũng phân bố chủ yếu phía Tây Bắc ở các xã Buôn Triết, Buôn Tría, Đăk Liêng, Ea Rbin, vùng có độ dốc trung bình từ 3 - 80, độ cao trung bình 400 - 500 m, tương đối bằng phẳng, chủ yếu trồng lúa và thường bị ngập vào mùa lũ. Đây là vùng lúa chủ lực của huyện cũng như của tỉnh Đắk Lắk.
+ Vùng trũng ven suối: Do phù sa các suối tạo thành, tập trung chủ yếu ở phần hạ lưu ven các suối Đăk Phơi, Đăk Păk. Phân bố ở các xã Yang Tao, Bông Krang, TT. Liên Sơn, Đăk Phơi, Đăk Nuê.
+ Vùng bình nguyên đồi thấp: Phân bố rải rác trên các xã và ven sông Krông Knô ở các xã Nam Ka, Krông Knô.
b) Khí hậu:
Huyện Lăk nằm phía đông Trường Sơn, giữa Cao nguyên Buôn Ma Thuột và vùng núi Chư Jang Sin, chịu ảnh hưởng chế độ khí hậu gió mùa Tây Nam và mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm và đặc thù của thung lũng, mỗi năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10 tập trung trên 94% lượng mưa hàng năm; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, lượng mưa không đáng kể, trong đó tháng 2 hầu như không mưa, lượng mưa trung bình thấp hơn so với các vùng xung quanh với lượng mưa từ 1.800-1.900mm, do bị che khuất bởi khối núi Chư Jang Sin ở phía Đông Nam. Riêng chế độ mưa ở các xã phía Tây Nam huyện có lượng mưa từ 1.900mm - 2.100mm, cao hơn so với các địa bàn khác trên huyện. Với đặc điểm khí hậu mang đậm đặc điểm của khí hậu Tây Trường Sơn rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp.
c) Tài nguyên:
+ Tài nguyên đất  
 Theo kết quả phân loại đất năm 2005 (FAO-UNESCO), huyện Lắk có các nhóm đất chính sau:
- Nhóm đất đỏ (Ferrasols) Được hình thành trên đá mẹ basalt và phiến sét. Nhóm đất này có các loại đất sau:
- Đất nâu đỏ trên đá Basalt (Fk) và Đất nâu vàng trên đá Basalt (Fu): Diện tích 1.571 ha chiếm 1,26% diện tích tự nhiên; độ dốc 3 - 50, tầng dày > 70 cm, đất tơi xốp giàu dinh dưỡng thích hợp cho các loại cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả. Phân bổ chủ yếu ở xã Đắk Phơi và rải rác ở thị trấn Liên Sơn.
- Đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs): tổng diện tích 44.425ha chiếm 35,37%. Đất thịt nặng đến cát pha, khả năng thấm, giữ nước kém; về mùa khô bị chai rắn, chia cắt mạnh, độ dốc 3 - 200 nghèo chất dinh dưỡng và tầng mỏng. Phân bổ ở các xã Buôn Tría, Buôn Triếk Đăk Phơi, Nam Ka, Ea Rbin.
- Đất đỏ vàng trên đá Granite (Fa): tổng diện tích 51.799ha chiếm 41,24%. Đất thịt nặng đến cát pha, tỷ lệ sét tương đối, chia cắt mạnh, độ dốc 8 - 300 nghèo chất dinh dưỡng và tầng mỏng. Phân bổ ở vùng Chư Yang Sin, Bông Krang, Krông Knô, Nam Ka, Ea Rbin.
- Nhóm đất xám (Acrisols) Phát triển trên đá mẹ Granite và các trầm tích hỗn hợp Mezozoi, phân bố tại vùng địa hình đồi thấp, độ dày tầng đất trung bình và không giàu dinh dưỡng lắm, một số bị xói mòn tầng mặt, thoái hoá và lẫn đá mẹ, tổng diện tích 5.195ha chiếm 4,13% diện tích tự nhiên. Phân bổ chủ yếu ở xã Đắk Liêng.
- Nhóm đất Gley (Gleysols) nhóm đất dốc tụ, gley hóa với 3.369 ha, chiếm 2,68% diện tích tự nhiên. Phân bố rải rác ven sông suối, được hình thành bởi quá trình bào mòn vận chuyển vật chất từ cao xuống thấp, bị ngập nước nên gley hoá, đất bị kết von. Đất khá giàu mùn hữu cơ, đất thịt nhẹ có độ phì cao, ít dốc, ít thoát nước thích hợp cho phát triển lúa nước, trồng cây lương thực. Phân bố vùng ngập nước thị trấn Liên Sơn, xã Yang Tao.
- Nhóm đất Phù sa hình thành do quá trình bồi lắng phù sa sông suối ven sông Krông Ana và Krông Nô, giàu dinh dưỡng, thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng, tầng dày, cho ưu thế phát triển lúa nước, mía và rau quả, diện tích 19.245ha, chiếm 15,32% diện tích tự nhiên. Phân bố rải rác ven sông các xã Đắk Liêng; Yang Tao; Đắk Phơi; Ea Rbin, Nam Ka; Tây hồ Lắk.
- Đặc điểm tự nhiên của huyện Lắk có núi cao, sông lớn và đặc biệt là hồ Lắk là hồ tự nhiên lớn nhất Đông Nam Á, rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp đặc biệt là phát triển du lịch.
+ Tài nguyên rừng
Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi huyện Lắk có hệ tài nguyên rừng và động thực vật phong phú. Rừng huyện Lăk phong phú và đa dạng, có tác dụng phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc hữu vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn. Do đó rừng ngoài vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai...lại là nơi mang nhiều bí ẩn cho khám phá, nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái với nhiều loại động thực vật quý hiếm. Tiêu biểu là Vườn Quốc gia Chư Yang Sin thuộc hệ sinh thái núi cao, trải dài sang tận tỉnh Lâm Đồng rộng 58.947 ha là vùng giàu tài nguyên thiên nhiên, có tính đa dạng sinh học cao bao gồm 876 loài thực vật bậc cao có mao mạch (trong đó 54 loài ghi trong sách đỏ, 143 loài đặc hữu), 203 loài chim (có 9 loại trong sách đỏ thế giới và Việt Nam), 46 loài thú lớn (có 12 loài sách đỏ), 29 loài bò sát lưỡng cư (trong đó 11 loài ghi trong sách đỏ)... ngoài ra còn có trữ lượng lâm sản rất lớn.
+ Tài nguyên nước
Nguồn nước của huyện Lăk khá dồi dào, lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.800-1.900mm đã được tiếp nhận và dự trữ từ các sông suối và nhiều hồ chứa. Hai nhánh sông chính Krông Nô, Krông Ana cùng hệ thống sông suối khe nhỏ dày đặc đổ về dòng Sêrêpôk góp phần lớn vào tổng lượng dòng chảy của các con sông này trên 8 tỷ m3/năm. Ngoài ra, nguồn nước mặt còn được dự trữ ở hệ thống các hồ chứa như hồ Lăk, hồ Buôn Triêk, Hồ Buôn Triă, và hồ Buôn Tua Srah, các hồ này có diện tích bề mặt lớn giữ nước quanh năm.
Với đặc điểm tự nhiên, hệ thống sông ngòi rầy đặc kết hợp với địa hình địa mạo thuận lợi huyện Lắk có rất nhiều tiềm năng phát triển thủy điện kết hợp với tích chứa nước vào mùa khô đảm bảo đủ nước sản xuất nông nghiệp vào mùa khô và phòng chống lũ lụt vào mùa mưa, đảm bảo cho quá trình phát triển kinh tế bền vững.
+ Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn huyện có lượng tài nguyên khoáng sản lớn và phong phú. Tuy nhiên để khai thác sử dụng hiệu quả kết hợp với bảo vệ hệ sinh thái đòi hỏi huyện Lắk cần đầu tư quản lý, giám sát việc khai thác chặt chẽ và hợp lý. Trên địa bàn huyện có một số tài nguyên khoáng sản chính như sau:
- Khoáng Thiếc: Thiếc gốc (khoáng hóa thiếc gốc) tại khe suối thuộc suối lớn Đăk Mray - Tây Bắc dãy núi Youk Mao Yang Ho. Vành phân tán khoáng vật cassiterit: Ở Đăk Phơi có vành phân tán thiếc có triển vọng nhưng diện tích của vành chỉ chiếm 1 - 2 km2, hàm lượng cassiterit (SnO2) đạt 33 - 165 g/m3. Tại thượng nguồn Đăk Phơi, phát hiện vành phân tán bậc I của thiếc rộng 5 km, dài gần 20 km, trùm lên thung lũng suối Ya Hieo, Ea Poi, thượng nguồn Đăk Phơi. Sự có mặt của vành phân tán là dấu hiệu gián tiếp để tìm kiếm quặng thiếc gốc.
- Biểu hiện vàng gốc: Kết quả phát hiện 6 vị trí lấy mẫu có khoáng hoá vàng tại xã Krông Knô và Đăk Phơi, hầu hết là các mạch thạch anh có sulfur chứa vàng, hàm lượng vàng chưa đạt được 1g/tấn; không có giá trị công nghiệp.
- Sét gạch ngói: Hiện nay trên địa bàn có 2 điểm sản xuất gạch ngói:
+ Điểm sét Buôn Đông Yang - xã Yang Tao thuộc trầm tích Đệ tứ, xung quanh thung lũng là đá Granit. Chất lượng sét có chứa kaolin. Thung lũng chứa sét rộng khoảng 4 km, chiều dày khai thác trung bình 1 m, trữ lượng dự báo 4 triệu m3, là vùng trồng lúa nước do đó việc khai thác sét rất khó khăn.
+ Điểm sét Buôn Triêk, sét màu nâu, chiều dày khai thác 1,5 m. Sét ở đây do đá bột kết, phiến sét phong hóa đưa xuống trầm tích ở thung lũng.
Về tiềm năng huyện Lăk có bồn sét lớn dọc sông Krông Ana, sét trầm tích Holosen (aQIV2-3) có chất lượng loại tốt để sản xuất gạch ngói. Chiều dài bồn sét 15 km, rộng trung bình 2 km, chiều dày khai thác ít nhất 2m. Dự đoán trữ lượng sét cấp P (sét có điều kiện khai thác tốt) là 60 triệu m3. Sau khai thác vẫn có thể xây dựng đồng ruộng canh tác lúa nước.
- Đá granit: Đá granodiorit, granit cấu thành các khối núi Chư Ya Trang, Chư Yang Reh. Thành phần chủ yếu là hạt lớn dạng khối. Trữ lượng dự báo cấp P khoảng 5 - 7 km2 ; chiều dày khai thác 10m, ước tính trữ lượng 50 - 70 triệu m3.
Tóm lại, tiềm năng khoáng sản lớn nhất của huyện Lăk là sét gạch ngói và đá xây dựng.​
17 tháng 2 2022

thừa nhiều, chọn ra những ý chính thôi nhé

17 tháng 2 2022

Phần lớn là đất đỏ bazan; thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp như chè, cà phê,...

Tham khảo:

1/ Phân bố tập trung  các khu vực thấp trũng thuộc các huyện Lắk, Krông Ana và Krông Bông. - Nhóm đất xám (Acrisols): Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt tại Đắk Lắkphân bố ở hầu hết các huyện. - Nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan)

 

 

18 tháng 2 2022

- Các động vật hoang dã ở Đắk Lắk: nai cà tong, voi, bò xám, bo rừng, hươu vàng, hươu đầm lầy, cheo cheo, trĩ sao, gà lôi hông tía, cao cát, chim đuôi cụt,....

- Mối quan hệ giữa thực vật và động vật:

   + Thực vật quang hợp, cung cấp oxi, điều hòa khí hậu, là nguồn thức ăn cho động vật, là nơi ở, nguồn sống cho các sinh vật giúp động vật sinh trưởng và phát triển. Động vật còn là thức ăn của thực vật trong một số trường hợp ( cây bắt ruồi, cây nắp ấp,... ), ngoài ra động vật còn giúp cho việc thụ phấn của thực vật.
   + Động vật giúp kìm hãm sự phát triển của thực vật, chất thải do động vật thải ra sẽ là nguồn thức ăn cho thực vật.
- Mối quan hệ giữa sinh vật và các thành phần tự nhiên khác ( khí hậu, đất,... )

 
26 tháng 1 2022

địa hình thế nào mà như vậy

26 tháng 1 2022

Tham khảo:

Đắk Lắk  là một tỉnh có diện tích lớn thứ 4 nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, miền Trung Việt Nam.

Năm 2019, Đắk Lắk là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 10 về số dân, xếp thứ 22 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 41 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 37 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với 1,87 triệu người dân[3], số liệu kinh tế - xã hội thống kê GRDP đạt 78.686 tỉ Đồng (tương ứng với 3,4175 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 41,00 triệu đồng (tương ứng với 1.781 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,82%.[4]

Tỉnh lỵ của Đắk Lắk là thành phố Buôn Ma Thuột, nằm cách Hà Nội 1.410 km, cách thành phố Đà Nẵng 520 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km. Ngày 26 tháng 11 năm 2003, tách tỉnh Đăk Lăk thành hai tỉnh là Đăk Lăk và Đăk Nông[5]. Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại được thế giới công nhận.

25 tháng 2 2022

tham khảo

sinh vật  của TP. Hồ Chí Minh

+Rừng của Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu tập trung ở huyện Cần Giờ, đây là rừng ngập mặn ven biển. Năm 2002, cả thành phố còn 33,5 nghìn ha rừng, trong đó có 10,2 nghìn ha rừng tự nhiên và 23,3 nghìn ha rừng trồng.

+ Trong những năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận đã dầu tư phục hồi trên 33 nghìn ha rừng ngập mặn ở khu vực Cần Giờ - Thị Vải. Hiện nay khu vực này đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.

+Thành phố Hồ Chí Minh giáp biển ở phía huyện Cần Giờ. Nguồn thủy sản ở đây khá phong phú, giàu cả tầng cá nổi lẫn tầng cá đáy và gần đáy. Những loài cá phổ biến là cá chìa vôi, cá chẻm, cá măng, cá đao,…

+ Động vật ở trên cạn, nhìn chung nghèo nàn. Có giá trị hơn cả là vườn chim Thủ Đức, có ý nghĩa phục vụ cho phát triển du lịch.

Khoáng sản của TP. Hồ Chí Minh:

Thành phố Hồ Chí Minh nghèo khoáng sản. Trên địa bàn thành phố chủ yếu có vật liệu xây dựng (như sét gạch ngói, cát, sỏi,…), nguyên liệu cho gốm sứ, chất trợ dung và một ít than bùn. Các loại khoáng sản này chỉ có thể đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu của thành phố.

26 tháng 2 2022

mình cũng ko biết

8 tháng 5 2016

a, Sông

Sông là dòng chảy thường xuyên tương đối ổn định trên bề mặt lục địa

Hệ thống sông gồm : sông chính, sông phụ, chi lưu

Lưu vực sông: Vùng đất cung cấp nước cho sông

Lưu lượng là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở một địa điểm trong thời gian 1 giây ( m3/s )

Nhịp điệu thay đổi lưu lượng của con sông trong một năm làm thành thủy chế ( chế độ nước của sông )

Lưu vực nhỏ thì lượng nước ít

Lưu vực lớn thì lượng nước nhiều 

_ Khó khăn của sông: + mùa lũ gây ra lũ lụt

_ Biện pháp : + Đắp đê ngăn lũ

+ Dự báo lũ, lụt chính xác và từ xa

+ Có hệ thống xã lũ nhanh chóng

b, Hồ

Là những khoảng nước đọng tương đối rộng và sâu trong đất liền 

Phân loại :

- Theo tính chất có 2 loại hồ:

+ Hồ nước mặn

+ Hồ nước ngọt

- Theo nguồn gốc hồ :

+ Hồ vết tích của các khúc sông

+ Hồ miệng núi lửa 

+ Hồ nhân tạo

c, Thủy triều 

Là hiện tượng dao động thường xuyên và có chu kì của các khối nước trong biển và đại dương.

Thực chất thủy triều mang tính chất như một dao động sóng nên cũng có thể nói :"Thủy triều là một sóng dài và phức tạp" 

_ Nguyên nhân gây ra thủy triều :

+ Do sức hút của Mặt trăng, Mặt trời với Trái Đất

+ Ngoài ra thủy triều còn có thể sinh ra do điều kiện khí tượng ( khí áp ), gọi là khí triều hoặc địa chất ( dao động của vỏ Trái Đất ) gọi là địa triều 

 

 

 

 

 

 

27 tháng 3 2017
Sông Hồ Sóng biển Thủy triều Dòng biển
Khái niệm - Là dòng chảy tương đối thường xuyên trên bề mặt lục địa. - Là một lượng nước khá lớn được đọng lại trên bề mặt lục địa. - Là một trong các hình thức dao động của nước biển theo chiều thẳng đứng. - Là hiện tượng các khối nước dao động thường xuyên, có chu kỳ trong các vùng biển và đại dương. - Là hiện tượng chuyển động của lớp nước biển trên bề mặt tạo thành các dòng chảy trên biển và đại dương.